Gương Thánh nhân: Tử đạo là làm chứng cho Chúa. Chính Chúa Giê-su là vị tử đạo dầy ý nghĩa, và là khuôn mẫu tử đạo cho các tông đồ môn đệ sau nầy.
Noi gương Đức Ki-tô, các thánh tử đạo Việt Nam thông hiệp trọn vẹn vào việc làm chứng và công trình cứu rỗi của Người. Các ngài chẳng những làm chứng bằng mạng sống, mà còn bằng lời nói của mình, như trường hợp hai thánh Vinh-sơn Liêm và Gia-cin-tô tử đạo hôm nay.
* * *
Vinh Sơn Phạm Hiếu Liêm chào đời năm 1732, tại làng Trà Lũ tỉnh Nam Định, trong một gia đình thân hào đạo đức.
Năm 12 tuổi, cậu nghe theo tiếng Chúa gọi, dâng mình vào nhà Chúa, tu luyện trong trường do các cha Dòng Đa-minh điều khiển. Thấy cậu thông minh đạo đức, các cha tin chắc sau nầy cậu có thể giúp ích nhiều cho Hội thánh, nên gởi đi du học tại Ma-ni-la, nước Phi-luật-tân.
Đúng như các cha nhận xét, thầy Vinh-sơn Liêm học hành xuất sắc, đạo đức dồi dào. Và để phát triển thêm nhân đức, thầy xin gia nhập Dòng thánh Đa-minh, lấy hiệu là Vinh-sơn Hòa Bình. Sau đó, thầy còn học thêm bốn năm thần học. Năm 1758, thầy thụ phong Linh mục và trở về phục vụ quê hương. Ngày 20 tháng giêng năm 1759, vị tân Linh mục về tới Trung Linh, được cha chính địa phận và thân quyến đón tiếp nồng hậu, sau tám năm du học nước ngoài.
Trước hết, cha được bổ nhiệm làm giáo sư chủng viện Trung Linh. Cha đem hết tài lực truyền đạt cho chủng sinh tất cả những gì cha đã học biết. Cha mong mỏi làm sao cho họ thu nhập được nhiều kiến thức và tập luyện đầy đủ các nhân đức, để sau nầy phục vụ giáo phận, mở mang Nước Chúa, phát triển Hội thánh. Đặc biệt cha cố gắng huấn luyện cho họ có tinh thần tông đồ, hy sinh chịu khó vì lòng mến Chúa và yêu thương cứu giúp các linh hồn. Vì giữa lúc Hội thánh gặp cơn bách hại, cần có nhiều Linh mục biết hy sinh xả kỷ, can đảm trước mọi thử thách gian khổ.
Sau thời gian ở chủng viện, Đức Cha sai cha đi giúp các xứ Phú Thái, Quất Lâm, Trung Lao, Lạc Thủy… Đến đâu, cha cũng nhiệt thành lo cho giáo dân: giảng dạy đạo lý, ban các Bí tích, an ủi khích lệ họ can đảm trung thành giữ vững đức tin. Cha không chỉ hạn hẹp hoạt động tông đồ trong giáo xứ, mà còn tận tâm rao giảng đạo Chúa cho lương dân, bất chấp khó khăn nguy hiểm trong thời kỳ cấm đạo.
Ngày 01 tháng 10 năm 1773, đang lúc cha chuẩn bị cho giáo dân mừng lễ Đức Mẹ Môi Khôi tại họ Lương Đống, quân lính đến vây bắt đem nộp cho quan chánh tổng. Quan giam cha tại đó 12 ngày, cố ý đợi giáo hữu đem tiền đến chuộc; nhưng khi không thấy ai đưa tiền đến thì giải cha về Hà Nội. Tại đây, cha được gặp cha Gia-cin-tô Gia là Linh mục cùng dòng, đã bị bắt giam và đang chờ ngày xét xử.
Gia-cin-tô Gia sinh ngày 13 tháng 10 năm 1743, tại Gia-ti-va, nước Tây-ban-nha.
Lớn lên, được Chúa ban ơn soi sáng, cậu quyết tâm dâng mình giảng đạo Chúa. Cậu xin gia nhập dòng Đa-minh, và năm 1762 được gởi sang Phi-luật-tân tu luyện học tập. Sau khi mãn khóa thần học, thầy Gia-cin-tô thụ phong Linh mục và tình nguyện đi giảng đạo ở Trung Hoa. Tháng tư năm 1766, vị tân Linh mục nhiệt thành truyền giáo nầy đã đến Phúc Kiến, giữa lúc ở đây đang gặp cơn bắt đạo gắt gao. Dù vậy cha vẫn can đảm lăn xả vào cánh đồng truyền giáo, bất chấp nguy hiểm khó khăn. Chỉ trong vòng ba năm, cha đã giúp nhiều người biết Chúa, khuyến khích các tín hữu giữ vững niềm tin.
