Gương Thánh nhân: Cả ba Linh mục Giu-se Nghi, Phao-lô Ngân, Mát-ti-nô Thịnh cùng với hai giáo dân là Mát-ti-nô Thọ và Gioan Bao-ti-xi-ta Cỏn đều bị bắt tại xứ Kẻ Báng, tỉnh Nam Định, và được phúc tử đạo trong một ngày.
Lúc sinh thời, các ngài thương yêu nhau, lo lắng giúp đỡ nhau phần hồn phần xác; khi bị bắt, các ngài nâng đỡ khuyến khích nhau giữ vững niềm tin, trung thành bền đỗ tin theo Chúa; khi chết, các ngài cùng chịu chết vì Chúa, cùng làm chứng cho Chúa, cùng lãnh triều thiên vinh hiển… Thật đúng ở đâu có nhiều người hợp nhau thì có Chúa ở giữa họ, giúp họ chiến thắng cả thần dữ và sự chết…
* * *
Giu-se Nguyễn Đình Nghi sinh năm 1793, tại xứ Kẻ Vồi, nay thuộc Hà Nội. Lớn lên, cậu được Chúa chọn giúp việc giảng đạo. Cậu theo học trường thầy giảng rồi trở về giúp họ đạo nhà. Nhưng các cha thấy thầy thông minh đạo đức, có thể làm tông đồ đắc lực, nên cho học thần học và được Đức Cha phong chức Linh mục năm 30 tuổi.
Từ ngày được làm Linh mục, cha Nghi hết sức tận tụy hy sinh lo cho giáo dân. Và để làm việc tông đồ mục vụ đắc lực, hằng ngày cha ăn chay hãm mình ép xác, có ý hiệp cùng sự thương khó Chúa Ki-tô, cứu rỗi linh hồn mọi người. Công việc cha chuyên cần hơn hết là giảng dạy giáo lý và ngồi tòa giải tội. Nhiều người tội lỗi, lắm kẻ lạc đạo nhờ cha mà ăn năn sám hối trở về với Chúa. Đức Cha nhờ cha đi giúp nhiều nơi, như các xứ Sơn Miêng, Kẻ Vạc, Phúc Nhạc… Nơi nào cha cũng cứu vớt được nhiều linh hồn về cho Chúa. Sau cùng đang lúc làm cha xứ Kẻ Báng thì cha bị bắt cùng với cha Phao-lô Ngân và cha Mát-ti-nô Thịnh.
Phao-lô Nguyễn Ngân sinh năm 1790 tại họ Cự Khanh, tỉnh Thanh Hóa, trong một gia đình rất ngoan đạo. Nhờ đó, ngay từ nhỏ cậu đã được Chúa thương kêu gọi dâng mình giúp việc Chúa. Cậu xin gia nhập chủng viện, học hành tu luyện, chuẩn bị làm Linh mục. Sau khi mãn khóa thần học, thầy Phao-lô Ngân thụ phong Linh mục, được Đức Cha bổ nhiệm giúp xứ Phúc Nhạc, đảm trách luôn họ đạo Duyên Mậu và các họ nhỏ gần đó.
Cả đời Linh mục của cha là noi gương Chúa Giê-su, Vị Mục tử nhân lành, chăm sóc từng con chiên, hy sinh mạng sống vì đàn chiên. Hằng ngày ngoài ra việc mục tử ở nhà thờ, cha thường xuyên chịu khó đến với các gia đình giáo dân, thăm hỏi từng người, biết rõ từng con chiên, để thực hành theo gương Vị Mục tử chí Thánh:
“Chiên nào thất lạc, Ta sẽ tìm kiếm; chiên nào tản mác, Ta sẽ lùa về; chiên nào xây xát, Ta sẽ băng bó; chiên nào bệnh hoạn, Ta sẽ bổ sức; còn chiên nào mạnh khỏe, Ta sẽ giữ gìn (Ed. 34,16).
Và khi Đức Cha gọi cha về làm phó xứ Kẻ Báng, giúp cha Giu-se Nghi được một năm thì cả hai bị bắt cùng với cha Mát-ti-nô Thịnh.
Mát-ti-nô Tạ Đức Thịnh sinh năm 1760, tại làng Kẻ Sét, nay thuộc tổng giáo phận Hà Nội.
Ngay từ nhỏ, cậu đã có ý muốn đi tu, nhưng lòng còn e ngại. Dần dà đến năm 18 tuổi, lúc cha mẹ định cưới vợ cho, cậu mới xin hoãn lại để suy nghĩ. Sau khi suy nghĩ kỹ lưỡng nhất là cầu nguyện sốt sắng một thời gian, cậu nhất quyết dâng mình cho Chúa và xin vào chủng viện. Và trong thời vua Cảnh Thịnh cấm đạo, thầy Mát-ti-nô Thịnh được lãnh chức Linh mục, do Đức Cha Gia-cô-bê Gia chủ phong.
