BÀI THƯƠNG KHÓ theo Gioan (Ga 18, 1 – 19, 42)
ĂN CHAY & KIÊNG THỊT
“SỰ THƯƠNG KHÓ ĐỨC GIÊSU KITÔ, CHÚA CHÚNG TA”.
BÀI ĐỌC I: Is 52, 13-53, 12
“Người đã bị thương tích vì tội lỗi chúng ta”.
(Bài ca thứ tư của người Tôi Tớ Chúa)
Trích sách Tiên tri Isaia.
Này tôi tớ Ta sẽ được cao minh, sẽ vinh thăng tấn phát, cao cả tuyệt vời. Cũng như nhiều người đã kinh ngạc, vì thấy người tàn tạ mất hết vẻ người, dung nhan người cũng không còn nữa, cũng thế, muôn dân sẽ sửng sốt, các vua không còn biết nói chi trước mặt người. Vì họ sẽ thấy việc chưa ai kể cho mình, sẽ biết điều mình chưa hề được nghe.
Ai mà tin được điều chúng ta nghe? Và Chúa đã tỏ ra sức mạnh cho ai? Người sẽ lớn lên trước mặt Ngài như một chồi non, như một rễ cây, tự đất khô khan. Người chẳng còn hình dáng, cũng chẳng còn sắc đẹp để chúng ta nhìn ngắm, không còn vẻ bên ngoài, để chúng ta yêu thích; bị người đời khinh dể như kẻ thấp hèn nhất, như kẻ đớn đau nhất, như kẻ bệnh hoạn, như một người bị che mặt và bị khinh dể, bởi đó, chúng ta không kể chi đến người.
Thật sự, người đã mang lấy sự đau yếu của chúng ta, người đã gánh lấy sự đau khổ của chúng ta. Mà chúng ta lại coi người như kẻ phong cùi, bị Thiên Chúa đánh phạt và làm cho nhuốc hổ. Nhưng người đã bị thương tích vì tội lỗi chúng ta, bị tan nát vì sự gian ác chúng ta. Người lãnh lấy hình phạt cho chúng ta được bình an, và bởi thương tích người mà chúng ta được chữa lành. Tất cả chúng ta lang thang như chiên cừu, mỗi người một ngả. Chúa đã chất trên người tội ác của tất cả chúng ta.
Người hiến thân vì người tình nguyện và không mở miệng như con chiên bị đem đi giết, và như chiên non trước mặt người xén lông, người thinh lặng chẳng hé môi. Do cưỡng bách và án lệnh, người đã bị tiêu diệt; ai sẽ còn kể đến dòng dõi người nữa, bởi vì người đã bị khai trừ khỏi đất người sống; vì tội lỗi dân Ta, Ta đánh phạt người. Người ta định đặt mồ người giữa những kẻ gian ác, nhưng khi chết, người được chôn giữa kẻ giàu sang, mặc dầu người đã không làm chi bất chánh, và miệng người không nói lời gian dối. Chúa đã muốn hành hạ người trong đau khổ.
Nếu người hiến thân làm lễ vật đền tội, người sẽ thấy một dòng dõi trường tồn, và nhờ người, ý định Chúa sẽ thành tựu. Nhờ nỗi khổ tâm của người, người sẽ thấy và sẽ được thoả mãn. Nhờ sự thông biết, tôi tớ công chính của Ta sẽ công chính hoá nhiều người, sẽ gánh lấy những tội ác của họ. Bởi đó, Ta trao phó nhiều dân cho người, người sẽ chia chiến lợi phẩm với người hùng mạnh. Bởi vì người đã hiến thân chịu chết và đã bị liệt vào hàng phạm nhân, người đã mang lấy tội của nhiều người, và đã cầu bầu cho các phạm nhân.
Đó là lời Chúa.
BÀI ĐỌC II: Dt 4, 14-16; 5, 7-9
“Người đã học vâng phục do những đau khổ Người chịu, và khi hoàn tất, Người đã trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời”.
Trích thư gởi tín hữu Do-thái.
Anh em thân mến, chúng ta có một thượng tế cao cả đã đi qua các tầng trời, là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, nên chúng ta hãy giữ vững việc tuyên xưng đức tin của chúng ta. Vì chưng, không phải chúng ta có thượng tế không thể cảm thông sự yếu đuối của chúng ta, trái lại, Người đã từng chịu thử thách bằng mọi cách như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi.
Khi còn sống ở đời này, Chúa Kitô đã lớn tiếng rơi lệ dâng lời cầu xin khẩn nguyện lên Đấng có thể cứu mình khỏi chết, và vì lòng thành kính, Người đã được nhậm lời. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã học vâng phục do những đau khổ Người chịu, và khi hoàn tất, Người đã trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời cho tất cả những kẻ tùng phục Người. Đó là lời Chúa.
BÀI THƯƠNG KHÓ: Ga 18, 1 – 19, 42 (Hát Passion – Hát Thương khó)
“Sự Thương Khó Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”.
(Các ký hiệu viết tắt:
LM: Linh mục
XV1: Xướng viên 1
XV2: Xướng viên 2
LM: Bài Thương Khó Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, theo Thánh Gioan.
XV1: Khi ấy, Chúa Giêsu đi với môn đệ sang qua suối Xêrông, ở đó có một khu vườn, Người vào đó cùng với các môn đệ. Giuđa, tên phản bội, đã biết rõ nơi đó, vì Chúa Giêsu thường đến đấy với các môn đệ. Nên Giuđa dẫn tới một toán quân cùng với vệ binh do các thượng tế và biệt phái cấp cho, nó đến đấy với đèn đuốc và khí giới. Chúa Giêsu đã biết mọi sự sẽ xảy đến cho Mình, nên Người tiến ra và hỏi chúng:
LM: “Các ngươi tìm ai?”
XV1: Chúng thưa lại:
XV2: “Giêsu Nadarét”.
XV1: Chúa Giêsu bảo:
LM: “Ta đây”.
XV1: Giuđa là kẻ định nộp Người cũng đứng đó với bọn chúng. Nhưng khi Người vừa nói “Ta đây”, bọn chúng giật lùi lại và ngã xuống đất. Người lại hỏi chúng:
LM: “Các ngươi tìm ai?”
XV1: Chúng thưa:
XV2: “Giêsu Nadarét”.
XV1: Chúa Giêsu đáp lại:
LM: “Ta đã bảo các ngươi rằng Ta đây! Vậy nếu các ngươi tìm bắt Ta, thì hãy để cho những người này đi”.
XV1: Như thế là trọn lời đã nói: Con chẳng để mất người nào trong những kẻ Cha đã trao phó cho Con. Bấy giờ Simon Phêrô có sẵn thanh gươm, liền rút ra đánh tên đầy tớ vị thượng tế, chém đứt tai bên phải. Đầy tớ ấy tên là Mancô. Nhưng Chúa Giêsu bảo Phêrô rằng:
LM: “Hãy xỏ gươm vào bao. Chén Cha Ta đã trao lẽ nào Ta không uống!”
XV1: Bấy giờ, toán quân, trưởng toán và vệ binh của người Do-thái bắt Chúa Giêsu trói lại, và điệu Người đến nhà ông Anna trước, vì ông là nhạc phụ của Caipha đương làm thượng tế năm ấy. Chính Caipha là người đã giúp ý kiến này cho người Do-thái: để một người chết thay cho cả dân thì lợi hơn. Còn Phêrô và môn đệ kia vẫn theo Chúa Giêsu. Môn đệ sau này quen vị thượng tế nên cùng với Chúa Giêsu vào trong sân vị thượng tế, còn Phêrô đứng lại ngoài cửa. Vì thế, môn đệ kia là người quen với vị thượng tế, nên đi ra nói với người giữ cửa và dẫn Phêrô vào. Cô nữ tì gác cửa liền bảo Phêrô:
XV2: “Có phải ông cũng là môn đệ của người đó không?”
XV1: Ông đáp:
XV2: “Tôi không phải đâu”.
