DỤ NGÔN NGƯỜI CHA NHÂN HẬU
DỤ NGÔN NGƯỜI CON HOANG ĐÀNG.
DỤ NGÔN HAI NGƯỜI CON HOANG ĐÀNG.
DỤ NGÔN NGƯỜI CHA PHUNG PHÍ
“EM CON ĐÃ CHẾT NAY SỐNG LẠI”.
BÀI ĐỌC I: Mk 7, 14-15. 18-20
“Chúa ném mọi tội lỗi chúng tôi xuống đáy biển”.
Trích sách Tiên tri Mikha.
Lạy Chúa, với cây trượng của Chúa, xin chăn dắt dân Chúa, chăn dắt những con chiên thuộc quyền sở hữu của Chúa, sống lẻ loi trong rừng, ở giữa núi Carmêlô. Tất cả được chăn dắt ở Basan và Galaad như ngày xưa. Như ngày ra khỏi Ai-cập, xin tỏ cho chúng con thấy những việc lạ lùng.
Có Chúa nào giống như Chúa là Đấng dẹp tan mọi bất công, và tha thứ mọi tội lỗi của kẻ sống sót thuộc về Chúa? Chúa không khư khư giữ mãi cơn thịnh nộ của mình, vì Chúa ưa thích lòng từ bi. Chúa còn thương xót chúng tôi, còn dày đạp những bất công của chúng tôi dưới chân Chúa, và ném mọi tội lỗi chúng tôi xuống đáy biển. Chúa ban cho Giacóp biết sự trung thành của Chúa và cho Abraham biết lòng từ bi mà Chúa đã thề hứa với tổ phụ chúng tôi từ ngàn xưa.
Đó là lời Chúa.
BÀI TIN MỪNG: Lc 15, 1-3. 11-32
“Em con đã chết nay sống lại”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Luca.
Khi ấy, những người thâu thuế và những người tội lỗi đến gần Chúa Giêsu để nghe Người giảng. Thấy vậy, những người biệt phái và luật sĩ lẩm bẩm rằng: “Ông này đón tiếp những kẻ tội lỗi và cùng ngồi ăn uống với chúng”. Bấy giờ Người phán bảo họ dụ ngôn này:
“Người kia có hai con trai. Đứa em đến thưa cha rằng: ‘Thưa cha, xin cha cho con phần gia tài thuộc về con’. Người cha liền chia gia tài cho các con. Ít ngày sau, người em thu nhặt tất cả tiền của mình trẩy đi miền xa và ở đó ăn chơi xa xỉ, phung phí hết tiền của. Khi nó tiêu hết tiền của, thì gặp nạn đói lớn trong miền đó và nó bắt đầu cảm thấy túng thiếu. Nó vào giúp việc cho một người trong miền, người này sai nó ra đồng chăn heo. Nó muốn ăn những đồ heo ăn cho đầy bụng, nhưng cũng không ai cho. Bấy giờ nó mới hồi tâm lại và tự nhủ: ‘Biết bao người làm công ở nhà cha tôi được ăn uống dư dật, còn tôi, tôi ở đây phải chết đói! Tôi muốn ra đi, trở về với cha tôi và thưa người rằng: “Lạy cha, con đã lỗi phạm đến Trời và đến cha; con không đáng được gọi là con cha nữa, xin cha đối xử với con như một người làm công của cha”‘. Vậy nó ra đi và trở về với cha nó. Khi nó còn ở đàng xa, cha nó chợt trông thấy, liền động lòng thương; ông chạy lại ôm choàng lấy cổ nó và hôn nó hồi lâu. Người con trai lúc đó thưa rằng: ‘Lạy cha, con đã lỗi phạm đến Trời và đến cha; con không đáng được gọi là con cha nữa’. Nhưng người cha bảo các đầy tớ: ‘Mau mang áo đẹp nhất ra đây và mặc cho cậu; hãy đeo nhẫn vào ngón tay cậu, và xỏ giầy vào chân cậu. Hãy bắt con bê béo làm thịt để chúng ta ăn mừng, vì con ta đây đã chết, nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy’. Và người ta bắt đầu ăn uống linh đình.
“Người con cả đang ở ngoài đồng. Khi về gần đến nhà, nghe tiếng đàn hát và nhảy múa, anh gọi một tên đầy tớ để hỏi xem có chuyện gì. Tên đầy tớ nói: ‘Đó là em cậu đã trở về và cha cậu đã giết con bê béo, vì thấy cậu ấy trở về mạnh khoẻ’. Anh liền nổi giận và quyết định không vào nhà. Cha anh ra xin anh vào, nhưng anh trả lời: ‘Cha coi, đã bao nhiêu năm con hầu hạ cha, không hề trái lệnh cha một điều nào, mà không bao giờ cha cho riêng con một con bê nhỏ để ăn mừng với chúng bạn; còn thằng con của cha kia, sau khi phung phí hết tài sản của cha với bọn điếm nay trở về, thì cha lại sai làm thịt con bê béo ăn mừng nó’. Nhưng người cha bảo: ‘Hỡi con, con luôn ở với cha, và mọi sự của cha đều là của con. Nhưng phải ăn tiệc và vui mừng, vì em con đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy’ “.
Đó là lời Chúa.
__________________________
SUY NIỆM & CHIA SẺ:
Các Bài Đọc hôm nay giúp con người nhận ra tình thương tha thứ của Thiên Chúa lớn hơn tội lỗi của con người đã xúc phạm đến Ngài.
TRONG BÀI ĐỌC I Trích sách Tiên tri Mikha,
Tiên-tri Mikha xin Thiên Chúa nối lại mối liên hệ của Ngài với Israel sau Thời Lưu đày. Điều này chỉ Thiên Chúa mới có thể làm được, vì mọi con dân Israel đã xúc phạm đến Ngài. Để thực hiện điều đó, Thiên Chúa phải chà đạp tội lỗi dưới chân hay quăng chúng xuống đáy biển.
