Lời Chúa Thánh Lễ Đêm Giáng Sinh (24/12/2015) – (Lc 2, 1-14)

23/12/2015
3

MÙA GIÁNG SINH.

“HÔM NAY ÐẤNG CỨU THẾ ĐÃ GIÁNG SINH CHO CHÚNG TA”.

BÀI ĐỌC I: Is 9, 1-3. 5-6
“Chúa ban Con của Người cho chúng ta”.
Bài trích sách Tiên tri Isaia.

Dân tộc bước đi trong u tối, đã nhìn thấy sự sáng chứa chan. Sự sáng đã bừng lên trên những người cư ngụ miền thâm u sự chết. Chúa đã làm cho dân tộc nên vĩ đại, há chẳng làm vĩ đại niềm vui? Họ sẽ vui mừng trước nhan Chúa, như thiên hạ mừng vui trong mùa gặt lúa, như những người thắng trận hân hoan vì chiến lợi phẩm, khi đem của chiếm được về phân chia.

Vì cái ách nặng nề trên người nó, cái gông nằm trên vai nó, cái vương trượng quyền của kẻ áp bức. Chúa sẽ nghiền nát ra, như trong ngày chiến thắng Mađian. [Bởi lẽ mọi chiếc giày đi lộp cộp của kẻ chiến thắng, mọi chiếc áo nhuộm thắm máu đào sẽ bị đốt đi và trở nên mồi nuôi lửa.] Bởi lẽ một hài nhi đã sinh ra cho chúng ta, và một người con đã được ban tặng chúng ta.

Người đã gánh nhận vương quyền trên vai, và thiên hạ sẽ gọi tên Người là “Cố Vấn Kỳ Diệu, Thiên Chúa Huy Hoàng, Người Cha Muôn Thuở, Ông Vua Thái Bình”. Người sẽ mở rộng vương quyền, và cảnh thái bình sẽ vô tận; Người sẽ ngự trên ngai vàng của Ðavít, và trong vương quốc Người, để củng cố và tăng cường, trong sự công minh chính trực, ngay tự bây giờ và cho đến muôn đời. Lòng ghen yêu của Chúa thiên binh sẽ thực thi điều đó.

Ðó là lời Chúa.

BÀI ĐỌC II: Tt 2, 11-14
“Ân sủng của Chúa đã đến với mọi người”.
Bài trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi cho Titô.

Ân sủng của Thiên Chúa, Ðấng Cứu Ðộ chúng ta, đã xuất hiện cho mọi người, dạy chúng ta từ bỏ gian tà và những dục vọng trần tục, để sống tiết độ, công minh và đạo đức ở đời này, khi trông đợi niềm hy vọng hạnh phúc và cuộc xuất hiện sự vinh quang của Ðức Giêsu Kitô là Thiên Chúa cao cả và là Ðấng Cứu Ðộ chúng ta.

Người đã hiến thân cho chúng ta để cứu chuộc chúng ta khỏi mọi điều gian ác, luyện sạch chúng ta thành một dân tộc xứng đáng của Người, một dân tộc nhiệt tâm làm việc thiện.

Ðó là lời Chúa.

BÀI TIN MỪNG: Lc 2, 1-14
“Hôm nay Ðấng Cứu Thế đã giáng sinh cho chúng ta”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Ngày ấy, có lệnh của hoàng đế Cêsarê Augustô ban ra, truyền cho khắp nơi phải làm sổ kiểm tra. Ðây là cuộc kiểm tra đầu tiên, thực hiện thời Quirinô làm thủ hiến xứ Syria. Mọi người đều lên đường trở về quê quán mình. Giuse cũng rời thị trấn Nadarét, trong xứ Galilêa, trở về quê quán của Ðavít, gọi là Bêlem, vì Giuse thuộc hoàng gia và là tôn thất dòng Ðavít, để khai kiểm tra cùng với Maria, bạn người, đang có thai.

Sự việc xảy ra trong lúc ông bà đang ở đó, là Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa, và bà đã hạ sinh con trai đầu lòng. Bà bọc con trẻ trong khăn vải và đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong hàng quán.

