TUẦN BÁT NHẬT CHUẨN BỊ LỄ GIÁNG SINH – TRUYỀN TIN CHO DACARIA.
“THIÊN THẦN GABRIEL BÁO TRƯỚC VIỆC GIOAN TẨY GIẢ SINH RA”.
BÀI ĐỌC I: Tl 13, 2-7. 24-25a
“Thiên thần báo trước việc Samson sinh ra”.
Bài trích sách Thủ Lãnh.
Ngày ấy, có một người đàn ông, bởi đất Sara và thuộc chi họ Đan, tên là Manuel, có người vợ son sẻ. Thiên thần Chúa hiện ra nói với bà ấy rằng: “Ngươi son sẻ không con, nhưng sẽ được thụ thai, và hạ sinh một con trai. Vậy ngươi hãy cẩn thận, đừng uống rượu và thức có men, cũng đừng ăn món gì không thanh sạch. Vì ngươi sẽ được thụ thai và hạ sinh một con trai. Lưỡi dao cạo sẽ không chạm đến đầu nó; nó là người được hiến dâng cho Thiên Chúa từ thuở nhỏ và từ lòng mẹ; chính nó sẽ bắt đầu giải phóng Israel khỏi tay người Philitinh”.
Bà này đi nói với chồng rằng: “Có một người của Thiên Chúa đến cùng tôi, với diện mạo thiên thần, rất đáng sợ. Tôi hỏi người ấy là ai, bởi đâu đến, gọi tên gì, người ấy không muốn nói cho tôi biết, nhưng lại trả lời rằng: “Rồi đây, ngươi sẽ được thụ thai và hạ sinh một con trai. Hãy cẩn thận, đừng uống rượu và thức có men, cũng đừng ăn món gì không thanh sạch. Vì con trẻ sẽ là người được hiến dâng cho Thiên Chúa từ thuở nhỏ và từ lòng mẹ, cho đến ngày nó chết”.
Bà đã hạ sinh một con trai, và gọi tên là Samson. Hài nhi lớn lên, và Chúa đã chúc phúc cho nó. Và thần trí Chúa bắt đầu ở với nó.
Đó là lời Chúa.
BÀI TIN MỪNG: Lc 1, 5-25
“Thiên thần Gabriel báo trước việc Gioan Tẩy Giả sinh ra”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Vào thời Hêrôđê làm vua xứ Giuđêa, có một tư tế tên là Dacaria, thuộc phiên ban Abia, và vợ ông bởi dòng dõi Aaron, tên là Elisabéth. Cả hai là người công chính trước mặt Thiên Chúa, ăn ở theo mọi giới răn và lề luật của Chúa, không ai trách được điều gì. Nhưng họ lại không con, vì Elisabéth son sẻ, và cả hai đã đến tuổi già.
Xảy ra khi Dacaria chu toàn chức vụ tư tế trước mặt Thiên Chúa, theo lượt của phiên mình như tục lệ hàng tư tế,- ông bắt thăm và trúng việc vào cung thánh Chúa mà dâng hương, -đang lúc toàn thể đám đông dân chúng cầu nguyện bên ngoài, trong giờ dâng hương. Bấy giờ thiên thần Chúa hiện ra cùng ông, đứng bên phải hương án. Dacaria thấy vậy (thì) hoảng hốt, sự kinh hoàng đột nhập vào ông.
Nhưng thiên thần nói với ông rằng: “Dacaria, đừng sợ, vì lời ngươi cầu nguyện đã được nhậm rồi. Elisabéth vợ ngươi sẽ hạ sinh cho ngươi một con trai, và ngươi sẽ gọi tên con trẻ là Gioan. Ngươi sẽ được vui mừng hân hoan, và nhiều người cũng sẽ vui mừng vì việc trẻ sinh ra. Vì trẻ này sẽ nên cao trọng trước mặt Chúa, sẽ không uống rượu và thức có men, sẽ được tràn đầy Thánh Thần ngay từ lòng mẹ, sẽ đem nhiều con cái Israel trở về cùng Chúa là Thiên Chúa. Trẻ này sẽ đi trước Người, trong thần trí và quyền lực của Elia, để hướng lòng dạ cha ông về với con cháu, kẻ ngỗ nghịch về lại với lương tri của những người công chính, dọn cho Chúa một đoàn dân chuẩn bị”.