Những gì Tiên-tri Mikha viết trong chương cuối hôm nay giả sử Thời Lưu đày đã qua, và Thiên Chúa đã có kế hoạch cho dân Do-Thái trở về để tái thiết Đền Thờ và xây dựng lại quê hương. Tiên-tri mơ ước Thiên Chúa sẽ nối lại tình cha con, như khi họ mới từ Ai-cập vào Đất Hứa: “Lạy Đức Chúa, xin Ngài dùng gậy để chăn dắt dân là đàn chiên, là cơ nghiệp của Ngài, đang biệt cư trong rừng giữa vườn cây ăn trái. Xin đưa họ tới đồng cỏ miền Bashan và Galaat như những ngày thuở xa xưa. Như thời Ngài ra khỏi đất Ai-cập, xin Ngài cho chúng con thấy những kỳ công.”
Tiên-tri ý thức sâu xa các tội của dân đã xúc phạm đến Thiên Chúa, và tình thương như trời biển của Ngài dành cho dân. Họ xứng đáng lãnh nhận mọi hình phạt và ngay cả cái chết; nhưng họ còn sống và còn được trở về quê hương là hoàn toàn do lòng nhân từ của Thiên Chúa.
Tiên-tri Mikha tự hỏi: “Thần minh nào sánh được như Ngài, Đấng chịu đựng lỗi lầm, Đấng bỏ qua tội ác cho phần còn sót lại của cơ nghiệp Ngài? Người không giữ mãi cơn giận, nhưng chuộng lòng nhân nghĩa, Người sẽ lại thương xót chúng ta, tội lỗi chúng ta, Người chà đạp dưới chân. Mọi lỗi lầm chúng ta, Người ném xuống đáy biển.”
TRONG BÀI TIN MỪNG theo thánh Luca:
Thánh-sử Luca viết lại cho chúng ta một câu chuyện tuyệt vời về tình thương tha thứ của Thiên Chúa. Ngài sẵn sàng tha thứ vô điều kiện và phục hồi quyền làm con, khi một người ăn năn trở lại.
Dụ ngôn Người Cha nhân hậu là một dụ ngôn nổi tiếng, qua đó Đức Giêsu cho thấy tại sao Ngài đón tiếp và ăn uống với tội nhân. Đơn giản chỉ vì Ngài giống Thiên Chúa là người Cha nhân hậu.
_______________________________
ĐI VÀO BÀI TIN MỪNG:
Ai trong chúng ta khi đọc Phúc Âm của Thánh sử Luca, sẽ rất ấn tượng với câu mở đầu của ông:
“Thưa ngài Thê-ô-phi-lô đáng kính, có nhiều người đã ra công soạn bản tường thuật những sự việc đã được thực hiện giữa chúng ta. Họ viết theo những điều mà các người đã được chứng kiến ngay từ đầu và đã phục vụ lời Chúa truyền lại cho chúng ta. Tôi cũng vậy, sau khi đã cẩn thận tra cứu đầu đuôi mọi sự, thì thiết tưởng cũng nên tuần tự viết ra để kính tặng ngài, mong ngài sẽ nhận thức được rằng giáo huấn ngài đã học hỏi thật là vững chắc” (Lc 1, 1 – 4)
Như vậy, Luca viết Phúc Âm thứ Ba này để gửi cho ngài Thê-ô-phi-lô đáng kính nào đó. Luca cũng xác nhận, ông không là người duy nhất viết Phúc âm về Chúa Giêsu vì trước ông đã có nhiều người viết và ông cũng không phải là người đã cùng sống với Chúa Giêsu như các tông đồ, nghĩa là ông không có diễm phúc chứng kiến ngay từ đầu Sứ vụ của Chúa Giêsu. Nhưng “sau khi đã cẩn thận tra cứu đầu đuôi mọi sự, thì thiết tưởng cũng nên tuần tự viết ra để kính tặng ngài”. Có nghĩa Luca đã tra cứu rất cẩn thận, không bỏ sót bất kỳ chi tiết nào để viết cuốn Phúc âm của riêng ông.
Điểm mà ông chú ý nhất nơi Chúa Giêsu đó là Tình thương của Ngài dành cho người tội lỗi, thu thuế và gái điếm. Như vậy ta có thể nói Phúc âm của Luca là Phúc âm của LÒNG THƯƠNG XÓT. Lòng Thương xót đó sẽ trải dài trong Phúc âm của ông.
CHƯƠNG 15:
Luca đã dành hẳn Chương 15 để nói về Lòng thương xót của Thiên Chúa. Đây là Chương Tin mừng đẹp nhất trong toàn bộ Kinh thánh, và trong chương 15 này Luca đã trình bày 3 dụ ngôn về Lòng thương xót.
+ Dụ ngôn tìm con chiên bị thất lạc (Lc 15, 4 – 7), dụ ngôn này được tường thuật chung với Matthêu.
+ Dụ ngôn tìm đồng tiền bị mất (15, 8 – 10).
+ Dụ ngôn Người cha nhân hậu (Lc 15, 11 – 31).
Như vậy, 2 dụ ngôn sau chỉ có mình Luca tường thuật và nó đã nói lên nét đặc biệt của ông luôn xúc động với lòng thương xót của Thiên Chúa, tương truyền Luca đã từng khóc khi viết dụ ngôn này, ông cứ để lòng mình trải ra và dưới ngòi bút, Luca đã diễn tả vô cùng sinh động mà chúng ta chỉ biết chiêm ngưỡng và thán phục.
DỤ NGÔN : NGƯỜI CHA NHÂN HẬU
CÁC TÊN GỌI CỦA DỤ NGÔN:
+ Dụ ngôn người con hoang đàng.
+ Dụ ngôn hai người con hoang đàng.
+ Dụ ngôn người cha phung phí.
+ Dụ ngôn người cha nhân hậu.
