CÁC BÀI ĐỌC TRONG THÁNH LỄ VỌNG PHỤC SINH 2016
(26/3/2016) – (Lc 24, 1-12)
“TẠI SAO CÁC BÀ TÌM NGƯỜI SỐNG NƠI NHỮNG KẺ CHẾT?”
CHÚ Ý: Đề nghị đọc chín bài đọc, bảy bài Trích ở Cựu Ước và hai bài trích ở Tân Ước. Nếu hoàn cảnh không cho phép, và khi có lý do đặc biệt, có thể bớt số bài đọc. Nhưng phải đọc ít là ba bài trích ở Cựu Ước trước Thánh Thư và Tin Mừng; còn nếu gấp quá, thì đọc ít là hai bài đọc trước Thánh Thư và Tin Mừng. Nhưng không khi nào được bỏ bài trích SÁCH XUẤT HÀNH (Xh 14, 15 – 15, 1) nói về việc qua Biển Đỏ.
BÀI ĐỌC I: St 1, 1 – 2, 2 {hoặc 1, 1. 26-31a}
“Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm thật là tốt đẹp”.
Trích sách Sáng Thế.
Từ nguyên thuỷ Thiên Chúa đã tạo thành trời đất. Đất còn hoang vu trống rỗng, tối tăm bao trùm vực thẳm, và thần trí Thiên Chúa bay sà trên mặt nước.
Thiên Chúa phán: “Hãy có ánh sáng”. Và có ánh sáng. Thiên Chúa thấy ánh sáng tốt đẹp, Người phân rẽ ánh sáng khỏi tối tăm. Thiên Chúa gọi ánh sáng là ngày, tối tăm là đêm. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ nhất.
Thiên Chúa phán: “Hãy có một vòm trời ở giữa nước, phân rẽ nước với nước”; và Thiên Chúa làm nên vòm trời, và phân rẽ nước phía dưới vòm trời với nước phía trên vòm trời. Và xảy ra như vậy. Thiên Chúa gọi vòm đó là trời. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ hai.
Thiên Chúa phán: “Nước dưới trời hãy tụ lại một nơi, để lộ ra chỗ khô cạn. Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa gọi chỗ khô cạn là đất, và Người gọi khối nước là biển. Thiên Chúa thấy tốt đẹp. Và Thiên Chúa phán: “Đất hãy trổ sinh thảo mộc xanh tươi mang hạt giống; và cây ăn trái phát sinh trái theo giống nó, và trong trái có hạt giống, trên mặt đất. Và đã xảy ra như vậy. Tức thì đất sản xuất thảo mộc xanh tươi mang hạt theo giống nó, và cây phát sinh trái trong có hạt tuỳ theo loại nó. Và Thiên Chúa thấy nó tốt đẹp. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ ba.
Thiên Chúa còn phán: “Hãy có những vật sáng trên vòm trời và hãy phân chia ngày và đêm, và trở thành dấu chỉ thời gian, ngày và năm tháng, để soi sáng trên vòm trời và giãi sáng mặt đất”. Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa đã làm nên hai vầng sáng lớn: Vầng sáng lớn hơn làm chủ ban ngày, và vầng sáng nhỏ hơn làm chủ ban đêm; Và Ngài cũng làm nên các tinh tú. Thiên Chúa đặt chúng trên vòm trời để soi sáng trên mặt đất, và làm chủ ngày đêm, và phân chia ánh sáng với tối tăm. Thiên Chúa thấy nó tốt đẹp. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ tư.
Thiên Chúa lại phán: “Nước hãy sản xuất những sinh vật bò sát, và loài chim bay trên mặt đất, dưới vòm trời. Vậy Thiên Chúa tạo thành những cá lớn, mọi sinh vật sống động mà nước sản xuất theo loại chúng, và mọi chim bay tuỳ theo giống. Thiên Chúa thấy chúng tốt đẹp. Thiên Chúa chúc phúc cho chúng rằng: “Hãy sinh sôi nẩy nở cho nhiều, đầy nước biển; loài chim hãy sinh cho nhiều trên mặt đất”. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ năm.
Thiên Chúa lại phán: “Đất hãy sản xuất các sinh vật tuỳ theo giống: gia súc, loài bò sát và dã thú dưới đất tuỳ theo loại”. Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa đã dựng nên dã thú dưới đất tuỳ theo loại, gia súc, và mọi loài bò sát dưới đất tuỳ theo giống. Thiên Chúa thấy chúng tốt đẹp. Và Thiên Chúa phán: “Chúng ta hãy dựng nên con người theo hình ảnh giống như Ta, để chúng làm chủ cá biển, chim trời, dã thú khắp mặt đất và tất cả loài bò sát di chuyển trên mặt đất”.
Vậy Thiên Chúa đã tạo thành con người giống hình ảnh Chúa, Chúa tạo thành con người giống hình ảnh Thiên Chúa. Người tạo thành họ có nam có nữ.
Thiên Chúa chúc phúc cho họ và phán rằng: “Hãy sinh sôi nẩy nở cho nhiều, đầy mặt đất, và thống trị nó; hãy bá chủ cá biển, chim trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt đất”. Thiên Chúa phán: “Đây Ta ban cho các ngươi làm thức ăn mọi thứ cây cỏ mang hạt giống trên mặt đất và toàn thể thảo mộc sinh trái có hạt tuỳ theo giống. Ta ban mọi thứ cây cỏ xanh tươi làm thức ăn cho mọi loài dã thú trên mặt đất, chim trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt đất”. Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm rất tốt đẹp. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ sáu.
Thế là trời đất và mọi trang điểm của chúng đã hoàn thành. Ngày thứ bảy Thiên Chúa đã hoàn tất công việc Người đã làm. Và sau khi hoàn tất công việc Người đã làm, thì ngày thứ bảy Người nghỉ ngơi.