Dacaria thưa với thiên thần rằng: “Làm sao tôi biết được, vì tôi đây đã già, và vợ tôi cũng đã cao niên?” Thiên thần liền đáp: “Ta là Gabriel, ta đứng chầu trước mặt Thiên Chúa, ta được sai đến nói với ngươi, và báo cho ngươi tin lành này. Thì đây, ngươi sẽ nín câm và không nói được cho đến ngày các điều ấy xảy ra, bởi vì ngươi đã không tin lời ta, là những lời sẽ nên trọng khi đến thời của chúng”.
Dân chúng đang trông đợi Dacaria, lấy làm lạ vì ông ở lâu trong cung thánh. Nhưng lúc ra, ông không nói được, và họ biết ông đã thấy điềm lạ trong cung thánh. Còn ông thì chỉ làm hiệu cho họ, và vẫn bị câm. Khi những ngày thánh vụ của ông đã mãn, ông trở về nhà.
Sau những ngày ấy, Elisabéth vợ ông thụ thai, và bà ẩn mình trong năm tháng, bà nói rằng: “Chúa đã làm cho tôi thế này, trong những ngày Người đoái thương, cất nỗi khổ nhục tôi khỏi người đời”.
Đó là lời Chúa.
___________________________
SUY NIỆM & CHIA SẺ:
LƯỚT QUA CÁC BÀI ĐỌC:
Gần đến lễ Giáng Sinh, phụng vụ lời Chúa giới thiệu cho chúng ta những biến cố thụ thai lạ lùng. Đó là:
1/. Thụ thai Thủ lĩnh Samson (Trong Bài đọc I).
2/. Thụ thai Gioan Tiền hô (Trong Bài Tin mừng)
TRONG BÀI ĐỌC I trích sách Thủ Lãnh, tác giả thuật lại câu chuyện của vợ ông bà Manuel. Bà này tủi nhục vì thân phận son sẻ của mình. Thiên Chúa đã đoái thương đến cảnh khổ của bà nên sai sứ thần đến báo tin bà sẽ mang thai.
Sứ thần cho bà biết thai này không phải do khả năng của con người, nhưng hoàn toàn do Thiên Chúa muốn ban cho vợ chồng bà: “Này, bà là người son sẻ và sẽ không sinh con, nhưng bà sẽ có thai và sinh một con trai”. Sứ thần còn cho biết sứ mạng của đứa bé này là “sẽ cứu dân Israel khỏi tay người Philitinh”.
Để Thần Khí của Đức Chúa có thể ở với nó, để nó có thể cứu dân mình, thì phải tuân theo một số nguyên tắc:
+ Không được uống thức có men,
+ không được ăn những thứ không thanh sạch, không được cạo râu, hớt tóc…
Điều này nghĩa là một người được thánh hiến cho Thiên Chúa để có thể thi hành sứ mạng Ngài trao thì phải tuân giữ những kỷ luật rất khắt khe. Đứa bé đó chính là Samson.
Con trẻ sẽ là một Nazirite của Thiên Chúa từ lòng mẹ. Chính nó sẽ bắt đầu cứu Israel khỏi tay người Philitinh.”
NAZIRITE: là người được dành riêng và thánh hiến đặc biệt cho Thiên Chúa,
Lời thề của người Nazarite bao gồm 3 điều:
(1) không được uống rượu và thức uống mạnh;
(2) không được cắt tóc trong suốt thời gian thề hứa; và
(3) không được tiếp xúc với xác chết.
Khi thời gian thánh hiến hết, người Nazarite phải đến cửa đền thờ để dâng lễ vật như được mô tả bởi các tư tế. Sau đó, ông phải cắt tóc và quăng vào lửa khi thầy tư tế dâng lễ vật giao hòa.
Nhờ cha mẹ và bản thân Samson tuân giữ đúng theo lệnh truyền của Đức Chúa, nên chàng đã có một sức mạnh phi thường. Tuy nhiên chính lúc Samson vi phạm lời thề Nazarite (cắt tóc), thì chàng đã mất tất cả.