XV1: Đám thủ hạ và vệ binh có nhóm một đống lửa và đứng đó mà sưởi vì trời lạnh, Phêrô cũng đứng sưởi với họ. Vị thượng tế hỏi Chúa Giêsu về môn đệ và giáo lý của Người. Chúa Giêsu đáp:
LM: “Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ, Tôi thường giảng dạy tại hội đường và trong đền thờ, nơi mà các người Do-thái thường tụ họp, Tôi không nói chi thầm lén cả. Tại sao ông lại hỏi Tôi? Ông cứ hỏi những người đã nghe Tôi về những điều Tôi đã giảng dạy. Họ đã quá rõ điều Tôi nói”.
XV1: Nghe vậy, một tên vệ binh đứng đó vả mặt Chúa Giêsu mà nói:
XV2: “Anh trả lời vị thượng tế như thế ư”.
XV1: Chúa Giêsu đáp:
LM: “Nếu Ta nói sai, hãy chứng minh điều sai đó; mà nếu Ta nói phải, thì tại sao anh lại đánh Ta?”
XV1: Rồi Anna cho giải Người vẫn bị trói đến cùng vị thượng tế Caipha. Lúc ấy Phêrô đang đứng sưởi. Họ bảo ông:
XV2: “Có phải ông cũng là môn đệ người đó không?”
XV1: Ông chối và nói:
XV2: “Tôi không phải đâu”.
XV1: Một tên thủ hạ của vị thượng tế, có họ với người bị Phêrô chém đứt tai, cãi lại rằng:
XV2: “Tôi đã chẳng thấy ông ở trong vườn cùng với người đó sao?”
XV1: Phêrô lại chối nữa, và ngay lúc đó gà liền gáy.
Bấy giờ họ điệu Chúa Giêsu từ nhà Caipha đến pháp đình. Lúc đó tảng sáng và họ không vào pháp đình để khỏi bị nhơ bẩn và để có thể ăn Lễ Vượt Qua. Lúc ấy Philatô ra ngoài để gặp họ và nói:
XV2: “Các ngươi tố cáo người này về điều gì”.
XV1: Họ đáp:
XV2: “Nếu hắn không phải là tay gian ác, chúng tôi đã không nộp cho quan”.
XV1: Philatô bảo họ:
XV2: “Các ông cứ bắt và xét xử theo luật của các ông”.
XV1: Nhưng người Do-thái đáp lại:
XV2: “Chúng tôi chẳng có quyền giết ai cả”.
XV1: Thế mới ứng nghiệm lời Chúa Giêsu đã nói trước: Người sẽ phải chết cách nào. Bấy giờ Philatô trở vào pháp đình gọi Chúa Giêsu đến mà hỏi:
XV2: “Ông có phải là Vua dân Do-thái không?”
XV1: Chúa Giêsu đáp:
LM: “Quan tự ý nói thế, hay là có người khác nói với quan về tôi?”
XV1: Philatô đáp:
XV2: “Ta đâu phải là người Do-thái. Nhân dân ông cùng các thượng tế đã trao nộp ông cho ta. Ông đã làm gì?”
XV1: Chúa Giêsu đáp:
LM: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thì những người của tôi đã chiến đấu để tôi không bị nộp cho người Do-thái, nhưng nước tôi không thuộc chốn này”.
XV1: Philatô hỏi lại:
XV2: “Vậy ông là Vua ư?”
XV1: Chúa Giêsu đáp:
LM: “Quan nói đúng: Tôi là Vua. Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là chỉ để làm chứng về Chân lý. Ai thuộc về Chân lý thì nghe tiếng tôi”.
XV1: Philatô bảo Người:
XV2: “Chân lý là cái gì?”
XV1: Nói lời này xong, ông lại ra gặp người Do-thái và bảo họ:
XV2: “Ta không thấy nơi người này có lý do để khép án. Nhưng theo tục lệ các ngươi, ta sẽ phóng thích cho các ngươi một tù nhân vào dịp Lễ Vượt Qua. Vậy các ngươi có muốn ta phóng thích Vua Do-thái cho các ngươi chăng?”
XV1: Họ liền la lên:
XV2: “Không phải tên đó, nhưng là Baraba”.
XV1: Baraba là một tên cướp. Bấy giờ Philatô truyền đem Chúa Giêsu đi mà đánh đòn Người. Binh sĩ kết một triều thiên bằng gai nhọn đội lên đầu Người, và chúng mặc cho Người một áo đỏ. Rồi chúng đến gần Người và nói:
XV2: “Tâu Vua Do-thái!”
XV1: Và vả mặt Người. Philatô lại ra ngoài và nói:
XV2: “Đây ta cho dẫn người ấy ra ngoài cho các ngươi để các ngươi biết rằng ta không thấy nơi người ấy một lý do để kết án”.
XV1: Bấy giờ Chúa Giêsu đi ra, đội mão gai và khoác áo đỏ. Philatô bảo họ:
XV2: “Này là Người”.
XV1: Vừa thấy Người, các thượng tế và vệ binh liền la to:
XV2: “Đóng đinh nó vào thập giá! Đóng đinh nó vào thập giá!”
XV1: Philatô bảo họ:
XV2: “Đấy các ngươi cứ bắt và đóng đinh ông vào thập giá, phần ta, ta không thấy lý do nào kết tội ông”.
XV1: Người Do-thái đáp lại:
XV2: “Chúng tôi đã có luật, và theo luật đó nó phải chết, vì nó tự xưng là Con Thiên Chúa”.
XV1: Nghe lời đó Philatô càng hoảng sợ hơn. Ông trở vào pháp đình và nói với Chúa Giêsu:
XV2: “Ông ở đâu đến?”
XV1: Nhưng Chúa Giêsu không đáp lại câu nào. Bấy giờ Philatô bảo Người:
XV2: “Ông không nói với ta ư? Ông không biết rằng ta có quyền đóng đinh ông vào thập giá và cũng có quyền tha ông sao?”
XV1: Chúa Giêsu đáp:
LM: “Quan chẳng có quyền gì trên tôi, nếu từ trên không ban xuống cho, vì thế nên kẻ nộp tôi cho quan, mắc tội nặng hơn”.
XV1: Từ lúc đó Philatô tìm cách tha Người. Nhưng người Do-thái la lên:
XV2: “Nếu quan tha cho nó, quan không phải là trung thần của Xêsa, vì ai xưng mình là vua, kẻ đó chống lại Xêsa”.
XV1: Philatô vừa nghe lời đó, liền cho điệu Chúa Giêsu ra ngoài rồi ông lên ngồi toà xử, nơi gọi là Nền đá, tiếng Do-thái gọi là Gabbatha. Lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu ngày chuẩn bị Lễ Vượt Qua. Philatô bảo dân:
XV2: “Đây là vua các ngươi”.
XV1: Nhưng họ càng la to:
XV2: “Giết đi! Giết đi! Đóng đinh nó đi!”
XV1: Philatô nói:
XV2: “Ta đóng đinh vua các ngươi ư?”
XV1: Các thượng tế đáp:
XV2: “Chúng tôi không có vua nào khác ngoài Xêsa”.
XV1: Bấy giờ quan giao Người cho họ đem đóng đinh. Vậy họ điệu Chúa Giêsu đi. Và chính Người vác thập giá đến nơi kia gọi là Núi Sọ, tiếng Do-thái gọi là Golgotha. Ở đó họ đóng đinh Người trên thập giá cùng với hai người khác nữa: mỗi người một bên, còn Chúa Giêsu thì ở giữa. Philatô cũng viết một tấm bảng và sai đóng trên thập giá. Bảng mang những hàng chữ này: “Giêsu, Nadarét, vua dân Do-thái”. Nhiều người Do-thái đọc được bảng đó, vì nơi Chúa Giêsu chịu đóng đinh thì gần thành phố, mà bảng viết thì bằng tiếng Do-thái, Hy-lạp và La-tinh. Vì thế các thượng tế đến thưa với Philatô:
XV2: Xin đừng viết “Vua dân Do Thái”, nhưng nên viết: “Người này đã nói: ‘Ta là vua dân Do-thái'”.
XV1: Philatô đáp:
XV2: “Điều ta đã viết là đã viết”.
XV1: Khi quân lính đã đóng đinh Chúa Giêsu trên thập giá rồi thì họ lấy áo Người chia làm bốn phần cho mỗi người một phần, còn cái áo dài là áo không có đường khâu, đan liền từ trên xuống dưới. Họ bảo nhau:
XV2: “Chúng ta đừng xé áo này, nhưng hãy rút thăm xem ai được thì lấy”.