Sở dĩ Dụ ngôn có đến 4 tên gọi, vì khi phân tích, tùy theo ta nhấn mạnh Dụ ngôn theo quan điểm nào, mà dụ ngôn có tên gọi theo quan điểm đó. Nhưng cái tên gọi “Dụ ngôn Người Cha nhân hậu” mới diễn tả chính xác nhất Tình yêu của Thiên Chúa đối với người tội lỗi. Đây là dụ ngôn kinh điển trong Kinh thánh, tức tiêu biểu cho mọi dụ ngôn, là áng văn sâu sắc và hay nhất trong Kinh thánh.
ĐỘC GIẢ CÓ THỂ THẮC MẮC
Tại sao lại có tên gọi: “Dụ ngôn hai người con hoang đàng”.?
Rõ ràng trong Bài Tin mừng, chỉ có người con thứ là hoang đàng rõ ràng, vì anh đã bỏ nhà đi hoang. Còn người con cả? Độc giả có thể nghe lại lời người con cả thưa với cha: “’Cha coi, đã bao nhiêu năm con hầu hạ cha, không hề trái lệnh cha một điều nào, mà không bao giờ cha cho riêng con một con bê nhỏ để ăn mừng với chúng bạn”.
Anh không hề trái lệnh cha một điều nào. Ồ! Đúng là một người con có hiếu mà cha mẹ nào cũng thích, anh là người con rất có hiếu. Nhưng “’Cha coi, đã bao nhiêu năm con hầu hạ cha …. mà không bao giờ cha cho riêng con một con bê nhỏ để ăn mừng với chúng bạn”. Như vậy, ngay trong tiềm thức, anh ta không coi người cha kia là người cha thực sự của mình, hóa ra đó chỉ là một ông chủ và anh thực chất chỉ là một người làm công ăn lương.
Như vậy, người con cả luôn sống ngoài tình thương của người cha , anh không muốn ở trong trái tim của cha mà luôn ở ngoài, như vậy, anh đang sống trong tình trạng đi hoang. Kết luận, người con cả cũng là một người con hoang đàng và dụ ngôn này sẽ có tên gọi: “ Dụ ngôn 02 người con hoang đàng”.
“KHI ẤY, NHỮNG NGƯỜI THÂU THUẾ VÀ NHỮNG NGƯỜI TỘI LỖI ĐẾN GẦN CHÚA GIÊSU ĐỂ NGHE NGƯỜI GIẢNG”
Phụng vụ Lời Chúa hôm nay đã thêm vào 3 câu cho dụ ngôn (Lc 15, 1-3) để nói về bối cảnh của bài Tin mừng hôm nay.
ĐẾN GẦN CHÚA GIÊSU:
Như vậy, thính giả đến nghe Chúa Giêsu giảng hôm nay, đó là một đám đông. Nhưng đám đông đó rất kỳ lạ. Kỳ lạ ở chỗ: những vị trí đầu, những hàng ghế đầu không phải dành cho các bậc vị vọng, những người đạo đức mà là dành cho những con người tội lỗi, thu thuế và gái điếm.
Thật kỳ lạ! buổi giảng thuyết của một vị tiên tri đáng kính, nổi tiếng ai cũng hâm mộ lại được người tội lỗi bu đông bu đỏ y như phường du thử du thực. Luca viết: “Họ đến gần Chúa Giêsu để nghe Ngài giảng”. Vâng đúng vậy, họ là những kẻ đau ốm đang cần đến vị bác sĩ, cố gắng ngồi gần để nhìn cho tỏ, để nghe cho kỹ những liều thuốc nhiệm màu cho tâm hồn mình.
“THẤY VẬY, NHỮNG NGƯỜI BIỆT PHÁI VÀ LUẬT SĨ LẨM BẨM RẰNG: “ÔNG NÀY ĐÓN TIẾP NHỮNG KẺ TỘI LỖI VÀ CÙNG NGỒI ĂN UỐNG VỚI CHÚNG”. BẤY GIỜ NGƯỜI PHÁN BẢO HỌ DỤ NGÔN NÀY”
Người Biệt phái và luật sĩ cũng đến. Nhưng họ không đến gần Chúa Giêsu mà chỉ ngồi ở đàng xa, và họ cũng đến không phải để nghe giảng mà là “để lẩm bẩm.
Đấy nhé! Không phải người ta không tôn trọng các ông mà chính các ông không tôn trọng mình. Các ông không chịu đến gần để nghe giảng mà chỉ thấp thó ở đàng xa.
Hình như các Kitô hữu ngày nay vô tình cũng là những Biệt Phái và Kinh sư. Họ đến nhà thờ nhưng không muốn vào mà chỉ thích ở ngoài cho thoải mái, đứng nói chuyện và nhiều khi cả hút thuốc. Họ không muốn ngồi vào những hàng ghế đầu để nghe giảng mà chỉ muốn “lẩm bẩm” với những chuyệng riêng tư của mình.
Ôi! Biệt phái và Kinh sư thời nào cũng thế cả, ở đâu ta cũng gặp.
“ÔNG NÀY ĐÓN TIẾP NHỮNG KẺ TỘI LỖI VÀ CÙNG NGỒI ĂN UỐNG VỚI CHÚNG”.”
Họ lẩm bẩm cái gì: Thưa họ đang chê trách Chúa Giêsu thích giao du với bọn tội lỗi và còn ngồi ăn uống chung với họ nữa.
Ta đã từng nghe Chúa Giêsu trả lời cho Kinh sư và người Pharisêu khi chất vấn, tại sao Ngài năng lui tới với những người tội lỗi, Ngài nói: Chỉ người đau yếu mới cần đến thầy thuốc, còn người khỏe mạnh thì không. Người tội lỗi là những người đau yếu thật sự trong tâm hồn, còn Đức Giêsu, sứ mạng của Ngài khi đến trần gian là để đưa mọi người về với Thiên Chúa,vì mọi người đều là tội nhân trước mặt Chúa, như vậy Đức Giêsu được ví như người thầy thuốc.