Đó là lời Chúa.
__________________________
Hoặc bài vắn này: St 1, 1. 26-31a
Từ nguyên thuỷ Thiên Chúa đã tạo thành trời đất. Và Thiên Chúa phán: “Chúng ta hãy dựng nên con người theo hình ảnh giống như Ta, để chúng làm chủ cá biển, chim trời, dã thú khắp mặt đất và tất cả loài bò sát di chuyển trên mặt đất”.
Vậy Thiên Chúa đã tạo thành con người giống hình ảnh Chúa, Chúa tạo thành con người giống hình ảnh Thiên Chúa. Người tạo thành họ có nam có nữ.
Thiên Chúa chúc phúc cho họ và phán rằng: “Hãy sinh sôi nẩy nở cho nhiều, đầy mặt đất, và thống trị nó; hãy bá chủ cá biển, chim trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt đất”. Thiên Chúa phán: “Đây Ta ban cho các ngươi làm thức ăn mọi thứ cây cỏ mang hạt giống trên mặt đất và toàn thể thảo mộc sinh trái có hạt tuỳ theo giống. Ta ban mọi thứ cây cỏ xanh tươi làm thức ăn cho mọi loài dã thú trên mặt đất, chim trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt đất”. Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm rất tốt đẹp.
Đó là lời Chúa.
BÀI ĐỌC II: St 22, 1-18 (Bài dài)
“Của lễ hiến tế của Abraham, Tổ phụ chúng ta”.
Trích sách Sáng Thế.
Trong những ngày ấy, Chúa thử Abraham và nói với ông rằng: “Abraham, Abraham”. Ông đáp lại: “Dạ, con đây”. Chúa nói: “Ngươi hãy đem Isaac, đứa con một yêu dấu của ngươi, và đi đến đất Moria, ở đó ngươi sẽ dâng nó làm của lễ toàn thiêu trên núi Ta sẽ chỉ cho ngươi”. Sáng ngày, Abraham dậy sớm, thắng lừa và đem theo hai đứa đầy tớ của ông, cùng với Isaác con ông, ông chẻ củi dùng vào lễ thượng hiến, đoạn ông lên đường đến chỗ Thiên Chúa đã tỏ cho ông.
Ngày thứ ba, Abraham ngước mắt lên và thấy chỗ ấy từ đàng xa. Abraham mới bảo tôi tớ: “Các anh ở lại đây với con lừa; còn ta và đứa trẻ, chúng ta phải đi tới đằng kia mà thờ lạy, rồi chúng tôi sẽ về lại với các anh”. Abraham lấy củi lễ thượng hiến và cho Isaác vác đi, còn ông thì cầm lấy lửa và dao phay, rồi cả hai cùng bước. Isaác cất tiếng nói với Abraham cha cậu rằng: “Cha!” Ông đáp: “Ta đây, con!” Cậu hỏi: “Này đây đã có lửa và củi, vậy hy sinh thượng hiến ở đâu?” Abraham đáp: “Chính Thiên Chúa sẽ tự liệu ra hy sinh thượng hiến, con ạ”. Rồi cả hai cùng bước.
Khi hai người đến nơi Chúa đã chỉ, Abraham làm một bàn thờ và chất củi lên, rồi trói Isaac lại, đặt lên bàn thờ trên đống củi. Abraham giơ tay lấy dao để sát tế con mình. Bấy giờ thiên thần Chúa từ trời gọi ông rằng: “Abraham! Abraham!” Ông thưa lại: “Dạ, con đây”. Người nói: “Đừng giết con trẻ và đừng động đến nó, vì giờ đây, Ta biết ngươi kính sợ Chúa, đến nỗi không từ chối dâng đứa con duy nhất cho Ta”. Abraham ngước mắt lên, thấy sau lưng mình có con cừu đực đang mắc sừng trong bụi cây, Abraham liền bắt nó và tế lễ thay cho con mình. Chỗ ấy Abraham gọi tên là “Thiên Chúa sẽ liệu”, khiến ngày nay người ta còn nói: “Trên núi Thiên Chúa sẽ liệu”.
Thiên thần Chúa gọi Abraham lần thứ hai và nói rằng: “Chúa phán: Ta thề rằng: vì ngươi đã làm điều đó, ngươi không từ chối dâng đứa con duy nhất của ngươi cho Ta, nên Ta chúc phúc cho ngươi. Ta cho ngươi sinh sản con cái đông đúc như sao trên trời, như cát bãi biển; miêu duệ ngươi sẽ chiếm cửa thành quân địch, và mọi dân tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc nơi miêu duệ ngươi, vì ngươi đã vâng lời Ta”.
Đó là lời Chúa.
_______________________________________
Hoặc đọc bài vắn này: St 22, 1-2. 9a. 10-13. 15-18
Trong những ngày ấy, Chúa thử Abraham và nói với ông rằng: “Abraham, Abraham”. Ông đáp lại: “Dạ, con đây”. Chúa nói: “Ngươi hãy đem Isaac, đứa con một yêu dấu của ngươi, và đi đến đất Moria, ở đó ngươi sẽ dâng nó làm của lễ toàn thiêu trên núi Ta sẽ chỉ cho ngươi”.
Khi hai người đến nơi Chúa đã chỉ, Abraham làm một bàn thờ và chất củi lên, rồi trói Isaac lại, đặt lên bàn thờ trên đống củi. Abraham giơ tay lấy dao để sát tế con mình. Bấy giờ thiên thần Chúa từ trời gọi ông rằng: “Abraham! Abraham!” Ông thưa lại: “Dạ, con đây”. Người nói: “Đừng giết con trẻ và đừng động đến nó, vì giờ đây, Ta biết ngươi kính sợ Chúa, đến nỗi không từ chối dâng đứa con duy nhất cho Ta”. Abraham ngước mắt lên, thấy sau lưng mình có con cừu đực đang mắc sừng trong bụi cây, Abraham liền bắt nó và tế lễ thay cho con mình.