Nhờ biết hối lỗi và nhớ đến sứ mạng của mình, nên Samson đã cầu nguyện với Chúa ban cho mình cơ hội cuối cùng để đoái công chuộc tội. Quả thật Thiên Chúa đã nhậm lời ông để ban cho ông có lại sức mạnh lần cuối cùng để tiêu diệt quân Philitinh.
TRONG BÀI TIN MỪNG theo thánh Luca, thuật lại câu chuyện của vợ chồng ông bà Dacaria. Vốn là tư tế, nhưng vợ chồng ông vẫn mang cảnh tủi nhục vì son sẻ (không có con).
Nhưng nhờ lời cầu nguyện tha thiết của hai ông bà, nên Thiên Chúa đã đoái thương đến gia đình ông trong một lần ông được vào gian cực thánh để dâng lễ vật cho Thiên Chúa. Cũng vậy sứ thần báo cho ông biết về sự mang thai lạ lùng của vợ ông, cũng như sứ mạng của đứa bé và điều kiện để đứa bé này có thể thi hành sứ mạng của mình, đứa bé đó chính là Gioan Tiền hô.
Qua hai câu chuyện về những đứa bé được sinh ra một cách khác thường, chúng ta thấy được Thiên Chúa luôn muốn cất khỏi sự tủi nhục cho những người tin tưởng vào Chúa. Đồng thời, còn cho những đứa bé này trở thành những nhân vật có tầm ảnh hưởng trong lịch sử dân tộc của nó.
Quan trọng hơn cả là Thiên Chúa muốn báo cho nhân loại về một Đấng sẽ cứu cả nhân loại chứ không phải chỉ một dân tộc nào; một Đấng sẽ cất khỏi mặt đất sự tủi nhục của dân người.
Mỗi người chúng ta được sinh ra cũng là một sự kỳ diệu. Chính vì vậy chúng ta phải luôn biết ơn Chúa.
Thiên Chúa cũng muốn trao cho mỗi người một sứ mạng quan trọng. Vì vậy mỗi người phải có những nguyên tắc để cuộc sống của họ được gắn bó với Chúa, hầu có thể thi hành sứ mạng Chúa trao. Để giữ nguyên tắc đó đòi hỏi con người phải có kỷ luật khắt khe để tránh cho mình bị “ô nhiễm” bởi những điều bất xứng.
________________________________
ĐI VÀO BÀI TIN MỪNG:
“Thời vua Hê-rô-đê cai trị miền Giu-đê, có một vị tư tế thuộc nhóm A-vi-gia, tên là Da-ca-ri-a; vợ ông là Ê-li-sa-bét cũng thuộc dòng tộc tư tế A-ha-ron.”
Sự kiện Sứ thần truyền tin cho ông Dacaria trong Đền thờ là sự kiện mở đầu, tiếp đó sẽ xảy ra các sự kiện khác cách tuần tự trong Tuần Bát nhật chuẩn bị Lễ Giáng sinh: Biến cố truyền tin cho Maria; Bà Maria đi thăm bà Elisabeth, Gioan Tiền hô sinh ra, và Đức Giêsu Giáng sinh…. Biến cố truyền tin cho Dacaria là sự kiện cuối cùng của Cựu ước và chuẩn bị bước sang thời Tân ước.
THỜI VUA HÊ-RÔ-ĐÊ CAI TRỊ MIỀN GIU-ĐÊ
Luca viết: “Thời vua Hê-rô-đê cai trị miền Giu-đê”, có nghĩa Luca xác định thời gian xảy ra biến cố truyền tin cho Dacaria, đó là cái mốc lịch sử. Đây là phong cách của Luca. Nên nhớ Hêrôđê ở đây là Hêrôđê Cả, người đã giết các hài nhi liên quan đến việc Hài nhi Giêsu sinh ra, và là cha của Hêrôđê Antipas, kẻ chém đầu Gioan Tẩy Giả. Hêrôđê Cả thì tìm giết Chúa Giêsu, còn Hêrôđê con lại chém đầu vị Tiền hô cho Chúa Giêsu. Thật là một bi kịch lịch sử.