XV1: Hầu ứng nghiệm lời Kinh Thánh: “Chúng đã chia nhau các áo Ta và đã rút thăm áo dài của Ta”. Chính quân lính đã làm điều đó. Đứng gần thập giá Chúa Giêsu, lúc đó có Mẹ Người, cùng với chị Mẹ Người là Maria, vợ ông Clopas và Maria Mađalêna. Khi thấy Mẹ và bên cạnh có môn đệ Người yêu, Chúa Giêsu thưa cùng Mẹ rằng:
LM: “Hỡi Bà, này là con Bà”.
XV1: Rồi Người lại nói với môn đệ:
LM: “Này là Mẹ con”.
XV1: Và từ giờ đó môn đệ đã lãnh nhận Bà về nhà mình. Sau đó, vì biết rằng mọi sự đã hoàn tất, để lời Kinh Thánh được ứng nghiệm, Chúa Giêsu nói:
LM: “Ta khát!”
XV1: Ở đó có một bình đầy dấm. Họ liền lấy miếng bông biển thấm đầy dấm cắm vào đầu ngành cây hương thảo đưa lên miệng Người. Khi đã nếm dấm rồi, Chúa Giêsu nói:
LM: “Mọi sự đã hoàn tất”.
XV1: Và Người gục đầu xuống trút hơi thở cuối cùng.
LM: (Quỳ gối thinh lặng thờ lạy trong giây lát)
XV1: Hôm đó là ngày chuẩn bị lễ: để tội nhân khỏi treo trên thập giá trong ngày Sabbat, vì ngày Sabbat là ngày đại lễ, nên người Do-thái xin Philatô cho đánh dập ống chân tội nhân và cho cất xác xuống. Quân lính đến đánh dập ống chân của người thứ nhất và người thứ hai cùng chịu treo trên thập giá với Người. Nhưng lúc họ đến gần Chúa Giêsu, họ thấy Người đã chết, nên không đánh dập ống chân Người nữa, tuy nhiên một tên lính lấy giáo đâm cạnh sườn Người; tức thì máu cùng nước chảy ra. Kẻ đã xem thấy thì đã minh chứng, mà lời chứng của người đó chân thật, và người đó biết rằng mình nói thật để cho các người cũng tin nữa. Những sự việc này đã xảy ra để ứng nghiệm lời Kinh Thánh: “Người ta sẽ không đánh dập một cái xương nào của Người”. Lời Kinh Thánh khác rằng: “Họ sẽ nhìn xem Đấng họ đã đâm thâu qua”.
Sau đó, Giuse người xứ Arimathia, môn đệ Chúa Giêsu, nhưng thầm kín vì sợ người Do-thái, xin Philatô cho phép cất xác Chúa Giêsu. Philatô cho phép. Và ông đến cất xác Chúa Giêsu. Nicôđêmô cũng đến, ông là người trước kia đã đến gặp Chúa Giêsu ban đêm. Ông đem theo chừng một trăm cân mộc dược trộn lẫn với trầm hương. Họ lấy xác Chúa Giêsu và lấy khăn bọc lại cùng với thuốc thơm theo tục khâm liệm người Do-thái. Ở nơi Chúa chịu đóng đinh có cái vườn và trong vườn có một ngôi mộ mới, chưa chôn cất ai. Vì là ngày chuẩn bị lễ của người Do-thái và ngôi mộ lại rất gần, nên họ đã mai táng Chúa Giêsu trong mộ đó.
LM: Đó là lời Chúa.
__________________________
SUY NIỆM & CHIA SẺ:
Trong năm Phụng vụ, Thứ Sáu Tuần thánh là ngày duy nhất KHÔNG CÓ THÁNH LỄ, vì thế Phụng vụ hôm nay không phải là Phụng vụ Thánh Thể mà là Phụng vụ Thánh Giá. Cao điểm của buổi phụng vụ này là nghi thức mở Thánh Giá và thờ lạy Thánh Giá.
Nhưng để giúp chúng ta hiểu biết mầu nhiệm Thánh Giá, ba bài Kinh Thánh vừa nghe lần lượt giới thiệu với chúng ta những khía cạnh của Thánh gía Ðức Kitô, cũng là những nét chính trên khuôn mặt Ðức Kitô ở trên Thánh giá. Là vì từ ngày Người bị đóng đinh, thập giá đã trở thành Thánh giá khi mang xác thánh Người; và như lời thánh Phaolô nói, chúng ta cũng chẳng biết một Ðức Kitô nào khác ngoài chính Ðức Kitô đã bị đóng đinh vào Thập giá.
Nên suy nghĩ về Thánh giá, là chiêm ngưỡng Ðức Kitô chịu đóng đinh. Qua những bài Kinh Thánh vừa nghe, Phụng vụ muốn chúng ta nhìn ngắm Ðức Kitô trên Thánh giá như là Người Tôi Tớ của Thiên Chúa, như là Vị Thượng Tế của Ðạo Mới, và như là Ðấng Hoàng Ðế đã cứu chuộc chúng ta.
_______________________________
LƯỚT QUA CÁC BÀI ĐỌC:
TRONG BÀI ĐỌC I Trích sách Tiên tri Isaia, đây cũng là Bài ca thứ Tư về Người tôi trung của Thiên Chúa.
Tiên tri Isaia nói rõ lý do tại sao Người Tôi Trung của Thiên Chúa chịu đau khổ: Ngài mang lấy thương tích của chúng ta. Ngài đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm. Ngài đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành.
TRONG BÀI ĐỌC II Trích thư gởi tín hữu Do-thái, tác-giả Thư Do Thái chứng minh Chúa Giêsu là Vị Thượng Tế tuyệt hảo, vì Ngài vừa biết những gì nơi Thiên Chúa, vừa biết những gì nơi con người; nên Ngài có thể cầu bầu với Thiên Chúa một cách hiệu quả cho con người. Hơn nữa, vì sự vâng phục Thiên Chúa và những đau khổ Chúa Giêsu chịu, Ngài đã trở nên nguồn ơn cứu độ cho muôn người.
TRONG BÀI THƯƠNG KHÓ theo thánh Gioan, thánh-sử Gioan tường thuật Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu, từ khi Ngài bị phản bội bởi Giuđa cho tới khi ông Joseph Arithmatha và Nicodemus an táng Ngài trong huyệt mộ, Chúa Giêsu biết tất cả những đau khổ xảy đến cho Ngài, và Ngài luôn can đảm đối phó và chịu đựng.
__________________________
ĐI VÀO BÀI THƯƠNG KHÓ:
Vì Bài Thương khó quá dài, nên thay vì đăng nguyên văn, sau đó mới SUY NIỆM như mọi lần, chúng ta vừa trích đoạn vừa suy niệm song song nhau.
[TRÍCH]
Sau khi nói những lời đó, Đức Giê-su đi ra cùng với các môn đệ, sang bên kia suối Kít-rôn. Ở đó, có một thửa vườn, Người cùng với các môn đệ đi vào. Giu-đa, kẻ nộp Người, cũng biết nơi này, vì Người thường tụ họp ở đó với các môn đệ. Vậy, Giu-đa tới đó, dẫn một toán quân cùng đám thuộc hạ của các thượng tế và nhóm Pha-ri-sêu; họ mang theo đèn đuốc và khí giới. Đức Giê-su biết mọi việc sắp xảy đến cho mình, nên tiến ra và hỏi: “Các anh tìm ai?” Họ đáp: “Tìm Giê-su Na-da-rét.” Người nói: “Chính tôi đây.” Giu-đa, kẻ nộp Người, cũng đứng chung với họ. Khi Người vừa nói: “Chính tôi đây”, thì họ lùi lại và ngã xuống đất. Người lại hỏi một lần nữa: “Các anh tìm ai? ” Họ đáp: “Tìm Giê-su Na-da-rét.” Đức Giê-su nói: “Tôi đã bảo các anh là chính tôi đây. Vậy, nếu các anh tìm bắt tôi, thì hãy để cho những người này đi.” Thế là ứng nghiệm lời Đức Giê-su đã nói: “Những người Cha đã ban cho con, con không để mất một ai.”