Thiên thần Chúa gọi Abraham lần thứ hai và nói rằng: “Chúa phán: Ta thề rằng: vì ngươi đã làm điều đó, ngươi không từ chối dâng đứa con duy nhất của ngươi cho Ta, nên Ta chúc phúc cho ngươi. Ta cho ngươi sinh sản con cái đông đúc như sao trên trời, như cát bãi biển; miêu duệ ngươi sẽ chiếm cửa thành quân địch, và mọi dân tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc nơi miêu duệ ngươi, vì ngươi đã vâng lời Ta”.
Đó là lời Chúa.
BÀI ĐỌC III: Xh 14, 15 – 15, 1
“Con cái Israel đi vào giữa lòng biển khô cạn”.
Trích sách Xuất Hành.
Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Môsê rằng: “Có gì mà kêu đến Ta? Hãy bảo con cái Israel cứ lên đường. Còn ngươi, đưa gậy lên, và giơ tay trên biển, hãy phân rẽ biển ra, cho con cái Israel đi vào giữa lòng biển khô cạn. Còn Ta, Ta sẽ làm cho lòng người Ai-cập ra chai đá, chúng sẽ rượt theo sau các ngươi. Bấy giờ Ta sẽ tỏ vinh quang cho Pharaon, toàn thể quân lực, chiến xa và kỵ binh của vua ấy biết. Người Ai-cập sẽ biết Ta là Chúa khi Ta tỏ vinh quang cho Pharaon, chiến xa và kỵ binh của vua ấy biết”.
Sứ thần Thiên Chúa thường đi trước hàng ngũ Israel, liền bỏ trở lại sau họ. Cột mây thường đi phía trước, cũng theo sứ thần trở lại phía sau, đứng giữa hàng ngũ Ai-cập và hàng ngũ Israel. Và đám mây thường soi sáng ban đêm trở thành mù mịt, đến nỗi suốt đêm, hai bên không thể tới gần được. Môsê giơ tay trên biển, thì bằng một cơn gió đông thổi mạnh suốt đêm, Chúa dồn biển lui và làm cho biển khô cạn. Nước rẽ ra và con cái Israel đi vào giữa lòng biển khô cạn, nước dựng lên như bức thành hai bên tả hữu.
Người Ai-cập đuổi theo, toàn thể binh mã của Pharaon, chiến xa và kỵ binh đi theo sau Israel vào giữa lòng biển. Lúc gần sáng, qua cột mây lửa, Chúa nhìn xuống hàng ngũ Ai-cập, gây rối loạn trong hàng ngũ chúng. Người lật đổ bánh xe, khiến xe tiến tới thật vất vả. Người Ai-cập nói: “Ta hãy chạy trốn Israel, vì Chúa chiến đấu giúp họ, chống chúng ta”.
Chúa phán bảo Môsê: “Hãy giơ tay trên biển để nước trở lại vùi dập người Ai-cập, chiến xa và kỵ binh của chúng”. Môsê giơ tay trên biển, và lúc tảng sáng, biển trở lại như cũ. Người Ai-cập chạy trốn, gặp ngay nước biển ập lại. Chúa xô chúng ngã giữa lòng biển. Nước trở lại, vùi dập chiến xa và kỵ binh. Toàn thể quân lực của Pharaon đã theo dân Israel xuống biển, không còn tên nào sống sót. Còn con cái Israel đã đi giữa lòng biển khô cạn, nước dựng như bức thành hai bên tả hữu. Ngày đó Chúa cứu Israel khỏi tay Ai-cập. Và họ thấy xác người Ai-cập trôi dạt đầy bờ, và thấy cánh tay oai hùng của Thiên Chúa đè bẹp Ai-cập. Toàn dân kính sợ Chúa, tin vào Chúa và vào Môsê tôi tớ người.
Bấy giờ Môsê cùng với con cái Israel hát mừng Chúa bài ca này:
(Không đọc: Đó là lời Chúa).
BÀI ĐỌC IV: Is 54, 5-14
“Trong tình yêu vĩnh cửu, Chúa Cứu Chuộc đã xót thương ngươi”.
Trích sách Tiên tri Isaia.
Đấng đã tạo thành ngươi thống trị ngươi, danh Người là Chúa các cơ binh, Đấng Cứu Chuộc ngươi là Đấng Thánh Israel, Người sẽ được tôn xưng là Thiên Chúa khắp địa cầu.
Thiên Chúa ngươi đã phán: “Chúa gọi ngươi như gọi người thiếu phụ bị bỏ rơi và sầu muộn, và như người vợ bị bỏ rơi lúc còn xuân xanh. Trong một thời gian ngắn, Ta đã bỏ ngươi, nhưng Ta sẽ lấy lượng từ bi cao cả mà tụ họp ngươi lại. Trong lúc nóng giận, Ta tạm ẩn mặt Ta, nhưng vì lòng nhân từ vô biên, Ta thương xót ngươi, Chúa là Đấng cứu chuộc ngươi đã phán như vậy.
Cũng như trong thời Noe, Ta đã thề rằng nước lụt Noe sẽ không tràn ngập đất nữa, thì Ta cũng đã thề rằng Ta sẽ không giận ngươi, không quở trách ngươi nữa.
Dù núi có dời, đồi có di chuyển, tình yêu của Ta đối với ngươi không thay đổi, và giao ước bình an của Ta cũng sẽ không lay chuyển, Chúa nhân từ của ngươi đã phán như vậy.