“BẤY GIỜ NGƯỜI PHÁN BẢO HỌ DỤ NGÔN NÀY”
Trước thái độ trịch thượng của Biệt phái và Luật sĩ, mặc dù chỉ là “lẩm bẩm”, có nghĩa chỉ là những lời thì thầm, nhưng Chúa Giêsu đều tỏ, chắc chắn Chúa Giêsu không bằng lòng về thái độ này nên Ngài muốn kể cho họ một dụ ngôn: DỤ NGÔN NGƯỜI CHA NHÂN HẬU.
“MỘT NGƯỜI KIA CÓ HAI CON TRAI”
Hầu hết các dụ ngôn của Chúa Giêsu nói về cha con thì thường bắt đầu bằng câu: “Một người kia có hai con trai”. Hai con để mô tả cho hai thái cực, hai thái cực này đều đáng trách và điều làm nổi bật lên đó là hình ảnh của người cha, đó cũng là hình ảnh của Thiên Chúa.
Chúng ta có tập quán không hay, đó là chỉ nghe phần đầu của dụ ngôn, phần nói về người con trai thứ, đứa con hoang đàng. Nhưng người cha mới là nhân vật chính: “Một người kia có hai đứa con trai”. Đó là dụ ngôn “người cha hoang phí” mà ta sắp nghe.
Dụ ngôn là một bi kịch, gồm hai hồi: Cuộc xung đột giữa người cha và hai đứa con của ông mà ông thương yêu đồng đều và nồng nàn nhất. Đó là một câu chuyện thường được sống lại trong nhiều gia đình. Hỡi các người cha và các bà mẹ trên thế gian, đó chính là bi kịch của Thiên Chúa mà các bậc cha mẹ đang sống. Vậy các bậc cha mẹ hãy lắng nghe câu chuyện tình yêu đẹp nhất, hình ảnh đẹp nhất của Thiên Chúa sau đây!
A/- HỒI THỨ NHẤT:
“ĐỨA EM ĐẾN THƯA CHA RẰNG: ‘THƯA CHA, XIN CHA CHO CON PHẦN GIA TÀI THUỘC VỀ CON’. NGƯỜI CHA LIỀN CHIA GIA TÀI CHO CÁC CON. ÍT NGÀY SAU, NGƯỜI EM THU NHẶT TẤT CẢ TIỀN CỦA MÌNH TRẨY ĐI MIỀN XA VÀ Ở ĐÓ ĂN CHƠI XA XỈ, PHUNG PHÍ HẾT TIỀN CỦA
“XIN CHA CHO CON PHẦN GIA TÀI THUỘC VỀ CON”
Người con thứ này chỉ là một kẻ hưởng thụ: Anh ta đòi hỏi tiền, yêu sách thật nhiều tiền. Anh ta chỉ nghĩ đến mình. Anh ta nhận được tất cả từ cha mình, nhưng lại không biết đến điều đó. Anh ta chỉ biết làm có một việc: đòi hỏi, yêu sách, áp lực – khiếu nại.
NGƯỜI CHA LIỀN CHIA GIA TÀI CHO CÁC CON:
Người cha có thái độ hoàn toàn ngược lại với anh ta. Ông chỉ cho không, luôn chia sẻ, cho cách vô vị lợi, tôn trọng tự do kẻ khác. Ông chính là tình yêu! Qua hình ảnh người cha này, Đức Giêsu nói với ta về Thiên Chúa. Chúng ta có hình dung Thiên Chúa như thế không?
ĐỘC GIẢ CÓ THỂ THẮC MẮC:
Tại sao đang sống yên ổn trong gia đình, người con thứ lại đòi chia gia tài? Anh ta đòi chia vì động lực gì?
Trước hết, nguyên việc đòi chia gia tài, đã cho biết anh ta là đứa con bất hiếu. Thời nào cũng vậy: Không ai đòi chia gia tài khi bố mẹ còn sống. Cha mẹ có thể làm di chúc về gia tài khi họ còn sống và di chúc này chỉ có hiệu lực, tức chia gia tài khi họ đã mất. Đòi chia gia tài khi người cha còn sống là thái độ ngỗ nghịch và bất hiếu
Và cũng theo luật Do Thái, người cha có thể định đoạt về của cải của ông hoặc bằng một di chúc được thi hành sau khi ông qua đời (Ds 36,7-9; 27,8-11). Như vậy, việc chia gia tài chỉ có hiệu lực khi người cha đã mất, và luật pháp sẽ dựa vào di chúc này để phân chia, không có chuyện chia gia tài khi người cha còn sống.
NGƯỜI CON THỨ ĐÒI CHIA GIA TÀI CÓ PHẢI VÌ GIA TÀI KHÔNG? THƯA: KHÔNG.
Vì theo luật Do Thái, Trưởng nam được hưởng “hai phần sản nghiệp”, nghĩa là gấp đôi phần được ban cho mỗi người con khác (Đnl 21,17). Ở đây, vì chỉ có hai đứa con, người con cả được nhận hai phần ba và người con thứ nhận một phần ba. Khi đó, người con có quyền sở hữu, nhưng quyền thu hoa lợi vẫn thuộc về người cha cho đến khi ông qua đời. Nếu người con bán phần gia sản của mình, người mua chỉ được nhận lấy sau khi người cha của người bán đã chết. Khi làm như vậy, người con sẽ không còn có quyền đòi hỏi gì về của cải, cả về vốn lẫn lãi.
Như vậy, khi người cha còn sống, thì quyền thu hoa lợi vẫn thuộc về người cha, ngay cả người con bán đi phần của mình, thì người mua chỉ được làm chủ khi người cha của người bán qua đời. Nhưng trong Tin mừng nói rõ: Người cha vẫn chia gia tài và vẫn cho phép người con thứ thu gom phần của mình để trảy đi phương xa làm ăn. Do đó, có người nói, đây là “Dụ ngôn người cha phung phí”.