“có một vị tư tế thuộc nhóm A-vi-gia, tên là Da-ca-ri-a; vợ ông là Ê-li-sa-bét cũng thuộc dòng tộc tư tế A-ha-ron.” Luca xác định hai ông bà Dacaria và Êlisabeth đều thuộc dòng Tư tế Aharon, như vậy cuộc hôn nhân của 02 ông bà thuộc loại môn đăng hộ đối, cả hai ông bà đều là Tư tế. Ông Dacaria là vị tư tế thuộc nhóm Avigia. Ta cũng nên biết sơ qua nhóm tư tế này.
TƯ TẾ THUỘC NHÓM A-VI-GIA
Như ta biết, nước Do Thái thời Đức Giêsu, giới Tư tế được phân thành các cấp sau đây:
– THƯỢNG TẾ: Đứng đầu giới tư tế là vị thượng tế. Vị này đứng đầu Thượng Hội Đồng và được coi như thủ lãnh của dân. Chỉ mình vị Thượng tế mới được vào Nơi Cực Thánh mỗi năm một lần để dâng lễ xá tội cho dân (Dt 9,7)
– TƯ TẾ: Có khoảng 7.200 tư tế trong cả nước, chia thành 24 nhóm thay phiên nhau phục vụ trong Đền thờ, trong đó có nhóm Avigia.
– THẦY LÊ-VI: có khoảng 10.000 thầy, có nhiệm vụ đàn hát, giữ cửa, bảo quản và bảo vệ đền thờ.
Dacaria thuộc cấp thứ hai (Tư tế), và nhóm Avigia của ông là một trong 24 nhóm Tư tế.
“Cả hai ông bà đều là người công chính trước mặt Thiên Chúa, sống đúng theo mọi điều răn và mệnh lệnh của Chúa, không ai chê trách được điều gì. Nhưng họ lại không có con, vì bà Ê-li-sa-bét là người hiếm hoi. Vả lại, cả hai đều đã cao niên.”
Hai ông bà Da-ca-ri-a và Ê-li-sa-bét quả là một cặp vợ chồng gương mẫu: họ sống “công chính trước mặt Thiên Chúa;” còn trước mặt mọi người thì “không ai chê trách điều gì” và chắc hẳn được mọi người thương mến.
Thế nhưng điều đáng buồn là “họ lại không có con”. Có lẽ hai ông bà đã tìm đủ mọi phương thế, nhưng sự son sẻ vẫn đeo đẳng mà họ thì đã cao niên. Nỗi đau thầm kín của bà Ê-li-sa-bét khi những năm tháng tuổi thanh xuân lần lượt trôi đi, những bước chân trĩu nặng của ông tư tế già Da-ca-ri-a trước những con mắt soi mói của người đời như xác nhận rằng sự hiếm muộn là dấu chỉ Gia-vê trừng phạt một tội lỗi nào đó của họ. Nhưng trước cảnh tưởng chừng như bất lực và vô vọng của con người, Thiên Chúa có chương trình riêng của Ngài, đã làm cho ông bà sinh hoa trái trong tuổi về chiều già nua. Một con trẻ làm cho nhiều người được hỉ hoan, một con trẻ đầy tràn thần khí và quyền năng của Thiên Chúa.
“Sau đây là chuyện xảy ra trong lúc ông đang lo việc tế tự trước nhan Thiên Chúa khi đến phiên của nhóm ông: Trong cuộc bắt thăm thường lệ của hàng tư tế, ông đã trúng thăm được vào dâng hương trong Đền Thờ của Đức Chúa.”
Hôm nay nhóm Avigia của Dacaria đến phiên phục vụ Đền thờ, họ đã bốc thăm để chọn 01 người đại diện vào dâng hương cho Thiên Chúa trong Nơi Thánh, ông Dacaria đã trúng thăm.
Qua các sự kiện tưởng ngẫu nhiên và tình cờ này, đã có bàn tay Thiên Chúa can thiệp để lá thăm của Dacaria được chọn. Nó phải được chọn, vì Thiên Chúa muốn cho ông biết Ngài đã nghe lời 02 vợ chồng ông kêu xin, Ngài đã chứng kiến nỗi khổ của 02 vợ chồng ông, Ngài sẽ cất nỗi tủi nhục này cho họ. Cho dù 02 ông bà đã cao niên, không còn hy vọng gì có con, nhưng đối với Thiên Chúa việc ấy chẳng là gì hết.