Hỡi thành vô phúc, bị bão táp tàn phá và không ai an ủi, này đây Ta sẽ sắp xếp các viên đá của ngươi cho trật tự, sẽ đặt nền móng ngươi trên ngọc thạch, sẽ lấy đá hồng xây cửa đồn ngươi, sẽ lấy thuỷ tinh làm cửa thành ngươi, sẽ dùng đá quý xây tường thành ngươi.
Tất cả con cái ngươi sẽ được Chúa dạy bảo, chúng sẽ vui hưởng một nền hoà bình lâu dài. Ngươi sẽ đứng vững trong công lý, và xa mọi đàn áp, ngươi sẽ không còn sợ, và sống xa mọi khủng bố, vì sẽ không có ai hãm hại được ngươi nữa”.
Đó là lời Chúa.
BÀI ĐỌC V: Is 55, 1-11
“Hãy đến cùng Ta và hồn các ngươi sẽ được sống. Ta sẽ ký kết với các ngươi một giao ước vĩnh cửu”.
Trích sách Tiên tri Isaia.
Đây Chúa phán: Hỡi tất cả những ai khát nước, hãy đến uống nước; hỡi kẻ không tiền bạc, hãy đến mua lúa mà ăn; hãy đến mà mua rượu và sữa, không cần trả tiền, không cần đổi chác gì. Tại sao các ngươi không dùng tiền mà mua bánh, sao không dùng tiền lương mà mua đồ nuôi thân? Vậy hãy lắng tai nghe, hãy đến ăn đồ bổ và các ngươi sẽ được thưởng thức món ăn mĩ vị.
Hãy lắng tai và đến cùng Ta, hãy nghe, thì các ngươi sẽ được sống; Ta sẽ ký kết với các ngươi một giao ước vĩnh cửu, đó là những hồng ân đã hứa cho Đavít: Đây Ta đặt ngươi làm nhân chứng cho các dân, làm tướng lãnh tôn sư cho các dân tộc. Này ngươi sẽ kêu gọi dân mà trước ngươi không biết, và các dân trước chưa biết ngươi, sẽ chạy đến cùng ngươi, vì Chúa là Thiên Chúa ngươi, là Đấng Thánh Israel, bởi vì Chúa làm cho ngươi được hiển vinh.
Hãy tìm Chúa khi còn tìm được, hãy kêu cầu Người khi Người còn ở gần. Kẻ gian ác, hãy bỏ đường lối mình, và kẻ bất lương, hãy bỏ những tư tưởng mình, hãy trở về với Chúa, thì Người sẽ thương xót, hãy trở về với Thiên Chúa chúng ta, vì Chúa rộng lòng tha thứ. Vì tư tưởng Ta không phải tư tưởng các ngươi, và đường lối các ngươi không phải đường lối của Ta, Chúa phán như vậy. Như trời cao hơn đất thế nào, thì đường lối Ta vượt trên đường lối các ngươi, và tư tưởng Ta cũng vượt trên tư tưởng các ngươi thể ấy.
Như mưa tuyết từ trời rơi xuống và không trở lên trời nữa, nhưng chúng thấm xuống đất, làm cho đất phì nhiêu, cây cối sinh mầm, cho người gieo có hạt giống, cho người ta có cơm bánh ăn; cũng thế, lời từ miệng Ta phán ra sẽ không trở lại với Ta mà không sinh kết quả, nhưng nó thực hiện ý muốn của Ta, và làm tròn sứ mạng Ta uỷ thác.
Đó là lời Chúa.
BÀI ĐỌC VI: Br 3, 9-15. 32 – 4, 4
“Ngươi hãy đi trong đường ánh sáng của Chúa”.
Trích sách Tiên tri Barúc.
Hỡi Israel, hãy nghe các giới răn ban sự sống; hãy lắng tai nghe để hiểu biết sự khôn ngoan.
Hỡi Israel, bởi đâu ngươi ở trong đất nước quân thù, ngươi mòn mỏi trên đất khách, nhiễm lây nhơ bẩn của người chết, bị liệt vào kẻ phải xuống địa ngục? Ngươi đã lìa bỏ nguồn khôn ngoan. Vì chưng nếu ngươi theo đường lối Chúa,thì ngươi đã luôn sống trong bình an. Ngươi hãy học xem đâu là sự khôn ngoan, đâu là sức mạnh, đâu là sự thông hiểu, để ngươi cũng hiểu biết đâu là trường thọ và sự sống, đâu là ánh sáng con mắt và bình an. Ai là người sẽ tìm được nơi cư ngụ của sự khôn ngoan, ai đi vào trong kho tàng của nó? Chính Đấng thấu suốt mọi sự, Người biết nó: Người thấu suốt nó do đức khôn ngoan của Người.
Người là Đấng đã an bài vũ trụ đến muôn đời, và cho các gia súc và các thú bốn chân sống đầy mặt đất. Người sai ánh sáng đi thì nó đi, gọi nó lại thì nó run sợ vâng lời Người. Các ngôi sao ở vị trí mình mà chiếu sáng và đều vui mừng. Người gọi chúng thì chúng trả lời rằng: “Có mặt”. Chúng vui mừng chiếu sáng trước mặt Đấng sáng tạo chúng.
Người là Thiên Chúa chúng ta, và không có chúa nào khác sánh được với Người. Người đã biết mọi đường lối khôn ngoan, đã ban nó cho Giacóp tôi tớ Người và cho Israel kẻ người yêu mến. Sau đó, Người xuất hiện trên mặt đất và sống giữa loài người.
Đó là sách ghi các giới răn Chúa và lề luật tồn tại muôn đời, tất cả những ai tuân giữ lề luật thì được sống, còn ai bỏ thì phải chết. Hỡi Giacóp, hãy trở về và nắm giữ lề luật; hãy nhờ ánh sáng của Người mà tiến đến sự huy hoàng của Người. Đừng trao vinh quang ngươi cho kẻ khác, cũng đừng trao đặc ân ngươi cho dân ngoại. Hỡi Israel, chúng ta có phúc, vì chúng ta đã được biết những gì là đẹp lòng Chúa.