Như vậy, người con thứ đòi chia gia tài vì lý do gì?
NGƯỜI CON THỨ MUỐN CHIA GIA TÀI ĐỂ ĐƯỢC SỐNG TỰ DO
Anh ta muốn chia gia tài không phải vì cái gia tài, nhưng để được tách ra khỏi cái gia đình mà anh đã từng sống từ khi sinh ra đến giờ, để được tự do, không còn bị ràng buộc bởi bất kỳ áp lực nào, anh sẽ sống theo ý anh muốn.
Đó cũng là khát vọng của con người qua mọi thời đại.
Trên quan điển tôn giáo: Tự do chính được phép làm những gì mà không bị sự ích kỷ, dục vọng chi phối. Tự do là làm những gì giúp cho mình được hạnh phúc, đó là mở lòng mình ra với tha nhân.
Như vậy, người con thứ trong dụ ngôn hôm nay, không phải anh ta muốn tự do mà anh đang bị nô lệ bởi chính dục vọng thấp hèn của mình
“KHI NÓ TIÊU HẾT TIỀN CỦA, THÌ GẶP NẠN ĐÓI LỚN TRONG MIỀN ĐÓ VÀ NÓ BẮT ĐẦU CẢM THẤY TÚNG THIẾU. NÓ VÀO GIÚP VIỆC CHO MỘT NGƯỜI TRONG MIỀN, NGƯỜI NÀY SAI NÓ RA ĐỒNG CHĂN HEO. NÓ MUỐN ĂN NHỮNG ĐỒ HEO ĂN CHO ĐẦY BỤNG, NHƯNG CŨNG KHÔNG AI CHO.
BẤY GIỜ NÓ MỚI HỒI TÂM LẠI VÀ TỰ NHỦ: ‘BIẾT BAO NGƯỜI LÀM CÔNG Ở NHÀ CHA TÔI ĐƯỢC ĂN UỐNG DƯ DẬT, CÒN TÔI, TÔI Ở ĐÂY PHẢI CHẾT ĐÓI! TÔI MUỐN RA ĐI, TRỞ VỀ VỚI CHA TÔI VÀ THƯA NGƯỜI RẰNG: “LẠY CHA, CON ĐÃ LỖI PHẠM ĐẾN TRỜI VÀ ĐẾN CHA; CON KHÔNG ĐÁNG ĐƯỢC GỌI LÀ CON CHA NỮA, XIN CHA ĐỐI XỬ VỚI CON NHƯ MỘT NGƯỜI LÀM CÔNG CỦA CHA.”
Người con thứ là hình ảnh của người thu thuế, người tội lỗi và cả chúng ta, vì chúng ta luôn muốn dứt ra khỏi sự yêu thương của Thiên Chúa chúng ta muốn tự do muốn sống theo ý mình muốn, cho dù Thiên Chúa có là Người Cha đầy lòng nhân hậu, nhưng cái khao khát tự do của ta mới là cái cháy bỏng. Ta muốn làm gì là tùy ý ta và không muốn bị hạn chế bởi bất cứ quyền lực nào, đó mới là con người trọn vẹn, vì tự do là món quà cao quý mà Thiên Chúa ban cho con người.
Thế nhưng quan niệm tự do như vậy có đúng không? thưa: KHÔNG. Vì ngay tự bản chất, ta chỉ là loài thụ tạo, được Thiên Chúa dựng nên chứ không phải tự mình mà có, nên ta phải ở trong và lệ thuộc vào Đấng Tạo Hóa. Khi vẫn còn ở trong Thiên Chúa vẫn còn ở trong nhà của cha, ta mới có hạnh phúc và ta mới là con người đích thực, vì vẫn ở trong và kết hợp với Đấng dựng nên mình. Nếu ta dứt ra khỏi Thiên Chúa, tức ta đã dứt ra khỏi nguồn sống, kết quả chỉ là sự thảm hại như Dụ ngôn đã dẫn chứng.
“NÓ VÀO GIÚP VIỆC CHO MỘT NGƯỜI TRONG MIỀN, NGƯỜI NÀY SAI NÓ RA ĐỒNG CHĂN HEO. NÓ MUỐN ĂN NHỮNG ĐỒ HEO ĂN CHO ĐẦY BỤNG, NHƯNG CŨNG KHÔNG AI CHO”
Bao giờ cũng vậy, khi từ vạch xuất phát đi lên đỉnh cao, nếu từ đó rơi xuống, nó không rơi xuống trở lại đúng vạch xuất phát mà còn sâu hơn nữa, phải xuống tận đáy bùn đen. Cũng vậy, anh đang ở địa vị người con, là ông chủ tương lai bây giờ rơi xuống còn thua cả con vật. Anh đi chăn heo, đã là điều tệ hại, vì heo là con vật ô uế đối với quan niệm Do Thái. Chưa dừng lại đó, anh còn muốn bằng con heo cũng không được, vì anh muốn ăn thức ăn của heo nhưng không ai cho. Như vậy, chính cái tự do mà anh mong muốn, đã biến anh từ một ông chủ con xuống dưới cả con heo nữa.
“TÔI MUỐN RA ĐI, TRỞ VỀ VỚI CHA TÔI”
Và trong lúc cùng đường, trong lúc thất bại ê chê, anh mới nhận ra sự ngu ngốc của mình. Anh trộm nghĩ, nếu cứ kéo dài tình trạng này anh sẽ chết. Chính vì vậy anh quyết tâm trở về với cha mình, soạn sẵn trong đầu những câu nói sẽ làm cha mủi lòng.