Ông Si-môn Phê-rô có sẵn một thanh gươm, bèn tuốt ra, nhằm người đầy tớ vị thượng tế, mà chém đứt tai phải của y. Người đầy tớ ấy tên là Man-khô. Đức Giê-su nói với ông Phê-rô: “Hãy xỏ gươm vào bao. Chén mà Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống?”
[SUY NIỆM]
Trước khi xảy ra sự kiện Đức Giêsu chịu nộp mình, Ngài đã cầu nguyện cùng Chúa Cha cho các môn đệ. Đức Giêsu đã cầu nguyện những gì? Ngài xin Chúa Cha gìn giữ họ, Ngài nói: “Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần” (Ga 17, 15). Vâng các môn đệ vẫn phải ở trong thế gian để nối tiếp công việc của Ngài, nhưng không như trước đây, có Ngài ở bên cạnh, Ngài gìn giữ họ. Nay Ngài ra đi, Ngài ủy thác họ cho Chúa Cha, từ nay Chúa Cha sẽ bảo vệ che chở cho họ. Kế tiếp Đức Giêsu xin Chúa Cha thánh hiến họ trong sự thật, vì chỉ có trong sự thật, chỉ có trong chân lý họ mới là những người con đích thực của Thiên Chúa.
Sau đó Đức Giêsu cùng các môn đệ sang bên kia suối Kít-rôn và vào khu vườn. Tên phản bội Giuđa biết rõ khu vườn này, hắn bắt đầu xuất hiện. Lần này trông hắn oai vệ, Gioan nói: “Giuđa dẫn một toán quân cùng đám thuộc hạ của các thượng tế và nhóm Pha-ri-sêu”. Không đợi Giuđa tiến vào, Đức Giêsu biết rõ giờ của Ngài đã đến, Ngài không sợ hãi và tiến ra gặp chúng. Thái độ tự tin này làm cho họ phải khiếp sợ. Họ phải lùi lại và ngã xuống đất mỗi khi Ngài xưng mình là Giêsu, người họ đang cần tìm. Vâng sự kiện ngã xuống của quân dữ, nó muốn nói lên, người của sự tối tăm luôn sợ ánh sáng, và không thể đứng vững trước Đấng là Ánh sáng thế gian. Giuđa cũng ngã với họ, vì y bây giờ đã trở thành con cái của sự tối tăm. Đức Giêsu đã chấp nhận chịu nạp mình vì Ngài đến trần gian là vì việc này, và chỉ yêu cầu họ không được làm hại các môn đệ.
Ông Phêrô là con người khẳng khái, ông không thể đứng yên nhìn Thầy bị bắt, nên đã rút gươm ra hành động. Phêrô đã chém đứt tai phải của người đầy tớ vị thượng tế, nhưng Đức Giêu đã quở trách ông. Ngài nói: “Hãy xỏ gươm vào bao. Chén mà Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống?” Ngài đã chịu nạp mình, đó là do ý Ngài muốn. Tên phản bội Giuđa không nghĩ đến tình huống này, hắn nghĩ Đức Giêsu sẽ dùng quyền năng của Ngài để thoát khỏi tay quân dữ dễ dàng, nhưng hắn đã lầm. Từ đây hắn phải sống trong sự dằn vặt khủng khiếp. Thái độ Đức Giêsu bằng lòng chấp nhận bị bắt làm cho các môn đệ bàng hoàng, sợ hãi.
____________________________
[TRÍCH]
Bấy giờ toán quân và viên chỉ huy cùng đám thuộc hạ của người Do-thái bắt Đức Giê-su và trói Người lại. Trước tiên, họ điệu Đức Giê-su đến ông Kha-nan là nhạc phụ ông Cai-pha. Ông Cai-pha làm thượng tế năm đó. Chính ông này đã đề nghị với người Do-thái là nên để một người chết thay cho dân thì hơn.
Ông Si-môn Phê-rô và một môn đệ khác đi theo Đức Giê-su. Người môn đệ này quen biết vị thượng tế, nên cùng với Đức Giê-su vào sân trong của tư dinh vị thượng tế. Còn ông Phê-rô đứng ở phía ngoài, gần cổng. Người môn đệ kia quen biết vị thượng tế ra nói với chị giữ cổng, rồi dẫn ông Phê-rô vào. Người tớ gái giữ cổng nói với ông Phê-rô: “Cả bác nữa, bác không thuộc nhóm môn đệ của người ấy sao?” Ông liền đáp: “Đâu phải.” Vì trời lạnh, các đầy tớ và thuộc hạ đốt than và đứng sưởi ở đó; ông Phê-rô cũng đứng sưởi với họ. Vị thượng tế tra hỏi Đức Giê-su về các môn đệ và giáo huấn của Người. Đức Giê-su trả lời: “Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ; tôi hằng giảng dạy trong hội đường và tại Đền Thờ, nơi mọi người Do-thái tụ họp. Tôi không hề nói điều gì lén lút. Sao ông lại hỏi tôi? Điều tôi đã nói, xin cứ hỏi những người đã nghe tôi. Chính họ biết tôi đã nói gì.” Đức Giê-su vừa dứt lời, thì một tên trong nhóm thuộc hạ đứng đó vả vào mặt Người mà nói: “Anh trả lời vị thượng tế như thế ư?” Đức Giê-su đáp: “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?” Ông Kha-nan cho giải Người đến thượng tế Cai-pha, Người vẫn bị trói.
Còn ông Si-môn Phê-rô thì vẫn đứng sưởi ở đó. Người ta nói với ông: “Cả bác nữa, bác không thuộc nhóm môn đệ của ông ấy sao?” Ông liền chối: “Đâu phải.” Một trong các đầy tớ của vị thượng tế, có họ với người bị ông Phê-rô chém đứt tai, lên tiếng hỏi: “Tôi đã chẳng thấy bác ở trong vườn với ông ấy sao?” Một lần nữa ông Phê-rô lại chối, và ngay lúc ấy gà liền gáy.
[SUY NIỆM]
Bấy giờ quân dữ đến bắt và trói Đức Giêsu, họ đã làm theo lời Đức Giêsu yêu cầu, không động chạm đến các môn đệ và bắt đầu điệu Ngài đi. Ở đây có sự khác biệt lớn so với Bài Thương khó theo Thánh Matthêu. Ở Matthêu, Đức Giêsu bị điệu ngay đến dinh Thượng tế Cai-Pha, còn ở Gioan, đầu tiên Ngài bị điệu đến Kha-nan, cũng là thượng tế và là nhạc phụ Cai-pha. Ông Kha-nan hỏi Ngài về 02 điểm: về môn đệ và về giáo huấn của Ngài.
Hỏi về môn đệ, có lẽ ông Kha-nan muốn bắt luôn các môn đệ, vì một người lớn tuổi như ông, không ít nhiều cũng có kinh nghiệm chính trường. Muốn nhổ cỏ thì phải nhổ tận gốc. Còn hỏi về Giáo huấn, có lẽ đây là câu hỏi bao trùm một phạm vi rất rộng. Hỏi về giáo huấn, có nghĩa hỏi về một nhân sinh quan, một thiên giới quan, do đó không thể chỉ trong một câu hỏi có thể nói hết được.
Đứng trước câu hỏi của Kha-nan, Đức Giêsu không trả lời trực tiếp, nhưng cũng không im lặng, vì đối với kẻ thù của chân lý, thì không xứng đáng để nghe chân lý. Sự thắc mắc của Kha-nan chỉ là màn kịch, vì những người lãnh đạo Do Thái luôn theo dõi Đức Giêsu, thì hẳn đã biết Ngài nói gì và còn biết rất rõ. Đức Giêsu khẳng định cho Kha-nan biết, Ngài đã nói công khai và không có gì úp mở, mọi người đều nghe, như vậy nếu ông muốn biết thì cứ gặp ai đã nghe Ngài để hỏi.
Trước sự cương quyết và khẳng khái của Đức Giêsu, một tên trong nhóm thuộc hạ đứng đó vả vào mặt Người mà nói: “Anh trả lời vị thượng tế như thế ư?” Đức Giê-su đáp: “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?”