Đó là lời Chúa.
BÀI ĐỌC VII: Ed 36, 16-17a. 18-28
“Ta sẽ đổ trên các ngươi nước trong sạch và sẽ ban cho các ngươi quả tim mới”.
Trích sách Tiên tri Êdêkiel.
Đây lời Chúa phán cùng tôi rằng: “Hỡi con người, khi dân Israel cư ngụ trên đất mình, họ đã làm dơ bẩn đất ấy bằng đời sống và việc làm của họ. Và Ta đã nổi giận họ, vì họ đã đổ máu trên phần đất ấy, và vì các thần tượng họ thờ làm dơ bẩn phần đất ấy. Ta đã phân tán họ đi khắp các dân tộc, và cho họ sống rải rác trong các nước; Ta đã xét xử theo đời sống và việc làm của họ. Họ đã đi đến các dân tộc và ở đó họ xúc phạm thánh danh Ta, vì thiên hạ nói về họ rằng: “Này là dân của Chúa, họ bị đuổi ra khỏi đất của Người”. Và Ta đã thương hại thánh danh Ta mà nhà Israel đã xúc phạm nơi các dân tộc họ đến cư ngụ.
Vì thế, ngươi hãy nói với nhà Israel rằng: “Đây Chúa là Thiên Chúa phán: Hỡi nhà Israel, không phải vì các ngươi mà Ta hành động, nhưng vì thánh danh Ta đã bị các ngươi xúc phạm nơi các dân tộc mà các ngươi đi đến cư ngụ. Ta sẽ thánh hoá danh cao cả Ta đã bị xúc phạm giữa các dân tộc, nơi mà các ngươi đã xúc phạm danh thánh Ta, để các dân tộc biết Ta là Chúa, Thiên Chúa các đạo binh phán, khi Ta tự thánh hoá nơi các ngươi trước mặt họ.
Ta sẽ kéo các ngươi ra khỏi các dân tộc, sẽ quy tụ các ngươi từ các nước, và dẫn dắt các ngươi trên đất các ngươi. Ta sẽ dùng nước trong sạch mà rảy trên các ngươi, và các ngươi sẽ được rửa sạch mọi vết nhơ. Ta sẽ thanh tẩy các ngươi sạch mọi vết nhơ các bụt thần.
Ta sẽ ban cho các ngươi quả tim mới, đặt giữa các ngươi một thần trí mới, cất khỏi xác các ngươi quả tim bằng đá và ban cho các ngươi quả tim bằng thịt. Ta đặt thần trí Ta giữa các ngươi, làm cho các ngươi thực thi các huấn lệnh Ta, làm cho các ngươi tuân giữ và thực hành các lề luật Ta. Các ngươi sẽ cư ngụ trong xứ Ta đã ban cho tổ phụ các ngươi; các ngươi sẽ là dân Ta, còn Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi”.
Đó là lời Chúa.
THÁNH THƯ: Rm 6, 3-11
“Chúa Kitô, một khi tự trong cõi chết sống lại, Người không chết nữa”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.
Anh em thân mến, tất cả chúng ta đã chịu phép rửa trong Đức Giêsu Kitô, tức là đã chịu phép rửa trong sự chết của Người. Và chúng ta đã cùng chịu mai táng với Người, bởi được thanh tẩy trong sự chết của người, để như Đức Kitô nhờ vinh hiển của Chúa Cha mà sống lại từ cõi chết thế nào, thì cả chúng ta cũng phải sống đời sống mới như thế.
Vì nếu chúng ta được liên kết với Người trong cùng một cái chết, giống như cái chết của Người, thì chúng ta cũng được hợp nhất với Người, trong sự sống lại giống như vậy. Nên biết điều này: con người cũ của chúng ta đã cùng chịu đóng đinh khổ giá, để xác thịt tội lỗi bị huỷ đi, hầu cho chúng ta không còn làm nô lệ tội lỗi nữa, vì con người đã chết, tức là được giải thoát khỏi tội lỗi.
Mà nếu chúng ta đã chết với Đức Kitô, chúng ta tin rằng chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người, vì biết rằng Đức Kitô, một khi từ cõi chết sống lại, Người không chết nữa, sự chết không còn làm chủ được Người nữa. Người đã chết, tức là chết một lần dứt khoát đối với tội lỗi, mà khi Người sống, là sống cho Thiên Chúa. Cả anh em cũng thế, anh em hãy tự kể như mình đã chết đối với tội lỗi, nhưng sống cho Thiên Chúa, trong Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.
Đó là lời Chúa.
BÀI TIN MỪNG: Lc 24, 1-12
“Tại sao các bà tìm người sống nơi những kẻ chết?”
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Ngày thứ nhất trong tuần, vừa tảng sáng, các bà đi ra mồ mang theo những thuốc thơm đã dọn sẵn. Thấy hòn đá đã lăn ra khỏi mồ, nhưng bước vào, các bà không thấy xác Chúa Giêsu. Đang khi các bà còn ngơ ngác không hiểu việc đó, thì có hai người đứng gần các bà, y phục sáng chói. Các bà kinh hãi cắm mặt xuống đất, thì hai người lên tiếng bảo: “Tại sao các bà tìm người sống nơi những kẻ chết? Người không còn ở đây. Người đã sống lại, các bà hãy nhớ lại Người đã nói với các bà thế nào khi Người còn ở xứ Galilêa. Người đã nói: Con Người phải bị nộp vào tay những kẻ tội lỗi, bị đóng đinh vào thập giá và ngày thứ ba sẽ sống lại”. Và các bà nhớ lại những lời Người đã nói.