Cha làm bí thư ở Tòa Giám mục, sau đó được bổ nhiệm đi giúp các xứ Kẻ Bạng, Đồng Chuối , Nam Sang. Lúc gần 80 tuổi, Đức Cha lại cử cha làm chính xứ Kẻ Trình. Tuổi già, sức yếu, lại thêm bị ung nhọt ở miệng, ăn uống không được, ngày đêm đau nhức. Dù vậy, cha cũng cố gắng dâng Thánh lễ, ngồi tòa giải tội cho bổn đạo. Một hôm ông Gioan Bao-ti-xi-ta Cỏn đến thăm. Thấy cha đau đớn khổ sở quá, liền rước về nhà đứa cháu ở xứ Kẻ Báng để chăm sóc chữa trị. Đang lúc chữa bệnh ở đây, cha bị bắt cùng với cha Giu-se Nghi, cha Mát-ti-nô Ngân, và hai giáo dân là Mát-ti-nô Thọ và Gioan Bao-ti-xi-ta Cỏn.
Mát-ti-nô Thọ sinh năm 1787, tại xứ Kẻ Báng, tỉnh Nam Định.
Ông tên thật là Nho, đã lập gia đình có được tám người con. Tuy con đông, ông vẫn giáo dục chu đáo bằng gương mẫu đời sống hằng ngày, nên người con nào cũng sống hiền lương đạo đức.
Là một giáo dân nhiệt thành ngay thẳng, dân làng ai cũng biết danh tiếng ông. Họ cử ông làm viên thuế trong làng, còn giáo hữu thì chọn ông làm trùm trong họ đạo. Ngoài ra bổn phận gia đình, hằng ngày ông tận tụy lo giúp việc chung cho làng xã, xứ đạo. Đặc biệt ông sẵn sàng giúp đỡ cộng tác với các Linh mục trong việc mở mang Nước Chúa. Nhà ông luôn rộng mở đón tiếp các cha, mặc dầu ông biết việc làm nầy rất nguy hiểm cho tính mạng, vì lúc đó tổng đốc Trịnh Quang Khanh đang ráo riết tìm bắt người có đạo, nhất là các giáo sĩ. Chẳng những ông không sợ chết, mà còn muốn được chết vì Chúa. Và đúng thực ông đã bị bắt vì tội chứa chấp cha Giu-se Nghi trong nhà. Lúc đó ông Gioan Bao-ti-xi-ta Cỏn đang nuôi cha già Thịnh để chữa bệnh, nên cũng bị bắt luôn với cha già.
Gioan Bao-ti-xi-ta Cỏn sinh năm 1805, tại xứ Kẻ Báng. Ông sống bằng nghề nông. Gia đình tuy nghèo, nhưng rất siêng năng sốt sắng trong việc thờ phượng Chúa. Đặc biệt ông nhiệt thành phụ giúp các cha rao giảng Tin mừng, thánh hóa môi trường sống, chống lại mọi bất công trong xã hội. Chính ông đã đứng ra tố cáo tên lý trưởng cậy quyền ỷ thế, hà hiếp bóc lột dân chúng. Nhờ đó ông được dân làng tín nhiệm, chọn làm lý trưởng.
Một hôm nghe tin cha già Thịnh đau yếu, ông đến xứ Kẻ Trình thăm cha. Thấy cha bệnh hoạn đau đớn quá, ông rước cha về chăm sóc chữa trị.
Có người trong làng biết ông đang chứa chấp cha già, nên đến trình báo với tổng đốc Trịnh Quang Khanh. Ngày 30 tháng 05 năm 1840, quan đem quân đến bao vây Kẻ Báng lục soát khắp nơi. Sau hai ngày, họ bắt được ba Linh mục là cha Giu-se Nghi, cha Phao-lô Ngân, cha Mát-ti-nô Thịnh, cùng với hai giáo dân là Mát-ti-nô Thọ và Gioan Bao-ti-xi-ta Cỏn vì tội chứa chấp các Linh mục. Quan ra lệnh đóng gông và giải tất cả về tỉnh Nam Định.
Sau nhiều lần tra tấn cũng như dụ dỗ, thấy cả năm vị đều cương quyết giữ vững đức tin, quan nổi giận, ra lệnh đánh đòn ba vị Linh mục dữ dội, máu chảy lai láng. Quan bắt ông Thọ và ông Cỏn phải liếm máu nơi các vết thương đó, bằng không thì phải bỏ đạo. Hai ông liền quỳ gối xuống liếm máu nơi mình các cha chảy ra, trước sự kinh ngạc của mọi người. Họ không ngờ các ông can đảm đến thế, thà chịu cực chịu khổ hơn là chối Chúa bỏ đạo.
Quan buộc lòng phải kết án trảm quyết tất cả năm vị. Và ngày 08 tháng 11 năm 1840, các ngài được dẫn ra pháp trường Bảy Mẫu, chịu chém chết vì Chúa.
Đức Thánh Cha Lê-ô 13 tôn phong Chân phước cho cả năm vị ngày 27 tháng 05 năm 1900. Và ngày 19 tháng 06 năm 1988, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 đã suy tôn các ngài lên Hiển thánh.
Quyết tâm: Hằng ngày sống đạo Chúa sốt sắng, giảng đạo Chúa siêng năng, và sẵn sàng cộng tác giúp đỡ các Linh mục trong việc mở mang Nước Chúa, theo gương thánh Giu-se Nghi, Phao-lô Ngân, Mát-ti-nô Thịnh, Mát-ti-nô Thọ và Gioan Bao-ti-xi-ta Cỏn, Linh mục và giáo dân tử đạo.
Lời nguyện:Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại, luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng.
GPVL