Phản ứng của Đức Giêsu sẽ gây thắc mắc cho nhiều người, Ngài đã từng dạy các môn đệ: “Nếu ai vả má con bên phải, hãy đưa luôn má bên trái nữa”, nhưng ở đây Đức Giêsu đã phản ứng mạnh mẽ. Sự mâu thuẫn này muốn nói lên điều gì? Suy nghĩ về thái độ của Đức Giêsu ta mới tìm ra thái độ đúng đắn khi sống cuộc sống làm người trong mọi hoàn cảnh:
+ Trước những bất công, trước những bóc lột, chà đạp của những kẻ có quyền thế, người yêu mến chân lý phải có nghĩa vụ lên tiếng. Lên tiếng có nghĩa biểu lộ phản kháng lại sự dữ, bênh vực người bị bất công, bị áp bức. Nếu im lặng vì hèn nhát thì họ không xứng đáng là người thuộc về công lý, ta hãy làm hết sức mình trong khả năng có thể, nhưng tuyệt đối không đứng nhìn bất công hoành hành như chỗ không người. Nếu trước bất công, trước sự chà đạp nhân phẩm mà ta im lặng, thì còn nói gì đến Tử Đạo, đó chỉ là sự huênh hoang khoác lác.
+ Trước những sự thiệt thòi có tính cách cá nhân, Đức Giêsu khuyên các môn đệ nên chọn cách sống hòa nhã, khiêm nhu vì chỉ có tình yêu mới chiến thắng được hận thù, mới cảm hóa được con người.
Nói về ông Phêrô, Bài Thương khó theo Gioan có một sự khác biệt so với các Thánh sử khác, ông được một môn đệ khác, Gioan không nói rõ tên người này, ai cũng cho rằng người này là Gioan, Phêrô được môn đệ này dẫn vào sân dinh Thượng tế để theo dõi cuộc xử Thầy mình. Tại đây Phêrô đã chối Đức Giêsu 03 lần theo như lời Ngài đã báo trước. Sau lần chối cuối cùng gà liền gáy. Đây sẽ là vết thương nhức nhối trong suốt cuộc đời còn lại của Phêrô. Nhưng nhờ lần vấp ngã hèn nhát này, Phêrô mới được biến đổi để trở thành vị Tông đồ trưởng theo như lòng Chúa mong ước.
___________________________
[TRÍCH]
Vậy, người Do-thái điệu Đức Giê-su từ nhà ông Cai-pha đến dinh tổng trấn. Lúc đó trời vừa sáng. Nhưng họ không vào dinh kẻo bị nhiễm uế mà không ăn lễ Vượt Qua được. Vì thế, tổng trấn Phi-la-tô ra ngoài gặp họ và hỏi: “Các người tố cáo ông này về tội gì?” Họ đáp: “Nếu ông này không làm điều ác, thì chúng tôi đã chẳng đem nộp cho quan.” Ông Phi-la-tô bảo họ: “Các người cứ đem ông ta đi mà xét xử theo luật của các người.” Người Do-thái đáp: “Chúng tôi không có quyền xử tử ai cả.” Thế là ứng nghiệm lời Đức Giê-su đã nói, khi ám chỉ Người sẽ phải chết cách nào.
Ông Phi-la-tô trở vào dinh, cho gọi Đức Giê-su và nói với Người: “Ông có phải là vua dân Do-thái không?” Đức Giê-su đáp: “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?” Ông Phi-la-tô trả lời: “Tôi là người Do-thái sao? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì?” Đức Giê-su trả lời: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do-thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này.” Ông Phi-la-tô liền hỏi: “Vậy ông là vua sao?” Đức Giê-su đáp: “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.” Ông Phi-la-tô nói với Người: “Sự thật là gì?”
Theo tục lệ của các người, vào dịp lễ Vượt Qua, ta thường tha một người nào đó cho các người. Vậy các người có muốn ta tha vua dân Do-thái cho các người không?” Họ lại la lên rằng: “Đừng tha nó, nhưng xin tha Ba-ra-ba!” Mà Ba-ra-ba là một tên cướp.
[SUY NIỆM]
Ta thấy có một sự gián đoạn không liên tục, nó bị đốt giai đoạn ở dinh Thượng tế Cai-pha. Ở đoạn trước, Gioan nói: “Ông Kha-nan cho giải Người đến thượng tế Cai-pha, Người vẫn bị trói”, nhưng sang đoạn kế tiếp, Gioan viết: “Vậy, người Do-thái điệu Đức Giê-su từ nhà ông Cai-pha đến dinh tổng trấn”. Ta thấy rõ Gioan đã bỏ qua giai đoạn Đức Giêsu ở dinh Thượng tế Cai-pha. Sự bỏ qua như vậy có nghĩa gì? Theo Gioan, thực sự không cần thiết phải tường thuật ở dinh Cai-Pha vì lý do sau đây:
1/. Ở đoạn trên Gioan viết: “Trước tiên, họ điệu Đức Giê-su đến ông Kha-nan là nhạc phụ ông Cai-pha. Ông Cai-pha làm thượng tế năm đó. Chính ông này đã đề nghị với người Do-thái là nên để một người chết thay cho dân thì hơn.” Ông Cai-pha nói câu này trong Thượng hội đồng xảy ra trước đó. Như vậy ông Cai-pha đã có sẵn bản án dành cho Đức Giêsu ngay trước khi Ngài bị bắt, do đó không cần tường thuật tại dinh Cai-pha.
2/. Cho dù có tường thuật sự kiện xảy ra tại dinh Cai-pha cũng chẳng ích gì chỉ làm mất thời giờ, vì người có thể ra bản án cho Đức Giêsu đó là Quan tổng trấn Philatô, vị đại diện cho đế quốc La Mã tại nước Do Thái.
Khi đến dinh Quan tổng trấn, Gioan viết: “Lúc đó trời vừa sáng”, có nghĩa bóng tối đã bị đẩy lùi, bây giờ là lúc ánh sáng và sự thật xuất hiện, báo hiệu cho một phiên tòa công bằng sẽ bắt đầu.
Một chi tiết thú vị nữa Gioan đề cập ở đây: “Họ không vào dinh kẻo bị nhiễm uế mà không ăn lễ Vượt Qua được”, Philatô là dân ngoại, người Do Thái không muốn vào dinh vì sợ ô uế. Thật mỉa mai, khi người ta tuân giữ nghiêm ngặt lề luật của Thiên Chúa, nhưng lại muốn giết chính Con Thiên Chúa. Vậy thái độ giữ luật của họ còn giá trị nữa không. Họ không vào, có nghĩa bên Nguyên cáo không vào, đứng ở ngoài; còn Đức Giêsu lại vào trong, có nghĩa bị cáo phải vào trong để quan xét xử. Thật lố bịch, trên thế giới chưa có phiên tòa lại kỳ lạ như vậy. Bên nguyên cáo ở ngoài sân, còn bị cáo lại ở trong tòa án. Ngay sự kiện này ta cũng thấy phiên tòa này sẽ có nhiều chuyện để nói.
Ông Philatô phải đích thân ra gặp họ, tức gặp bên nguyên cáo và hỏi họ nộp người này (Đức Giêsu) vì tội gì? Và ai cũng thấy tức cười cho lời kết tội của họ, Gioan viết: “Nếu ông này không làm điều ác, thì chúng tôi đã chẳng đem nộp cho quan.” Kết tội một người mà không nêu tội của họ, vậy có nghĩa gì? “Nếu ông này không làm điều ác”, thật một câu kết tội ngớ ngẩn nhất trong lịch sử. Nó hoàn toàn chủ quan, vậy chẳng lẽ khi không ưa ai, ta cứ cho rằng, nếu nó không làm điều ác, thì ta chẳng đưa ra tòa án sao. Chắc ông chánh án phải mỉm cười, đúng là một lũ người xảo quyệt, có tâm địa xấu xa.
Philatô đã phản ứng như ta tiên đoán, Gioan viết: “Các người cứ đem ông ta đi mà xét xử theo luật của các người.” Ông không muốn xử những phiên tòa như vậy, ông không rảnh. Nhưng khổ nỗi, người Do Thái lại không có quyền xử, vì nước Do Thái đang bị La Mã cai trị, muốn kết án người nào phải do vị đại diện La Mã quyết định. Gioan viết: “Chúng tôi không có quyền xử tử ai cả.” Họ nói câu này có nghĩa gì? Có nghĩa họ đã định tội chết cho Đức Giêsu, phải xử tử, nhưng họ muốn dùng tay Philatô để làm việc đó cho đúng luật pháp hiện hành. Họ coi thường quan Tổng trấn quá mức và Philatô đã thấy rõ điều này.