Bỏ mồ đi về, các bà tường thuật lại tất cả sự việc cho mười một Tông đồ và các người khác. Các bà đó là Maria Mađalêna, Gioanna, Maria mẹ Giacôbê; và những người nữ khác cùng đi với họ cũng nói như vậy với các tông đồ. Nhưng những lời đó, các ông cho là truyện vớ vẩn, nên các ông không tin. Dầu vậy Phêrô cũng đứng dậy chạy ra mồ, nhưng khi cúi xuống nhìn, ông chỉ thấy những khăn liệm nằm đó và ông trở về nhà, rất đỗi ngạc nhiên về sự đã xảy ra.
Đó là lời Chúa.
_________________________
SUY NIỆM & CHIA SẺ:
LƯỚT QUA CÁC BÀI ĐỌC:
Trong phần phụng vụ Lời Chúa hôm nay, Giáo Hội muốn các tín hữu nhìn lại lịch sử Cứu Độ của Thiên Chúa, bắt đầu với việc tạo dựng vũ trụ và con người, và kết thúc bằng biến cố Phục Sinh của Đức Kitô.
Nơi nào hoàn cảnh cho phép, Giáo Hội khuyến khích đọc cả 7 bài;
Nơi nào hoàn cảnh không cho phép, phải đọc đọc 3 bài: Biến cố Xuất Hành, ý nghĩa của Bí-tích Rửa Tội trong Thư Rôma, và Biến cố Phục Sinh theo Luca.
Thông thường, các giáo xứ đọc 5 bài: trình thuật tạo dựng trong Sáng Thế Ký, trình thuật tái tạo một quả tim mới và thần khí mới của tiên tri Ezekiel, và 3 bài phải đọc. Hai bài từ Sách Isaia về sự trung thành yêu thương của Thiên Chúa, và những gì sẽ xảy ra khi triều đại của Đấng Thiên Sai tới, cho những nơi có hòan cảnh đọc cả 7 bài.
________________________
ĐI VÀO BÀI TIN MỪNG:
NGÀY THỨ NHẤT TRONG TUẦN, VỪA TẢNG SÁNG, CÁC BÀ ĐI RA MỒ MANG THEO NHỮNG THUỐC THƠM ĐÃ DỌN SẴN
“NGÀY THỨ NHẤT TRONG TUẦN”
Cả 4 Thánh sử: Matthêu, Marcô, Luca và Gioan đều nhất trí với nhau: BIẾN CỐ PHỤC SINH xảy ra ngay sau ngày Sabbath, sau ngày Lễ Vượt qua của người Do Thái.
Ngày thứ nhất, nó gợi cho ta một cuộc tạo dựng mới: Một trời mới, đất mới mà cuộc Tạo dựng đầu tiên đã bị phá hỏng bởi Ông bà Nguyên tổ đã bất tuân lệnh Chúa, thì cuộc Sáng tạo mới được hình thành bởi một Ađam mới vâng phục hoàn toàn Thánh ý Thiên Chúa.
“VỪA TẢNG SÁNG”
Có nghĩa lúc bình minh mới bắt đầu ló dạng, đã xua đuổi bóng đêm sự chết.
“CÁC BÀ ĐI RA MỒ MANG THEO NHỮNG THUỐC THƠM ĐÃ DỌN SẴN”.
Các Thánh sử đều nhất trí với nhau: chính phụ nữ là người đầu tiên đón nhận biến cố Phục sinh này, chứ không phải nam giới. Đây là một ưu tiên mà Thiên Chúa muốn dành cho họ, vì phụ nữ là người luôn nhạy cảm với tình yêu Thiên Chúa, họ sống bằng con tim chứ không bằng những lý lẽ, vì thế họ dễ đón nhận biến cố Phục sinh hơn cả. Vả lại, cánh đàn ông, nhất là các tông đồ đang sống trong tâm trạng sợ hãi nên họ đã đóng kín ở một nơi kín đáo vì sợ người Do Thái.
Thánh sử Gioan còn nói rõ hơn người phụ nữ đầu tiên đó là: “Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ” (Ga 20, 1).
Họ mang theo những thuốc thơm đã dọn sẵn để làm gì?
Theo Gioan, Khi Chúa Giêsu tắt thở, ông Gioxếp và Nicôđêmô đã táng xác Chúa Giêsu trong một ngôi mộ còn mới chưa chôn cất ai. Hôm ấy là áp lễ của người Do Thái nên các ông đã tẩm liệm một cách khá sơ sài để cho kịp lễ. (Ga 19, 38 – 42).
Vì thế hôm nay các bà đã đem thuốc thơm để táng xác kỹ hơn, chu đáo hơn.
“THẤY HÒN ĐÁ ĐÃ LĂN RA KHỎI MỒ, NHƯNG BƯỚC VÀO, CÁC BÀ KHÔNG THẤY XÁC CHÚA GIÊSU”
Luca chỉ nói hòn đá lấp cửa mồ đã được lăn ra, ông không nói rõ: Ai đã lăn tảng đá này và lăn ra lúc nào. Luca không mô tả chi tiết này. Nên nhớ tảng đá lấp cửa mộ là tảng đá khá lớn, phải vài người đàn ông mới lăn được. Tại sao các người phụ nữ này dám ra mồ để làm việc táng xác này. Có lẽ chính tình yêu Chúa Giêsu đã thôi thúc các bà, nên họ dám lên đường mà không hề sợ hãi.