“CON KHÔNG ĐÁNG ĐƯỢC GỌI LÀ CON CHA NỮA, XIN CHA ĐỐI XỬ VỚI CON NHƯ MỘT NGƯỜI LÀM CÔNG CỦA CHA”
Anh chỉ muốn cha coi anh như người làm công, chứ không dám mong gì hơn. Trong ý nghĩ của anh, ta không thấy một lời xin lỗi nào, mà chỉ mong thoát khỏi nạn đói này. Như vậy, anh trở về với cha không phải tư cách của một người con, nhưng là một tên đầy tớ. Cái động lực trở về không có gì tốt đẹp, chỉ quanh quẩn cái chuyện bao tử.
Người con út này là hình ảnh của người tội lỗi, mà người Pharisêu thường hình dung ra.
a) Đó là người con nổi loạn, đòi độc lập, tượng trưng cho khuynh hướng vô thần thuộc mọi thời đại: thụ hưởng “của cải” của Thiên Chúa mà không nhìn nhận Người, lìa xa Thiên Chúa, muốn gì làm đó mà không cần kiểm soát: “’Đâu biết đến Thiên Chúa, đâu biết đến chủ tể nào”. Thái độ này không phải ngày nay mới có.
b) Hơn nữa với người Pharisêu, người con Israel này đã sa xuống vực thẳm của đê tiện. Anh ta tự bán mình làm nô lệ cho một người dân ngoại, như vậy anh không còn tôn trọng ngày Sabát nữa, đâu còn giữ nghi thức ăn uống theo luật nữa: Anh ta chăn heo loại thú dơ bẩn, bị cấm và đầy ghê tởm.
c) Ngoài ra chỉ nhìn theo quan điểm thuần tuý con người, thì sống như vậy cũng không có luân lý: Đó là một con người hư hỏng, không còn bản chất người, bị xuống cấp tụt xuống hạng thú. Chính anh ta cũng sống như một thứ heo: tiền bạc, ăn uống, dục tính, chỉ biết cái tôi và cái tôi.
“’BIẾT BAO NGƯỜI LÀM CÔNG Ở NHÀ CHA TÔI ĐƯỢC ĂN UỐNG DƯ DẬT, CÒN TÔI, TÔI Ở ĐÂY PHẢI CHẾT ĐÓI”
Người ta tăng cường sự trang điểm cho anh, vì cảm phục anh trở về. Nhưng anh ta vẫn lấy lợi ích riêng của mình làm chúa tể: “Nhét cho đầy bụng”. Sự trở về của anh ta, dù có nói hay thế nào đi nữa cũng chỉ là một sự tinh toán bủn xỉn để tìm được chỗ ăn chỗ ở. Anh ta đau bụng hơn đau lòng. Đó là đứa con thật tội nghiệp, nạn nhân của bản năng mình, của bạn bè mình: Nó đã mất thói quen thương yêu. Nó chỉ còn biết nghĩ đến mình.
Lạy Chúa đó cũng là hình ảnh của con! Than ôi, con vẫn thường sống như thế đó:
“ANH TA CÒN Ở ĐẰNG XA, THÌ NGƯỜI CHA ĐÃ TRÔNG THẤY. ÔNG CHẠNH LÒNG THƯƠNG, CHẠY RA ÔM CỔ ANH TA VÀ HÔN LẤY HÔN ĐỂ”
“CHẠY RA ÔM CỔ ANH TA VÀ HÔN LẤY HÔN ĐỂ”
Chúng ta cần ghi nhận, không cần người con mở miệng thưa gởi, thì người cha đã làm tất cả rồi. Ông thể hiện bốn cử chỉ: “ông thấy anh ta đằng xa”, “ông chạnh lòng thương”, “ông chay đến, ông ôm hôn”. Có lẽ việc “chạy đến” là cử chỉ mạnh nhất trong dụ ngôn này. Thông thường không khi nào một bề trên lại chay tới một bề dưới, nhất là khi kẻ dưới lại có một thái độ bất bình với họ.
CHÚA GIÊSU CHỈ MUỐN NHẤN MẠNH ĐẾN HÀNH ĐỘNG CỦA NGƯỜI CHA:
Vâng, người ta làm sai hoàn toàn ý nghĩa dụ ngôn của Đức Giêsu khi trình bày cuộc trở về của người con này, như một gương “hoán cải”. Nếu Đức Giêsu chỉ mô tả thái độ “ăn năn” của một người tội lỗi, thì giáo huấn đó có thể đã không làm cho người Pharisêu bất bình. Vì từ lâu tại Israel, như toàn bộ Kinh Thánh minh chứng, người ta đều biết rằng, Chúa luôn tha thứ cho người tội lỗi biết ăn năn.
Nhưng ở đây, cách đối xử của người cha này đi quá xa. Ông không cần biết đến con ông có biểu lộ chút ăn năn thực sự nào không. Vừa thấy con từ đằng xa, ông đã chạy đến gặp nó. Đức Giêsu không muốn nhấn mạnh đến thái độ của đứa con hoang đàng, những việc làm sám hối đền tội của nó; nhưng Người chỉ muốn nhấn mạnh về tình yêu nhưng không của người cha, một người cha đã tha thứ trước khi con ông thú tội, không đặt một điều kiện nào hết!
Lạy Chúa, Chúa thương yêu con với một tình yêu như vậy sao! Yêu đến độ khi con làm điều bất xứng, tội lỗi. Chúa chưa cần con mở miệng xin lỗi mà cứ chạy đến ôm lấy con hôn lấy hôn để. Tình yêu cao vời quá! Con không biết phải nói gì nữa.
Amen..
“BẤY GIỜ NGƯỜI CON NÓI RẰNG: ‘THƯA CHA, CON THẬT ĐẮC TỘI VỚI TRỜI VÀ VỚI CHA, CHẲNG CÒN ĐÁNG GỌI LÀ CON CHA NỮA…’
NHƯNG NGƯỜI CHA LIỀN BẢO CÁC ĐẦY TỚ RẰNG: ‘MAU ĐEM ÁO ĐẸP NHẤT RA ĐÂY MẶC CHO CẬU, XỎ NHẪN VÀO NGÓN TAY, XỎ DÉP VÀO CHÂN CẬU, RỒI ĐI BẮT CON BÊ ĐÃ VỖ BÉO LÀM THỊT ĐỂ CHÚNG TA MỞ TIỆC ĂN MỪNG!”