Sau khi nói chuyện với bên nguyên cáo, Philatô vào trong để thẩm vấn bên bị cáo, Đức Giêsu. Đây là một lợi thế rất lớn cho Đức Giêsu, vì bên nguyên cáo không đưa ra một tội nào cụ thể. Đối với Philatô, Đức Giêsu không có tội gì hết.
Philatô hỏi Đức Giêsu 02 câu hỏi:
– Câu hỏi 1: “Ông có phải là vua dân Do-thái không?”
– Câu hỏi 2: “Ông đã làm gì?”
Về câu hỏi thứ nhất: Đức Giêsu xác nhận Ngài là Vua. Nhưng Ngài cho Philatô biết, vương quyền của Ngài, như Gioan viết: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do-thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này.”
Philatô không thể hiểu câu nói của Đức Giêsu, vì nếu Ngài là vua, thì phải có một lãnh thổ, có dân chúng, có quân đội,… tức phải có một thực thể chính trị. Philatô đã xác định: “Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi”. Nhưng ở đây Đức Giêsu lại nói: “Nước tôi không thuộc chốn này”, đối với Philatô, vậy nước đó ở đâu? Đó là một khái niệm rất mù mờ, Philatô làm sao có thể hiểu được một vị vua như vậy. Đức Giêsu sẽ giải thích trong câu trả lời thứ hai.
Câu hỏi thứ hai: “Ông đã làm gì?” Đức Giêsu trả lời: “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.” Có nghĩa nước của Đức Giêsu, mặc dù vẫn ở trong thế gian, nhưng không thuộc về thế gian. Nước đó bao gồm những ai yêu mến sự thật và sống sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì thuộc về nước đó.
Trước câu trả lời của Đức Giêsu, Philatô đã hiểu, nước đó như thế nào, đó là một nước vô hình. Nhưng vấn đề Philatô đặt ra: đó là Sự thật. Thế nào là sự thật, Gioan viết: “Ông Phi-la-tô nói với Người: “Sự thật là gì?” Ông hỏi chỉ để hỏi mà không muốn đi tiếp vào câu chuyện. Đến đây phần thẩm vấn bên bị cáo đã xong. Như vậy, nguyên cáo không đưa ra một tội nào cụ thể và bị cáo cũng không biện minh rõ ràng chỉ là những vấn đề rất siêu hình mà một ông quan như Philatô không thể nào hiểu nổi.. Kết luận Đức Giêsu vô tội.
Nhưng Philatô cũng hiểu người Do Thái, hiểu Do Thái giáo, ông cũng thấy vẻ mặt đằng đằng sát khí của các Thượng tế, kỳ mục,… và cả những người Do Thái bị xúi giục, đó là thành phần đáng kể ông không thể coi thường. Sự nghiệp chính trị của ông có thể bị chấm dứt do sự kiện này, vì không ổn định được tình hình. Ông thấy rõ Đức Giêsu vô tội, nhưng ông không muốn chọc giận người Do Thái. Ông đã tìm thấy một kẽ hở để thoát thân dựa vào tục lệ.
Gioan viết: “Philatô nói: “Theo tục lệ của các người, vào dịp lễ Vượt Qua, ta thường tha một người nào đó cho các người. Vậy các người có muốn ta tha vua dân Do-thái cho các người không?” Ông khôn khéo chọn Baraba là một tên cướp khét tiếng làm đối trọng với Đức Giêsu để cho họ chọn. Ông tin chắc họ sẽ xin tha Đức Giêsu, vì ông biết Ngài đã làm bao việc tốt đẹp, thì không lẽ thua tên cướp kia.
Nhưng Philatô đã lầm, Gioan viết: “Họ lại la lên rằng: “Đừng tha nó, nhưng xin tha Ba-ra-ba!” Mà Ba-ra-ba là một tên cướp.”
____________________________
[TRÍCH]
Bấy giờ ông Phi-la-tô truyền đem Đức Giê-su đi và đánh đòn Người. Bọn lính kết một vòng gai làm vương miện, đặt lên đầu Người, và khoác cho Người một áo choàng đỏ. Họ đến gần và nói: “Kính chào Vua dân Do-thái!”, rồi vả vào mặt Người.
Ông Phi-la-tô lại ra ngoài và nói với người Do-thái: “Đây ta dẫn ông ấy ra ngoài cho các người, để các người biết là ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông ấy.” Vậy, Đức Giê-su bước ra ngoài, đầu đội vương miện bằng gai, mình khoác áo choàng đỏ. Ông Phi-la-tô nói với họ: “Đây là người!” Khi vừa thấy Đức Giê-su, các thượng tế cùng các thuộc hạ liền kêu lên rằng: “Đóng đinh, đóng đinh nó vào thập giá!” Ông Phi-la-tô bảo họ: “Các người cứ đem ông này đi mà đóng đinh vào thập giá, vì phần ta, ta không tìm thấy lý do để kết tội ông ấy.” Người Do-thái đáp lại: “Chúng tôi có Lề Luật; và chiếu theo Lề Luật, thì nó phải chết, vì nó đã xưng mình là Con Thiên Chúa.”
Nghe lời đó, ông Phi-la-tô càng sợ hơn nữa. Ông lại trở vào dinh và nói với Đức Giê-su: “Ông từ đâu mà đến?” Nhưng Đức Giê-su không trả lời. Ông Phi-la-tô mới nói với Người: “Ông không trả lời tôi ư? Ông không biết rằng tôi có quyền tha và cũng có quyền đóng đinh ông vào thập giá sao?” Đức Giê-su đáp lại: “Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài. Vì thế, kẻ nộp tôi cho ngài thì mắc tội nặng hơn.”
Từ đó, ông Phi-la-tô tìm cách tha Người. Nhưng dân Do-thái kêu lên rằng: “Nếu ngài tha nó, ngài không phải là bạn của Xê-da. Ai xưng mình là vua, thì chống lại Xê-da.” Khi nghe thấy thế, ông Phi-la-tô truyền dẫn Đức Giê-su ra ngoài. Ông đặt Người ngồi trên tòa, ở nơi gọi là Nền Đá, tiếng Híp-ri là Gáp-ba-tha. Hôm ấy là ngày áp lễ Vượt Qua, vào khoảng mười hai giờ trưa. Ông Phi-la-tô nói với người Do-thái: “Đây là vua các người!” Họ liền hô lớn: “Đem đi! Đem nó đi! Đóng đinh nó vào thập giá!” Ông Phi-la-tô nói với họ: “Chẳng lẽ ta lại đóng đinh vua các người sao?” Các thượng tế đáp: “Chúng tôi không có vua nào cả, ngoài Xê-da.” Bấy giờ ông Phi-la-tô trao Đức Giê-su cho họ đóng đinh vào thập giá.
[SUY NIỆM]
Nếu độc giả theo dõi, ta sẽ thấy Philatô kiên định trong lập trường: Đức Giêsu vô tội, và ông quyết tìm mọi cách tha Đức Giêsu. Nhưng Philatô đã bộc lộ một nhược điểm rõ nét, ông sợ người Do Thái làm loạn, điều này sẽ ảnh hưởng đến sự nghiệp chính trị của ông. Ông có thể bị mất chức vì vụ này, vì ông không có khả năng xử án và ổn định tình hình. Giữa 02 tâm trạng đó, Philatô đã thực hiện các giải pháp để tha Đức Giêsu.
GIẢP PHÁP 1: Đặt Baraba làm đối trọng với Đức Giêsu.
Đưa Baraba, một tên cướp khét tiếng làm đối trọng với Đức Giêsu để dân chọn. Ông hy vọng họ sẽ chọn Đức Giêsu, nhưng ai ngờ người Do Thái bị các bậc đàn anh xúi giục xin tha Baraba.
GIẢI PHÁP 2: Philatô dùng Khổ nhục kế nhằm thỏa mãn sự hằn học của người Do Thái để cứu Đức Giêsu
Gioan viết: “Bấy giờ ông Phi-la-tô truyền đem Đức Giê-su đi và đánh đòn Người. Bọn lính kết một vòng gai làm vương miện, đặt lên đầu Người, và khoác cho Người một áo choàng đỏ.