Cuộc đời của ta cũng đã trải nghiệm nhiều sự tình cờ mà không lý giải được, ta đang buồn chán, đang thất vọng muốn buông xuôi thì hình như có ai đó vực ta dậy, người nào đó mà ta chưa hề gặp. Nó có phải là sự tình cờ không? Không, không thể nào tình cờ được, không thể trùng hợp như thế được, nếu không là tình cờ thì là cái gì? Đó là điều ta phải tự trả lời cho mình.
“Trong giờ dâng hương đó, toàn thể dân chúng cầu nguyện ở bên ngoài.
Bỗng một sứ thần của Chúa hiện ra với ông, đứng bên phải hương án. Thấy vậy, ông Da-ca-ri-a bối rối, và nỗi sợ hãi ập xuống trên ông”.
MỘT SỨ THẦN CỦA CHÚA HIỆN RA VỚI ÔNG
Luca viết, trong lúc Dacaria đang dâng hương, lúc này chỉ duy nhất mình ông hiện diện trong Nơi Thánh, Sứ thần của Chúa đã hiện ra. Đây là Sứ thần Gabriel, có nhiệm vụ truyền tin cho những biến cố trọng đại.
Đây là sự khác biệt giữa 02 cuộc truyền tin: Truyền tin cho Đức Maria – Truyền tin cho Dacaria.
Trong biến cố Truyền tin cho Đức Maria, xảy ra tại một làng quê hẻo lánh Nadarét, Sứ thần Gabriel đi từ ngoài vào với một bộ dạng bình thường và luôn tỏ sự kính trọng. Ngài không gây cho Maria sự sợ hãi nào, ngoài sự bối rối.
Còn trong biến cố Truyền tin cho Dacaria, xảy ra tại Nơi Thánh trong Đền thờ, Sứ thần Gabirel hiện ra bất ngờ, đứng bên phải hương án với bộ dạng rực rỡ, làm cho Dacaria bối rối và sợ hãi cả toàn thân. Tại sao Sứ thần phải làm vậy? Thưa, vì tin vui Sứ thần sắp báo cho ông là điều vượt quá trí hiểu của ông, ông khó lòng chấp nhận, nên với sự xuất hiện rực rỡ của Sứ thần sẽ là một bảo chứng cho lời ngài sắp nói.
“Nhưng sứ thần bảo ông: “Này ông Da-ca-ri-a, đừng sợ, vì Thiên Chúa đã nhậm lời ông cầu xin: bà Ê-li-sa-bét vợ ông sẽ sinh cho ông một đứa con trai, và ông phải đặt tên cho con là Gio-an. Ông sẽ được vui mừng hớn hở, và nhiều người cũng được hỷ hoan ngày con trẻ chào đời. Vì em bé sẽ nên cao cả trước mặt Chúa.”
NÀY ÔNG DA-CA-RI-A, ĐỪNG SỢ
Việc đầu tiên Sứ thần làm, đó là trấn an Dacaria: “Này ông Da-ca-ri-a, đừng sợ”. Ông phải thật bình tĩnh để đón nhận ý muốn của Thiên Chúa. Cái cảm giác sợ hãi kia, đó là điều tự nhiên rồi nó sẽ qua đi, vì con người khi chiêm ngưỡng vẻ uy nghi của Thiên Chúa ai mà chẳng sợ hãi. Nhưng Thiên Chúa không muốn con người xem Ngài là Đấng luôn làm con người khiếp sợ. Không, Ngài luôn là Người Cha nhân từ, hằng yêu thương con cái mình. Khi con người luôn sống trong sợ hãi với Thiên Chúa là Cha của mình, thì họ không thể là con cái Ngài.
“Thiên Chúa đã nhậm lời ông cầu xin: bà Ê-li-sa-bét vợ ông sẽ sinh cho ông một đứa con trai, và ông phải đặt tên cho con là Gio-an”.
Sứ thần báo cho Dacaria một tin vui, đó là vợ ông sẽ sinh cho ông một đứa con trai và ông phải đặt tên là Gioan. Đây thật là một tin vui và còn vượt quá tin vui nữa, nó là điều vượt quá sự mong đợi của ông Dacaria vì có lẽ hai ông bà đã an phận không còn hy vọng gì nữa.