Anh ta còn ở đàng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để. Bấy giờ người con nói rằng: ‘Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa….’ Nhưng người cha liền bảo các đầy tớ rằng: ‘Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng! Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy.’ Và họ bắt đầu ăn mừng.
Anh đã thưa với cha theo như kịch bản soạn sẵn, nhưng mới chỉ thưa hết phần đầu cha anh đã ngắt ngay, không để anh nói tiếp. “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa….” Anh chỉ muốn trở thành người làm công, cha anh hiểu anh muốn nói gì, nhưng không có người cha nào lại cho phép điều đó xảy ra. Anh phải là con, là con đúng nghĩa. Ta không thấy người cha có một câu nói trách móc nào, vì ông đang thật sự hạnh phúc, chỉ nguyên việc trở về của anh cũng đủ làm cho ông mãn nguyện rồi, đâu cần phải hỏi han gì nữa. Cha anh sai gia nhân xỏ nhẫn, xỏ dép, mặc áo đẹp nhất,… ông muốn nói với anh: “Con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy.”
Qua người con thứ này, chúng ta hiểu được Tình yêu bao la của Thiên Chúa dành cho chúng ta, là những con người tội lỗi. Nếu chúng ta có can đảm trở về với Ngài, Ngài sẽ tha thứ hết không một chút gì trách móc và phục hồi quyền làm con mà ta đã mất vì tội lỗi.
Người cha không để cho người con nói hết câu mà anh ta đã chuẩn bị trước. Ông ban cho con mình quá sự mong muốn. Đó là một lễ cưới thực sự: áo đẹp, nhẫn đeo, giày dép, bữa tiệc, âm nhạc.
“VÌ CON TA ĐÂY ĐÃ CHẾT MÀ NAY SỐNG LẠI, ĐÃ MẤT MÀ NAY LẠI TÌM THẤY.’ VÀ HỌ BẮT ĐẦU ĂN MỪNG”.
Đây là điệp khúc kết thúc hồi thứ nhất của bi kịch. Trong chốc lát, chúng ta sẽ thấy điệp khúc này có hai từ thay đổi: “con ta” thành “em con”. Chết – sống lại – Đã mất – lại tìm thấy. Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta: Thế nào là chết, thế nào là sống. Xa rời tình thương của người cha, xa rời tình thương Thiên Chúa là chúng ta đã chết, chết trong chính tội lỗi của mình. Nhưng khi có can đảm trở về với Chúa là chúng ta được hồi sinh, được sống lại.
Ôi đây là mạc khải bi thảm mà Đức Giêsu muốn rọi chiếu vào vùng vô thức của ta: Xa cách Chúa, là phải chết. Con chỉ thực sự hiện hữu, được sống trong tương quan với Thiên Chúa mà thôi. Chỉ có đức tin mới cho ta thấy thực tại đích thực. Ta có thể tưởng mình đang sống mà thực ra đã chết.
“Tiệc mừng” của Thiên Chúa! “Niềm vui, của Người! Hoán cải, đó chỉ là bước vào niềm vui của Thiên Chúa. Thế mà rõ ràng, đó là điều mà người anh cả sắp từ chối.
HỒI THỨ HAI:
“LÚC ẤY NGƯỜI CON CẢ CỦA ÔNG ĐANG Ở NGOÀI ĐỒNG. KHI ANH TA VỀ GẦN ĐẾN NHÀ, NGHE THẤY TIẾNG ĐÀN CA NHẢY MÚA, LIỀN GỌI MỘT NGƯỜI ĐẦY TỚ RA MÀ HỎI XEM CÓ CHUYỆN GÌ.
NGƯẤI ẤY TRẢ LỜI: ‘EM CẬU ĐÃ VỀ, VÀ CHA CẬU ĐÃ LÀM THỊT CON BÊ BÉO, VÌ GẶP LẠI CẬU ẤY MẠNH KHOẺ.’ NGƯỜI ANH Cả LIỀN NỔI GIẬN VÀ KHÔNG CHỊU VÀO NHÀ. NHƯNG CHA CẬU RA NĂN NỈ”
“CHA CẬU RA NĂN NỈ”
Đối với người con cả, người cha này cũng biểu lộ cùng một tấm lòng nhân hậu: “Ông bước ra năn nỉ”. Kinh Thánh thường trở lại đề tài: Những hồng ân Thiên Chúa được ban tặng cách tuyệt đối nhưng không, qua đề tài người con út giành chỗ người con cả (St 2,36,2; Mcb 4,26; Cn 30,23; Hs 12,4). Như vậy, người Pharisêu có thể nhớ tới trường hợp Giacóp đã chiếm chỗ của Esau, nhận gia tài mà đúng ra ông không được hưởng. Cũng vậy, “những người thợ giờ chót” sẽ thay chỗ những người đầu tiên “làm vườn nho” (Mt 20,18). Cũng thế, “người hàng chót sẽ lên hàng đầu (Lc 13,30,1; Cr 15,18). Như vậy “dân ngoại sẽ thay thế cho dân được tuyển chọn: Đó là quyền tuyệt đối và tình yêu nhưng không của Thiên Chúa (Rm 9,30).
Lúc người con thứ trở về, người con cả đang làm việc ngoài đồng. Khi trở về, anh nhận ra trong nhà có chuyện lạ. Sau khi hỏi một người đầy tớ, anh ta hiểu chuyện; anh không thể chấp nhận được, anh nổi giận. Ta thông cảm với anh. Vì anh không chịu vào nhà, người cha đã ra gặp. Thế là anh cho tuôn ra hết những gì vẫn chất chứa tận đáy lòng: anh nói với giọng chua cay, nhưng kể ra đúng các sự việc. Theo anh, đúng là người cha đã xử sự bất công! Những người Pharisêu và các kinh sư cũng nghĩ rằng họ có lý khi tỏ ra khó chịu với Đức Giêsu.