Công cuộc truyền giáo đang trên đà phát triển thì ngày 18 tháng 07 năm 1769, cha bị bắt và bị trục xuất ra khỏi Trung Hoa.
Rời Trung Hoa đầy thương tiếc, nhưng cha không ngã lòng. Cha đến Ma-cao, gặp ngay dịp hai cha cùng dòng từ Ma-ni-la tới để đi truyền giáo tại Việt Nam . Phải chăng Chúa Quan phòng muốn cha đến giúp người Việt Nam nhìn biết tin kính Chúa? Cha tháp tùng theo hai cha đó, và ngày 23 tháng 02 năm 1770, cha đã đến Bắc Việt ở tại Trung Linh học tiếng và lấy tên Việt là Gia.
Sáu tháng sau, Bề trên cử cha đến giúp xứ Lai Ổn và Kẻ Điền. Vì hai xứ đạo ở cách xa nhau, cha phải vất vả tới lui lo việc mục vụ, phải đi bộ nhiều ngày nhiều lần, nên sức khỏe ngày một giảm sút. Dù vậy, cha cũng cố gắng chu toàn bổn phận mục tử. Giáo dân thấy cha yếu sức mà vẫn nỗ lực chịu khó giảng dạy và ban các Bí tích hằng ngày thì hết lòng yêu mến kính phục. Nhờ đó họ luôn luôn sẵn sàng nghe lời cha khuyên bảo dạy dỗ, sốt sắng giữ đạo, giữ vững niềm tin.
Ngày 12 tháng 07 năm 1773, cha được mời đi xức dầu cho một bệnh nhân ở xứ Lai Ổn. Trên đường về, cha bị quan phủ Thân Khê vây bắt, nhốt vào củi, giải nộp cho chúa Trịnh Sâm. Cha bị giam ở đây khoảng 03 tháng thì cha Vinh-sơn Liêm cũng bị bắt, giải về nhốt chung với cha. Thật là một niềm vui không tả xiết, hai anh em cùng dòng cùng lý tưởng, nay cùng chung chịu ngục tù hình khổ để làm chứng cho Chúa.
Trước hết, các ngài làm chứng cho Chúa bằng lời nói. Lúc đó người chú của chúa Trịnh Sâm làm quan lớn trong triều. Ông ta muốn tìm biết đạo nào là đạo chánh thật, nên mời đại diện bốn tôn giáo lớn trong nước là Phật giáo, Khổng giáo, Lão giáo và Thiên Chúa giáo đến trình bày đạo lý cho ông ta nghe. Hai cha Vinh-sơn Liêm và Gia-cin-tô Gia được cử làm đại diện cho Thiên Chúa giáo. Sau ba ngày trao đổi giáo lý giữa bốn tôn giáo, vị quan lớn rất khen ngợi giáo lý Công giáo. Nghe tin đó, bà Thái Tôn là mẹ của chúa Trịnh Sâm tò mò muốn biết đạo Chúa. Bà cho mời cha Liêm và cha Gia đến. Và sau khi nghe hai cha trình bày đạo lý, bà hỏi:
– Nếu chỉ có đạo của các ông là đạo chính thật, thì những người không tin theo đạo đó chết rồi đi đâu?
Cha Liêm đáp:
– Họ sẽ phải bị phạt trong hỏa ngục khốn khổ đời đời.
Nghe vậy, bà ta nổi giận, buộc chúa Trịnh Sâm phải xử tử hai cha. Thế là ngày 07 tháng 11 năm 1773, quân lính điệu hai vị chiến sĩ Phúc âm ra pháp trường Đông Mơ thi hành án tử, để sau khi đã làm chứng cho Chúa bằng lời nói, các ngài được làm chứng cho Chúa bằng chính mạng sống của mình.
Ngày 20 tháng 05 năm 1906, Đức Thánh Cha Pi-ô 10 tôn phong hai vị chứng nhân anh dũng lên Chân phước. Và Đức Giáo Chủ Gioan Phaolô 2 đã suy tôn các ngài lên Hiển thánh ngày 19 tháng 06 năm 1988.
Quyết tâm: Noi gương thánh Vinh-sơn Liêm và Gia-cin-tô Gia tử đạo, hằng ngày hy sinh chịu khó rao giảng đạo Chúa, làm chứng cho Chúa bằng lời nói và đời sống thánh thiện gương mẫu.
Lời nguyện: Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại, luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng.