Thiên Chúa luôn gây cho con người sự bất ngờ vì trong chính lúc con người đã bất lực, thì đó là lúc Thiên Chúa ra tay hành động để những ai hằng tin tưởng vào Ngài không hề thất vọng, mà càng củng cố niềm tin của mình hơn nữa.
“Ông Da-ca-ri-a thưa với sứ thần: “Dựa vào đâu mà tôi biết được điều ấy? Vì tôi đã già, và nhà tôi cũng đã lớn tuổi.” Sứ thần đáp: “Tôi là Gáp-ri-en, hằng đứng chầu trước mặt Thiên Chúa, tôi được sai đến nói với ông và loan báo tin mừng ấy cho ông. Và này đây ông sẽ bị câm, không nói được, cho đến ngày các điều ấy xảy ra, bởi vì ông đã không tin lời tôi, là những lời sẽ được ứng nghiệm đúng thời đúng buổi.”
DỰA VÀO ĐÂU MÀ TÔI BIẾT ĐƯỢC ĐIỀU ẤY?
Dacarin có tư tưởng của nhân loại, lòng tin của ông chưa đủ cao và cũng chưa được đào sâu, câu nói của Dacaria mặc dù là câu nói bình thường của con người, nhưng đã bộc lộ ra sự nghi ngờ lời Sứ thần, ông đã đưa ra lý lẽ hoàn toàn của con người: “Vì tôi đã già, và nhà tôi cũng đã lớn tuổi”, hình như ông đang đòi hỏi một dấu lạ để có thể tin vào lời Sứ thần, nó có dáng dấp của một lời thách thức.
Bằng một giọng đầy trách cứ, Sứ Thần cho biết: Ngài là sứ giả chầu hầu trước mặt Thiên Chúa, được sai đến với ông, điều đó hẳn đủ để ông phải tin; nhưng thật ra điều đó chỉ đủ cho những kẻ có lòng tin mạnh thì mới rõ ràng: Thiên Chúa có thể làm được mọi sự và quyền năng của Thiên Chúa được khởi đầu ở chỗ mà khả năng con người cảm thấy bị bế tắc, bị giới hạn vì sự yếu kém, bất toàn của mình.
Dacarin đón nhận Lời Chúa cách sai lệch nên từ nay ông chỉ có thể ra dấu mà không thể nói được bằng ngôn ngữ thông thường, tức ông sẽ bị câm! Trong khi đó bất chấp mối nghi ngờ của Dacaria, Thiên Chúa vẫn thực hiện chương trình của người là ban cho ông một người con là Gioan Tẩy Giả, vị Tiền Hô duy nhất của Đấng Cứu Thế!
Nhân dịp này, chúng ta nên suy nghĩ về lòng tin của mình, lòng tin thật sẽ không chấp nhận hồ nghi. Chúa đòi lòng tin của ta phải vững vàng, chắc chắn, vì uy tín của Thiên Chúa, lòng tin và sự hối cải phải đi đôi với nhau. Lòng tin được khởi đầu bằng sự hối cải, còn hối cải sửa soạn cho lòng tin. Cả hai cùng đi đôi với nhau như 2 con mắt cùng nhìn về một hướng, một đối tượng là Thiên Chúa, là ơn cứu độ.
“Bà Ê-li-sa-bét vợ ông sẽ sinh cho ông một đứa con trai, và ông phải đặt tên cho con là Gio-an. Ông sẽ được vui mừng hớn hở, và nhiều người cũng được hỷ hoan ngày con trẻ chào đời”.
Việc truyền tin cho Dacaria và sự sinh hạ Gioan Tiền hô đã được tiên báo trong Cựu ước qua việc truyền tin và sinh hạ Samson. Như trong Bài đọc I đã đề cập.
GIOAN – THIÊN CHÚA TỎ LÒNG ƯU ÁI
Sứ thần báo cho ông Dacaria một tin vui: “Bà Ê-li-sa-bét vợ ông sẽ sinh cho ông một đứa con trai, và ông phải đặt tên cho con là Gio-an”. Tên Gioan, có nghĩa “Thiên Chúa đã tỏ lòng ưu ái”, nó nói lên sự ưu ái của Thiên Chúa dành cho 02 ông bà, và đi xa hơn, Thiên Chúa tỏ lòng ưu ái đến Dân Ngài.