Trước thái độ của Thiên Chúa như thế, không thể nói bất công được! Chúa thương yêu tất cả mọi người. “Chẳng lẽ vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức sao?” (Mt 20,15). Lạy Chúa, con sẽ tạ ơn Chúa không biết mỏi mệt vì tình yêu phổ quát của Chúa. Con thường tự hỏi xem, con yêu Chúa thực sự không, nhưng con vẫn biết Chúa thương yêu con.
“ANH TRẢ LỜI: ‘CHA COI, ĐÃ BAO NHIÊU NĂM CON HẦU HẠ CHA, KHÔNG HỀ TRÁI LỆNH CHA MỘT ĐIỀU NÀO, MÀ KHÔNG BAO GIỜ CHA CHO RIÊNG CON MộT CON BÊ NHỎ ĐỂ ĂN MỪNG VỚI CHÚNG BẠN;
CÒN THẰNG CON CỦA CHA KIA, SAU KHI PHUNG PHÍ HẾT TÀI SẢN CỦA CHA VỚI BỌN ĐIẾM NAY TRỞ VỀ, THÌ CHA LạI SAI LÀM THỊT CON BÊ BÉO ĂN MỪNG NÓ’.
NHƯNG NGƯỜI CHA BẢO: ‘HỠI CON, CON LUÔN Ở VỚI CHA, VÀ MỌI SỰ CủA CHA ĐỀU LÀ CỦA CON. NHƯNG PHẢI ĂN TIỆC VÀ VUI MỪNG, VÌ EM CON ĐÃ CHẾT NAY SỐNG LẠI, ĐÃ MẤT NAY LẠI TÌM THẤY’ “.
“Bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh”. Chắc chắn đấy cũng là lý tưởng của người Pharisêu và các kinh sư: “phục vụ” Thiên Chúa bền bỉ, và rất chú ý để không bao giờ vi phạm một điều răn nào.
“CÒN THẰNG CON CỦA CHA KIA”
Sau đó, người con cả nói về em với giọng hết sức khinh bỉ. Anh không gọi là “em con”, nhưng nói là “thằng con của cha đó”. Điều này cũng giống như người Pharisêu trong dụ ngôn Lc 18,10-14 nói đến “tên thu thuế kia” với giọng miệt thị.
Như thế, Đức Giêsu đã ngỏ lời với những người vẫn nghĩ rằng mình là những tôi tớ tốt lành, luôn quan tâm để không bao giờ thiếu sót một điều răn nhỏ. Khi đó, họ nghĩ họ có nhiều quyền; họ tỏ ra khó chịu, không phải đối với người tội lỗi, nhưng đối với chính Thiên Chúa vì Ngài đã đối xử với kẻ tội lỗi như vậy: Nếu như thế, sống đạo đức còn ích lợi gì? Nếu như thế, sống trung thành và vâng phục Thiên Chúa còn có ý nghĩa gì nữa?
Câu trả lời cha: ‘Cha coi, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ cha cho lấy được một con dê con để con ăn mừng với bạn bè. Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại giết bê béo ăn mừng!
Như vậy, người con cả cho chúng ta thấy chính mũi nhọn của dụ ngôn này: Anh ta không nhận thấy trọn vẹn Tình yêu mà anh ta đang thừa hưởng. Anh ta luôn nghĩ rằng mình chỉ là người làm công của cha mà thôi, chứ không phải là người con đích thực. Như vậy, anh cũng chính là người con hoang đàng vậy, anh đã đi ra khỏi tình yêu của cha mình. Dụ ngôn này cũng có tên gọi: Dụ ngôn hai người con hoang đàng”.
“Nhưng người cha nói với anh ta: ‘Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con. Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy”
Qua dụ ngôn hai hồi này, chúng ta được mời gọi bước vào trong Tình yêu của Thiên Chúa, vào trong niềm vui của Người, khi thấy kẻ tội lỗi trở lại. Đó là lời loan báo cuộc trở lại của các dân ngoại, dân mới của Thiên Chúa.
Một ngày kia, Luca sẽ đặt vào môi miệng Phêrô những lời sau đây, khi Phêrô nhận thấy ân sủng được ban cho viên đại đội trưởng ngoại giáo Conêliô: “Vậy Thiên Chúa đã ban cho họ cùng một ân huệ như Người đã ban cho chúng ta, vì chúng ta tin vào Chúa Giêsu – Kitô, thì tôi là ai mà dám ngăn cản Thiên Chúa” (Cv 11,17). “Không dành đặc ân cho ai cả”. Mọi người đều được thương yêu.
Độc giả có thể ngừng lại một chút để chiêm ngắm một người cha đầy nhân hậu, đó cũng là hình ảnh của Thiên Chúa:
“VÌ EM CON”
Ông không muốn nghe lời hối lỗi của con thứ, nay người cha lại để cho người con cả tha hồ nói lên những tâm tình chua chát của mình. Sau đó, ông đã trả lời với giọng dịu dàng âu yếm. Qua lời ông nói, người con cả chẳng còn lý do gì mà nói rằng cha xử bất công với mình nữa. Nhưng ông tế nhị điều chỉnh: “vì em con đây…”. Nếu cha đã sung sướng đến thế khi gặp lại con, lẽ nào người anh lại không vui sướng khi gặp lại em?
Qua Dụ ngôn Người Cha nhân hậu, chúng ta nhận ra mình là ai qua hình ảnh hai người con trong bài Tin Mừng này, để làm một hành trình “Đứng lên và trở về” với Chúa, Giáo Hội, với cộng đoàn, gia đình… trong Mùa Chay thánh 2016 này.
Amen.
____________________________
Giuse Nguyễn Viết Tâm.