Sau đó, theo Gioan, ông Phi-la-tô lại ra ngoài và nói với người Do-thái: “Đây ta dẫn ông ấy ra ngoài cho các người, để các người biết là ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông ấy.” Vậy, Đức Giê-su bước ra ngoài, đầu đội vương miện bằng gai, mình khoác áo choàng đỏ. Ông Phi-la-tô nói với họ: “Đây là người!” Philatô hy vọng, với một người từng thi ân giáng phúc cho họ, con cháu họ, mà bây giờ mình đầy máu me, đầu đội vòng gai, … dù có dữ dằn đến đâu họ cũng phải nguôi giận mà tha cho Đức Giêsu. Nhưng ông lại bị lầm. Gioan viết: “Khi vừa thấy Đức Giê-su, các thượng tế cùng các thuộc hạ liền kêu lên rằng: “Đóng đinh, đóng đinh nó vào thập giá!”
Philatô thấy tình hình đã đi ra ngoài sự kiểm soát của mình, ông không muốn can dự vào nữa. Ông muốn trả lại cho người Do Thái muốn làm gì thì làm đối với Đức Giêsu. Gioan viết: “Philatô nói với họ: “Các người cứ đem ông này đi mà đóng đinh vào thập giá, vì phần ta, ta không tìm thấy lý do để kết tội ông ấy.” Đây là điều người Do Thái không muốn, vì họ không có quyền gì xử tội ai hết. Họ muốn mượn tay Philatô để giết Đức Giêsu mới hợp pháp.
Lúc này người Do Thái vì sự xúi bẩy của các bậc đàn anh, họ nói: “Chúng tôi có Lề Luật; và chiếu theo Lề Luật, thì nó phải chết, vì nó đã xưng mình là Con Thiên Chúa.” Bây giờ người Do Thái muốn xử dụng lề luật và Philatô hiểu: Đã đụng chạm đến tôn giáo. Ông rất sợ điều này, vì Do Thái Giáo ông biết rất rõ, làm gì thì làm tuyệt đối không được đụng đến lề luật của họ. Như vậy Philatô lại thất bại.
GIẢI PHÁP 3: Philatô dùng quyền của vị Tổng trấn.
Bây giờ Philatô trở vào trong, ông gặp Đức Giêsu, bên bị cáo, ông hỏi Ngài: “Ông từ đâu mà đến?”, nhưng Ngài không trả lời. Philatô dùng quyền của mình để buộc Đức Giêsu phải trả lời. Gioan viết: “Ông không trả lời tôi ư? Ông không biết rằng tôi có quyền tha và cũng có quyền đóng đinh ông vào thập giá sao?” Nhưng Đức Giêsu đã cho Philatô biết rõ quyền của ông ở chỗ nào, Ngài nói: “Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài. Vì thế, kẻ nộp tôi cho ngài thì mắc tội nặng hơn.”
Độc giả để ý cụm từ: “nếu Trời chẳng ban cho ngài”, có nghĩa mọi quyền lực trần gian người ta có được là do Thiên Chúa ban cho. Ngài ban cho họ quyền để làm gì? Thưa: để mưu cầu ích lợi cho những người dưới quyền mình. Như vậy, Đức Giêsu muốn đưa ra quan điểm đúng đắn về quyền lực. Người dân phải biết tôn trọng luật pháp, vì tôn trọng luật pháp là tôn trọng Thiên Chúa, vì mọi quyền lực đều do Thiên Chúa ban. Mặt khác, quyền lực để phục vụ con người, những ai ỷ lại quyền lực đang có để làm mưa làm gió, người đó không xứng đáng ở vị trí đó, cần phải thay thế để đưa người khác xứng đáng hơn.
Philatô lại trở ra bên ngoài gặp nguyên cáo. Người Do Thái biết rõ Philatô đang tìm cách tha Đức Giêsu, họ sẽ dùng một đòn cân não cuối cùng đánh vào ông. Gioan viết: “Nếu ngài tha nó, ngài không phải là bạn của Xê-da. Ai xưng mình là vua, thì chống lại Xê-da.” Người Do Thái dùng chính danh nghĩa Hoàng đế Xêda, như vậy nếu Philatô tha cho Đức Giêsu thì ông đang đứng về phía người phản loạn, vì Đức Giêsu đã xưng mình là vua. Trong một nước bị đô hộ như Do Thái, mặc dù vẫn có vua, nhưng vua đó phải do Xêda đặt lên hay phong cho. Ai tự mình xưng là vua, người đó sẽ bị kết tội phản loạn. Như vậy dưới con mắt của La Mã, Đức Giêsu là kẻ phản loạn vì xưng mình là vua, Philatô không còn lý do gì bênh vực Ngài được nữa. Ông đã hết cách. Vấn đề ở đây là phải giữ cái ghế của ông, giữ sự nghiệp chính trị mà ông đang có.
Cuối cùng Phi-la-tô trao Đức Giê-su cho họ đóng đinh vào thập giá. Như vậy người Do Thái đã thành công trong một phiên tòa ô danh nhất trong lịch sử nhân loại: Nguyên cáo không đưa ra được tội nào để kết án. Bị cáo hoàn toàn vô tội. Quan chánh án biết rõ bị cáo vô tội. Nhưng cuối cùng bị cáo, Đức Giêsu lại bị đóng đinh vào thập giá, bị kết án tử. Thật là vết nhơ ngàn đời cho người Do Thái, một dân tộc luôn lấy lề luật làm trọng.
Ngày nay, mặc dù là thời đại văn minh, dân trí đã được nâng cao, nhưng vẫn có những phiên toà bất công như vậy, người ta chỉ vì lên tiếng bênh vực quyền lợi của mình khi bị bất công, cướp đoạt tài sản, nhà cửa, ruộng vườn cho những công trình sinh thái vô bổ nhưng không không được đền vù thoả đáng, họ là những dân oan, họ đã bị kết án gây rối trật tự công cộng rồi bị bỏ tù. Họ là những người dám lên tiếng bảo vệ nhân quyền, bảo vệ quyền chính đáng của con người thì lại bị kết án phản động, có âm mưu lật đổ chính quyền, cuối cùng họ cũng bị bỏ tù,… Ngày nay vẫn có những phiên toà được rêu rao là công khai, nhưng lại không cho người ta vào tham dự,…. chỉ vì muốn kín đáo toa rập với nhau trù dập bị cáo,…. Như vậy, phiên toà xử Đức Giêsu hôm nay đã được tái diễn trên thực tế mà ta có cơ hội chứng kiến.
________________________________
[TRÍCH]
Chính Người vác lấy thập giá đi ra, đến nơi gọi là Cái Sọ, tiếng Híp-ri là Gôn-gô-tha; tại đó, họ đóng đinh Người vào thập giá, đồng thời cũng đóng đinh hai người khác nữa, mỗi người một bên, còn Đức Giê-su thì ở giữa. Ông Phi-la-tô cho viết một tấm bảng và treo trên thập giá; bảng đó có ghi: “Giê-su Na-da-rét, Vua dân Do-thái.” Trong dân Do-thái, có nhiều người đọc được bảng đó, vì nơi Đức Giê-su bị đóng đinh là một địa điểm ở gần thành. Tấm bảng này viết bằng các tiếng: Híp-ri, La-tinh và Hy-lạp. Các thượng tế của người Do-thái nói với ông Phi-la-tô: “Xin ngài đừng viết: “Vua dân Do-thái”, nhưng viết: “Tên này đã nói: Ta là Vua dân Do-thái”. Ông Phi-la-tô trả lời: “Ta viết sao, cứ để vậy!”
[SUY NIỆM]
Sau khi bản án được tuyên qua việc Philatô trao Đức Giêsu cho người Do Thái đem đi đóng đinh. Gioan viết: “Chính Người vác lấy thập giá đi ra, đến nơi gọi là Cái Sọ, tiếng Híp-ri là Gôn-gô-tha” Có lẽ đây là hình phạt man rợ nhất, người tử tội phải vác lấy chính thập giá mà lát nữa đây mình sẽ bị đóng vào đó, thật ác nghiệt.
Gôn-gô-tha là địa điểm ngoài thành Giêrasalem, nhưng rất gần với thành, nó muốn nói rằng: Đức Giêsu, Con Thiên Chúa đã bị loại ra khỏi thành thánh, thành của Thiên Chúa. Ngài bị liệt vào hàng tội lỗi vì cùng bị đóng đinh với 02 người tội lỗi khác.