“Ông sẽ được vui mừng hớn hở, và nhiều người cũng được hỷ hoan ngày con trẻ chào đời”. Gioan có nghĩa “Thiên Chúa đã tỏ lòng ưu ái”, vậy ông sẽ vui mừng hớn hở và nhiều người cũng được hỷ hoan ngày con trẻ chào đời. Và lý do ông bà và mọi người vui mừng, theo lời Sứ thần “Vì em bé sẽ nên cao cả trước mặt Chúa.”
“Rượu lạt rượu nồng em sẽ đều không uống. Và ngay khi còn trong lòng mẹ, em đã đầy Thánh Thần. Em sẽ đưa nhiều con cái Ít-ra-en về với Đức Chúa là Thiên Chúa của họ. Được đầy thần khí và quyền năng của ngôn sứ Ê-li-a, em sẽ đi trước mặt Chúa, để làm cho lòng cha ông quay về với con cháu, để làm cho tâm tư kẻ ngỗ nghịch lại hướng về nẻo chính đường ngay, và chuẩn bị một dân sẵn sàng đón Chúa.”
NGAY KHI CÒN TRONG LÒNG MẸ, EM ĐÃ ĐẦY THÁNH THẦN
Sứ thần nói về em bé như sau: “Và ngay khi còn trong lòng mẹ, em đã đầy Thánh Thần”, Gioan được đầy Thánh Thần ngay khi còn trong lòng mẹ, điều này có nghĩa Gioan được sạch tội Tổ tông ngay khi đang mang thai.
“RƯỢU LẠT RƯỢU NỒNG EM SẼ ĐỀU KHÔNG UỐNG”,
Cũng giống như Samson trong bài đọc I, Gioan sẽ là một Nazirite của Thiên Chúa từ lòng mẹ
Nhắc lại:
NAZIRITE: là người được dành riêng và thánh hiến đặc biệt cho Thiên Chúa,
Lời thề của người Nazarite bao gồm 3 điều:
(1) không được uống rượu và thức uống mạnh;
(2) không được cắt tóc trong suốt thời gian thề hứa; và
(3) không được tiếp xúc với xác chết.
Gioan sẽ là Đấng Tiền Hô của Đấng Cứu Thế, sẽ được dành cho Thiên Chúa. Vì thế Gioan sẽ sống cuộc đời khổ hạnh, tập trung mọi ý chí cho Chúa, việc dọn đường cho Đấng Cứu thế phải là ưu tiên số một, còn các thứ khác bằng không.
“Em sẽ đưa nhiều con cái Ít-ra-en về với Đức Chúa là Thiên Chúa của họ. Được đầy thần khí và quyền năng của ngôn sứ Ê-li-a, em sẽ đi trước mặt Chúa, để làm cho lòng cha ông quay về với con cháu, để làm cho tâm tư kẻ ngỗ nghịch lại hướng về nẻo chính đường ngay, và chuẩn bị một dân sẵn sàng đón Chúa.”
ĐƯỢC ĐẦY THầN KHÍ VÀ QUYỀN NĂNG CỦA NGÔN SỨ Ê-LI-A, EM SẼ ĐI TRƯỚC MẶT CHÚA
Sứ thần cho biết, Gioan chính là người mà Ngôn sứ Malaki, vị Ngôn sứ cuối cùng của Cựu ước đã tiên báo: “Này Ta sai ngôn sứ Ê-li-a đến với các ngươi, trước khi Ngày của ĐỨC CHÚA đến, ngày trọng đại và kinh hoàng. Nó sẽ đưa tâm hồn cha ông trở lại với con cháu và đưa tâm hồn con cháu trở lại với cha ông, kẻo khi Ta đến, Ta sẽ đánh phạt xứ sở đã bị án tru diệt.” (Mk 3, 23-24).
Gioan không phải là Êlia, nhưng được đầy thần khí và quyền năng của ngôn sứ Ê-li-a. Như vậy Gioan chẳng khác gì Êlia mà Ngôn sứ Malaki đã nói đến. Gioan sẽ là người đi trước để dọn đường cho Đấng Cứu Thế, chuẩn bị cho Chúa một dân tộc và đi xa hơn, chuẩn bị cho toàn nhân loại đón mừng Chúa Giêsu giáng sinh .