Trong khi đó, thánh sử Matthêu đã mô tả rất chi tiết: “Sau ngày sa-bát, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa ló rạng, bà Ma-ri-a Mác-đa-la và một bà khác cũng tên là Ma-ri-a, đi viếng mộ. Thình lình, đất rung chuyển dữ dội: thiên thần Chúa từ trời xuống, đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên; diện mạo người như ánh chớp, và y phục trắng như tuyết. Thấy người, lính canh khiếp sợ, run rẩy chết ngất đi.” (Mt 28, 1-4). Như vậy Matthêu nói: Chính Thiên thần Chúa từ trời xuống đã lăn tảng đá này và các bà cũng như các lính canh đã chứng kiến.
Khi hòn đá đã được lăn ra, các bà hoảng hốt lo sợ vì không biết sự gì đã xảy ra, nhưng họ cũng thu hết can đảm để vào xem và điều ngạc nhiên là các bà không thấy xác Chúa.
Vì Luca không mô tả cảnh Thiên thần xuống lăn tảng đá nên các bà chỉ nghĩ đơn giản: Có ai đó đã lăn hòn đá ra và lấy trộm xác Chúa. Ta đừng nghĩ lúc này các bà tin Chúa Giêsu đã phục sinh, cho dù Chúa Giêsu đã tiên báo rất nhiều lần về việc này, nhưng với phản ứng của con người bình thường, các bà chưa thể tin Chúa Giêsu đã sống lại
“ĐANG KHI CÁC BÀ CÒN NGƠ NGÁC KHÔNG HIỂU VIỆC ĐÓ, THÌ CÓ HAI NGƯỜI ĐỨNG GẦN CÁC BÀ, Y PHỤC SÁNG CHÓI. CÁC BÀ KINH HÃI CẮM MẶT XUỐNG ĐẤT, THÌ HAI NGƯỜI LÊN TIẾNG BẢO:
NGÔI MỘ KHÔNG TRỐNG:
Cái nhìn của các bà thật hạn hẹp, vì bước vào mộ, các bà chỉ chú ý đến chỗ Chúa Giêsu nằm, mà không thấy 2 thiên thần mà Luca nói: y phục sáng chói. Mặc dù sáng chói như vậy nhưng nó lại không gây sự chú ý nơi các bà, vì các bà chỉ chú ý đến Chúa Giêsu, khi không thấy Chúa, thì sự hiện diện của 2 thiên thần với y phục sáng chói mới làm các bà kinh hãi.
Như vậy Ngôi mộ lúc này hoàn toàn không trống mà có rất nhiều người đang sống và hiện diện.
“TẠI SAO CÁC BÀ TÌM NGƯỜI SỐNG NƠI NHỮNG KẺ CHẾT? NGƯỜI KHÔNG CÒN Ở ĐÂY. NGƯỜI ĐÃ SỐNG LẠI, CÁC BÀ HÃY NHỚ LẠI NGƯỜI ĐÃ NÓI VỚI CÁC BÀ THẾ NÀO KHI NGƯỜI CÒN Ở XỨ GALILÊA. NGƯỜI ĐÃ NÓI: CON NGƯỜI PHẢI BỊ NỘP VÀO TAY NHữNG KẺ TỘI LỖI, Bị ĐÓNG ĐINH VÀO THẬP GIÁ VÀ NGÀY THỨ BA SẼ SỐNG LẠI”
“TẠI SAO”.
Các Thiên thần có vẻ đang trách các bà vì chưa tin Chúa Giêsu đã sống lại, và cũng không nhớ gì Lời Ngài đã nói với các bà: Sau 3 ngày Ngài sẽ sống lại.
Các Thiên thần đã nhắc lại lời Chúa Giêsu tiên báo: “Con Người phải bị nộp vào tay những kẻ tội lỗi, bị đóng đinh vào thập giá và ngày thứ ba sẽ sống lại”. Như vậy việc tìm người sống nơi những kẻ chết là một việc làm vô ích và ngớ ngẩn. Có nghĩa các bà không thể tìm thấy Chúa Giêsu trong ngôi mộ này vì Ngài đã sống lại và đã ra khỏi mồ.
Các thiên thần trách cho có trách thôi, vì làm sao với con người bình thường, trong lúc tâm trạng rối loạn như vậy lại có thể bình tâm suy xét.
“VÀ CÁC BÀ NHỚ LẠI NHỮNG LỜI NGƯỜI ĐÃ NÓI.”
Đến đây, Luca nói rõ, nhờ lời các thiên thần nhắc nhở, các bà mới nhớ lại Lời Chúa Giêsu đã nói: Nhưng vấn đề đặt ra là: Mặc dù đã nhớ lại, nhưng các bà đã tin Chúa Giêsu sống lại chưa? Chắc chắn là chưa vì các bà chưa thấy Chúa Giêsu để củng cố cho niềm tin đó.
“BỎ MỒ ĐI VỀ, CÁC BÀ TƯỜNG THUẬT LẠI TẤT CẢ SỰ VIỆC CHO MƯỜI MỘT TÔNG ĐỒ VÀ CÁC NGƯỜI KHÁC.
CÁC BÀ ĐÓ LÀ MARIA MAĐALÊNA, GIOANNA, MARIA MẸ GIACÔBÊ; VÀ NHỮNG NGƯỜI NỮ KHÁC CÙNG ĐI VỚI HỌ CŨNG NÓI NHƯ VẬY VỚI CÁC TÔNG ĐỒ.
Công việc đầu tiên mà cá các bà làm đó là đi về báo tin cho các môn đệ. Ở đây Luca nói rõ Mười một tông đồ, vì Giuđa đã thắt cổ tự tử nên con số 12 chỉ còn lại 11, và các người khác. Như vậy trong căn phòng bí mật này có nhiều người đang tụ họp với nhau sau cái chết của Chúa Giêsu. Người loan báo Tin mừng đầu tiên trong Giáo hội lại là người phụ nữ, đó là đặc ân mà Thiên Chúa đã dành cho họ.