Chỉ còn một điều duy nhất mà Philatô có thể làm, đó cũng là cách mà ông muốn trả đũa người Do Thái vì ông bị họ dồn đến chân tường khi xử người công chính. Gioan viết: “Ông Phi-la-tô cho viết một tấm bảng và treo trên thập giá; bảng đó có ghi: “Giê-su Na-da-rét, Vua dân Do-thái.” Tấm bảng này sẽ là điều sỉ nhục người Do Thái, vì chính tay họ đã đóng đinh vua của mình, thì họ suốt đời bị mang nhục và phải làm kiếp nô lệ. Lịch sử đã chứng minh điều đó.
Tấm bảng đã chạm đến nỗi đau của họ, họ xin Philatô cho sửa lại nội dung tấm bảng. Họ đề nghị: “Xin ngài đừng viết: “Vua dân Do-thái”, nhưng viết: “Tên này đã nói: Ta là Vua dân Do-thái”.
Nhưng Philatô đã trả lời họ bằng câu nói thời danh và lạnh lùng: “Ta viết sao, cứ để vậy!” Philatô có thể nhượng bộ họ điều này điều kia, nhưng trong chuyện này ông rất cương quyết. Như vậy trong lịch sử, người Do Thái luôn giết các ngôn sứ và tiên tri, bây giờ họ giết chính Con Thiên Chúa.
__________________________
[TRÍCH]
Đóng đinh Đức Giê-su vào thập giá xong, lính tráng lấy áo xống của Người chia làm bốn phần, mỗi người một phần; họ lấy cả chiếc áo dài nữa. Nhưng chiếc áo dài này không có đường khâu, dệt liền từ trên xuống dưới. Vậy họ nói với nhau: “Đừng xé áo ra, cứ bắt thăm xem ai được.” Thế là ứng nghiệm lời Kinh Thánh: Áo xống tôi, chúng đem chia chác, cả áo dài, cũng bắt thăm luôn. Đó là những điều lính tráng đã làm.
Đứng gần thập giá Đức Giê-su, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Ma-ri-a vợ ông Cơ-lô-pát, cùng với bà Ma-ri-a Mác-đa-la. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giê-su nói với thân mẫu rằng: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Rồi Người nói với môn đệ: “Đây là mẹ của anh.” Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.
Sau đó, Đức Giê-su biết là mọi sự đã hoàn tất. Và để ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Người nói: “Tôi khát!” Ở đó, có một bình đầy giấm. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Người. Nhắp xong, Đức Giê-su nói: “Thế là đã hoàn tất!” Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.
[SUY NIỆM]
Độc giả để ý một chi tiết: Cuộc đời của Đức Giêsu luôn ứng nghiệm mọi lời Kinh thánh nói về Ngài. Áo của tử tội thuộc về quân lính hành hình, áo của Đức Giêsu có hai loại: Áo có đường khâu, thì sẽ chia làm 04, còn áo không có đường khâu, liền một mạch thì họ sẽ bốc thăm. Gioan viết: “Thế là ứng nghiệm lời Kinh Thánh: Áo xống tôi, chúng đem chia chác, cả áo dài, cũng bắt thăm luôn.
Có 04 câu nói cuối cùng của Đức Giêsu trên thập giá theo Gioan:
Câu thứ nhất: “Thưa Bà, đây là con của Bà.”
Câu thứ hai: “Đây là mẹ của anh.”
Hai câu này, Đức Giêsu nói với Đức Mẹ và Thánh Gioan đang dưới chân thập giá, Đức Giêsu muốn trao Đức Mẹ cho thánh Gioan thay Ngài chăm sóc. Đồng thời Ngài trao Gioan cho Đức Mẹ. Gioan sẽ đại diện cho toàn thể nhân loại để từ đây, nhân loại sẽ là con của Mẹ.
Câu thứ ba: “Tôi khát!”
Đức Giêsu chịu cực hình, đánh đòn, thân Ngài bị máu me đầy khắp, Ngài sẽ bị mất nước trầm trọng. Như vậy, Ngài sẽ lâm vào tình trạng thiếu nước. Câu “Ta khát” đã nói lên điều đó. Nhưng câu nói của Đức Giêsu phải được hiểu theo nghĩa sâu xa hơn. Ngài đang khao khát con người, khao khát linh hồn, vì biết bao người đang sống ngoài tình yêu của Thiên Chúa, Ngài mong muốn con người trở về với Thiên Chúa. Cái chết của Đức Giêsu sẽ là nguồn ơn cứu rỗi cho con người qua mọi thời đại.
Câu thứ tư: “Thế là đã hoàn tất!”
Đức Giêsu đã thi hành Thánh Ý Chúa Cha một cách trọn vẹn. Ngài từng nói với người Do Thái, Ngài từ Thiên Chúa mà đến và Ngài đến trần gian này để thi hành Thánh ý Chúa Cha. Với cái chết của Ngài trên thập giá, Đức Giêsu đã trở nên Hy tế để giao hòa con người với Thiên Chúa, trả cho họ quyền làm con Thiên Chúa, và trả lại cho họ sự sống đã mất vì tội Nguyên tổ. Và bây giờ mọi sự đã hoàn tất.
____________________________
[TRÍCH]
Sau đó, ông Giô-xếp, người A-ri-ma-thê, xin ông Phi-la-tô cho phép hạ thi hài Đức Giê-su xuống. Ông Giô-xếp này là một môn đệ theo Đức Giê-su, nhưng cách kín đáo, vì sợ người Do-thái. Ông Phi-la-tô chấp thuận. Vậy, ông Giô-xếp đến hạ thi hài Người xuống. Ông Ni-cô-đê-mô cũng đến. Ông này trước kia đã tới gặp Đức Giê-su ban đêm. Ông mang theo chừng một trăm cân mộc dược trộn với trầm hương. Các ông lãnh thi hài Đức Giê-su, lấy băng vải tẩm thuốc thơm mà quấn, theo tục lệ chôn cất của người Do-thái. Nơi Đức Giê-su bị đóng đinh có một thửa vườn, và trong vườn, có một ngôi mộ còn mới, chưa chôn cất ai. Vì hôm ấy là ngày áp lễ của người Do-thái, mà ngôi mộ lại gần bên, nên các ông mai táng Đức Giê-su ở đó.
[SUY NIỆM]
Đức Giêsu đã tắt thở, bây giờ là lúc hạ xác Ngài để mai táng trong mộ. Công việc phải khẩn trương vì hôm nay là ngày áp lễ của người Do Thái.
Ta thấy có một sự kiện nổi bật, người xin Philatô cho phép hạ thi hài Đức Giêsu xuống là ông Giô-xếp, người A-ri-ma-thê. Theo Gioan, Ông Giô-xếp này là một môn đệ theo Đức Giê-su, nhưng cách kín đáo, vì sợ người Do-thái.
Người thứ hai là ông Nicôđêmô, theo Gioan, ông này trước kia đã tới gặp Đức Giê-su ban đêm. Hai ông này lãnh thi hài Đức Giêsu và mai táng trong mộ. Độc giả có thể đặt câu hỏi: Tại sao trước đây họ nhút nhát không dám ra mặt vì sợ người Do Thái, bây giờ họ xuất hiện công khai làm công việc táng xác?
Thưa: Vì cái chết của Đức Giêsu đã làm thỏa mãn người Do Thái, từ nay họ sẽ ăn ngon ngủ yên, không còn bận tâm gì về ông Giêsu nữa. Mặt khác, chính cái chết của Đức Giêsu đã chôn sự nhút nhát của những người không dám ra mặt, chôn sự nhút nhát đó vào trong nấm mộ cùng với Ngài, để những con người đó trở nên mạnh mẽ phi thường như chưa bao giờ biết sợ. Họ đã được cái chết của Ngài biến đổi
Lạy Chúa Giê-su, con còn có thể nói gì trước tình thương bao la của Chúa dành cho con? Con chỉ biết cúi đầu xin Chúa ơn tha thứ và xin Chúa gia tăng tình yêu của Chúa trong con mỗi ngày một hơn.
Amen.
_______________________
Giuse Nguyễn Viết Tâm.