Nếu ông Dacaria đòi hỏi một bằng chứng, đòi hỏi một dấu hiệu, thì Sứ thần sẽ chiều theo ý ông. Sứ thần nói: “Và này đây ông sẽ bị câm, không nói được, cho đến ngày các điều ấy xảy ra, bởi vì ông đã không tin lời tôi, là những lời sẽ được ứng nghiệm đúng thời đúng buổi”.
“Dân chúng đợi ông Da-ca-ri-a, và lấy làm lạ sao ông ở lại trong cung thánh lâu như thế. Lúc đi ra, ông không nói với họ được, và dân chúng biết là ông đã thấy một thị kiến trong cung thánh. Còn ông, ông chỉ làm hiệu cho họ và vẫn bị câm.”
Có lẽ cuộc đối thoại giữa Sứ thần và Dacaria cũng khá dài, dân chúng đang tò mò muốn biết điều gì đã xảy ra với ông nơi cung thánh. Lúc trở ra, ông không nói được và chỉ làm hiệu cho họ. Dân chúng nghĩ ông đã gặp một thị kiến, tin này được loan truyền đi, nhưng không ai biết được điều gì đã xảy ra cho ông.
Như vậy, việc Gioan sinh ra đã được khởi đầu bằng một sự kiện lạ, là sự ngạc nhiên cho người đương thời và ông mãi là người đem lại sự ngạc nhiên cho con người, vì ông là con người đặc biệt và cuộc đời của ông luôn đi đúng hướng Thiên Chúa đã định, vị Tiền Hô.
“Khi thời gian phục vụ ở đền thờ đã mãn, ông Dacaria trở về nhà. Ít lâu sau, bà Ê-li-sa-bét vợ ông có thai, bà ẩn mình năm tháng. Bà tự nhủ: “Chúa đã làm cho tôi như thế đó, khi người thương cất nỗi hổ nhục tôi phải chịu trước mặt người đời.”
Sau khi Dacaria bị câm, ông vẫn phải phục vụ Đền thờ vì nhóm của ông, nhóm Avigia, phải phục vụ nửa tháng (24 nhóm, mỗi nhóm phục vụ nửa tháng, vậy đi hết 24 nhóm sẽ trọn một năm, 12 tháng).
CHÚA ĐÃ LÀM CHO TÔI NHƯ THẾ ĐÓ
Sau thời gian phục vụ Đền thờ, Dacaria trở về nhà, ít lâu sau vợ ông là Bà Êlisabeh có thai. Mọi sự xảy ra đúng như lời Sứ thần đã nói, ông Dacaria đã tin nhưng ông vẫn bị câm cho đến ngày Gioan sinh ra và được ông đặt tên. Còn bà Êlisabeth vui mừng, nhưng ngay cả lúc này bà chỉ tự nhủ mình chứ không khoe khoang với người này người nọ, vì hồng ân Thiên Chúa ban cho ta luôn là món quà quý giá mà ta phải cảm tạ suốt đời trong lòng ta, trong sự suy nghĩ của ta, chứ không phải là cái để ta tự hào, vênh mặt với đời. Bà tự nhủ: “Chúa đã làm cho tôi như thế đó, khi người thương cất nỗi hổ nhục tôi phải chịu trước mặt người đời.”
Qua biến cố truyền tin cho ông Dacaria hôm nay, chúng ta cũng hãy đặt ra cho mình câu hỏi: Có khi nào ta đứng trước tình huống mà mọi giải pháp đều tỏ ra bế tắc và ta cảm nhận được sự bất lực của mình chưa? Đó có là dịp để ta khám phá tình thương của Chúa và tin cậy vào quyền năng của Ngài chưa?
Theo cái nhìn đức tin, và trong chương trình cứu độ của Chúa, mỗi người sinh ra đều có một ơn gọi, một sứ mệnh. – Xin Chúa cho con nhìn ra và xác tín ơn gọi, sứ mệnh của con hôm nay. Xin Chúa cho con cũng nhìn ra và quý trọng ơn gọi, sứ mệnh của anh chị em đang sống bên con, nhất là sứ mệnh dọn đường cho Chúa đến.
Amen.
Nguồn Fb: Nguyễn Viết Tâm