Luca còn mô tả thêm số người phụ nữ đến mộ đầu tiên gồm: Maria Mađalêna, Gioanna, Maria mẹ Giacôbê; và những người nữ khác. Chính nhờ đi một nhóm như vậy, các bà mới có can đảm đi vào trong mộ. Trong khi các thánh sử khác cho biết như sau:
+ Gioan: Bà Maria Madalena. (Ga 20, 1)
+ Matthêu: bà Ma-ri-a Mác-đa-la và một bà khác cũng tên là Ma-ri-a. (Mt 28, 1)
+ Marcô: Bà Ma-ri-a Mác-đa-la với bà Ma-ri-a mẹ ông Gia-cô-bê, và bà Sa-lô-mê (Mc 16, 1)
Như vậy, theo Gioan chỉ có 1 người là Maria Madalena và trong các thánh sử khác đều có sự hiện diện của bà này. Ta có thể nói bà Maria Madalena là một gương mặt nổi bật trong biến cố Phục sinh của Chúa Giêsu, bà có tình yêu mến Chúa Giêsu một cách đặc biệt.
“NHƯNG NHỮNG LỜI ĐÓ, CÁC ÔNG CHO LÀ TRUYỆN VỚ VẨN, NÊN CÁC ÔNG KHÔNG TIN”
Trước sự báo tin của các phụ nữ, Luca nói rõ: Thái độ của các Tông đồ là không tin, các ông không những không tin mà còn cho đó là chuyện vớ vẩn, vì chuyện đó được phát xuất từ miệng người đàn bà, mà người đàn bà mà nói làm sao tin được, quá chính xác luôn!
Như vậy biến cố Phục sinh không phải là chuyện dễ tin và dễ thuyết phục được các tông đồ, cho dù chính Chúa Giêsu đã nói các ông về điều đó. Như vậy ta thấy biến cố Tử nạn của Chúa Giêsu nó ghê gớm đến chừng nào, đã xoá bỏ tất cả các niềm tin nơi các ông, nó đã gây cho các ông một sự choáng váng và chán nản đến cực độ.
“DẦU VẬY PHÊRÔ CŨNG ĐỨNG DẬY CHẠY RA MỒ, NHƯNG KHI CÚI XUỐNG NHÌN, ÔNG CHỈ THẤY NHỮNG KHĂN LIỆM NẰM ĐÓ VÀ ÔNG TRỞ VỀ NHÀ, RẤT ĐỖI NGẠC NHIÊN VỀ SỰ ĐÃ XẢY RA
Luca nói” dẫu vậy”, có nghĩa cho dù không tin lời các người phụ nữ nói, nhưng trước một tin sốt dẻo như vậy, Phêrô là vị tông đồ trưởng, ông cũng đích thân ra mộ để xem sự thể thế nào. Ở Luca chỉ nói mình Phêrô, còn trong Phúc âm Gioan, ông còn đề cập thêm, có “môn đệ được Chúa yêu” cùng đi với Phêrô (Ga 20, 3 – 10). Môn đệ kia chạy nhanh hơn Phêrô, ông đã tới mồ trước nhưng không vào, ông để dành vị trí đó cho Phêrô. Gioan nói: sau cùng môn đệ kia cũng vào, ông đã thấy và đã tin.
Còn ở Luca, chỉ mô tả Phêrô rất đỗi ngạc nhiên, chứ Luca không nói Phêrô đã tin.
Ông Phêrô thực sự rất sợ hãi. Ông đã chối Thầy của mình trong giờ phút Thầy bị hành hạ nhục nhã vì ông sợ bị liên lụy. Thầy đã chết và nằm yên trong mồ. Điều ông mong muốn lúc đó là xin đừng có gì rắc rối xảy ra nữa, xin được hai chữ “bình yên”. Nhưng tại sao lại có sự kiện mất xác này. Ông chạy đến mồ với tất cả mọi lo âu trong đầu. Ông lo nhóm nào đó sau khi giết Thầy lại tìm cách phá rối các tông đồ để kết án họ và xử tử họ nữa chăng. Ông là trưởng nhóm, vậy ông chạy đến mồ để quan sát những gì đã xảy ra. Vậy ông chạy đến mồ mà trong lòng chỉ lo nghĩ đến việc tại sao thế này, tại sao thế nọ để tìm cách đối phó. Với tâm trạng đó, Phêrô khó có thể nhận ra Chúa Giêsu đã sống lại.
Tin vui chính là Đức Giêsu Phục Sinh, ánh sáng rạng ngời đã xóa tan bóng tối của tử thần và tội lỗi, để dẫn đưa con người bước vào miền ánh sáng sự sống.
Tin vui chính là Đức Giêsu Phục Sinh luôn hiện diện giữa những kẻ tin Người sống lại, để mang lại cho họ niềm vui và an bình trong cuộc sống mới.
Nếu ngôi mộ tối đã không thể giam giữ Đức Giêsu Phục Sinh, và xiềng xích của sự chết đã bị Người bẻ gẫy, thì không còn gì có thể tiêu diệt chúng ta được. Thánh Phaolô viết: “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?” (Rm 8,35). Vì thế, Sống niềm vui Phục Sinh chính là chết đi cho tội lỗi để sống lại với Chúa trong đời sống mới, đời sống Phục Sinh.
Sống niềm vui Phục Sinh chính là tin rằng Chúa đã sống lại và đã cứu thoát chúng ta khỏi vòng tội lỗi, nên chúng ta hãy đặt niềm tin và hy vọng nơi Người.
Sống niềm vui Phục Sinh chính là sống vui tươi, an bình và yêu thương trong sự hiện diện của Đức Giêsu Phục Sinh.
Amen.
___________________________
Giuse Nguyễn Viết Tâm.