Bấy giờ trong miền đó có những mục tử đang ở ngoài đồng và thức đêm để canh giữ đoàn vật mình. Bỗng có thiên thần Chúa hiện ra đứng gần bên họ, và ánh quang của Thiên Chúa bao toả chung quanh họ, khiến họ hết sức kinh sợ. Nhưng thiên thần Chúa đã bảo họ rằng: “Các ngươi đừng sợ, đây ta mang đến cho các ngươi một tin mừng đặc biệt, đó cũng là tin mừng cho cả toàn dân: Hôm nay Chúa Kitô, Ðấng Cứu Thế, đã giáng sinh cho các ngươi trong thành của Ðavít. Và đây là dấu hiệu để các ngươi nhận biết Người: Các ngươi sẽ thấy một hài nhi mới sinh, bọc trong khăn vải và đặt nằm trong máng cỏ”.

Và bỗng chốc, cùng với các thiên thần, có một số đông thuộc đạo binh thiên quốc đồng thanh hát khen Chúa rằng: “Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời, và bình an dưới thế cho người thiện tâm”.

Ðó là lời Chúa.
___________________________

SUY NIỆM & CHIA SẺ:

HÔM NAY ÐẤNG CỨU THẾ ÐÃ GIÁNG SINH CHO CHÚNG TA

Hôm nay Ðấng Cứu Thế đã Giáng Sinh cho chúng ta. Lời loan báo Chúa Giáng Sinh vang lên đêm nay, lời loan báo xa xưa nhưng luôn mới mẻ. Lời loan báo vang lên cho những ai đang tỉnh thức, cho những mục đồng tại Bêlem cách đây hơn 2.000 năm, nó vang lên cho những ai đang sống theo đòi hỏi của Mùa Vọng, và một khi đã tỉnh thức trong đợi chờ, họ sẵn sàng đón nhận sứ điệp vui mừng được hát lên trong Thánh Lễ hôm nay: “Hôm nay Ðấng Cứu Thế đã Giáng Sinh cho chúng ta”.

Ngày hôm nay trong đêm cực thánh này, thời gian được mở ra đến cõi đời đời, bởi vì Ngài, Lạy Chúa Kitô, Ngài đã từ trời cao mà sinh xuống giữa chúng con. Ngài sinh xuống trần gian từ cung lòng của một người nữ đã được chúc phúc hơn mọi người nữ. Ngài là con của Ðấng Tối Cao, sự thánh thiện của Ngài đã thánh hóa thời gian của chúng con một lần vĩnh viễn luôn mãi, những ngày tháng, những thế kỷ, những ngàn năm. Với sự Giáng Sinh của Ngài, Ngài đã làm cho thời gian trở thành cái hôm nay của ơn cứu rỗi.

Hôm nay Ðấng Cứu Thế đã Giáng Sinh cho chúng ta. Ðêm nay chúng ta cử hành mầu nhiệm Bêlem, mầu nhiệm của một đêm đặc biệt cách nào đó nằm trong thời gian vừa đồng thời vượt qua thời gian, trong cung lòng của Ðức Nữ Ðồng Trinh một Con Trẻ đã sinh ra, một máng cỏ đã trở thành cái nôi cho Ðấng là sự sống đời đời.

ĐÊM THÁNH:

Vì sao gọi lễ cử hành hôm nay là “Đêm Thánh”? Nói cho ngay, về lịch sử, ta không có cơ sở nào để khẳng định rằng Hài Nhi Giêsu đã chào đời vào ban đêm. Đành rằng chúng ta có bản trình thuật kể chuyện các mục đồng canh giữ súc vật trong đêm tối và họ nghe sứ điệp từ trời báo tin về cuộc sinh hạ của Đấng Cứu Thế, nhưng tự nó, bản trình thuật ấy cũng không phải là bằng chứng cho phép ta kết luận rằng Đức Giêsu đã sinh ra vào ban đêm.

Thế nhưng, truyền thống Kitô giáo vẫn luôn cho rằng cuộc chào đời hồng phúc này của Đấng Cứu Thế đã diễn ra trong một đêm tối. Vì sao?

Vì đêm tối, đối với con người, vẫn có hai khía cạnh. Nó mang một ý nghĩa kép, một ý nghĩa “hàm hồ”- cũng như hầu hết mọi yếu tố khác trong cuộc đời này.

Đêm tối gợi lên một cái gì thâm u, huyền bí, là thời gian mà không ai có thể làm việc- như Đức Giêsu nói đến trong Thánh Kinh. Đêm tối được cảm nhận gần như là sự chết. Đêm tối là bất định, bất quyết và hiểm nguy. Đêm tối là trùng khơi mịt mù. Vì thế, trong lãnh vực tôn giáo, đêm tối mang đầy ý nghĩa biểu tượng. Trong Thánh Kinh, đêm tối tượng trưng cho thời gian bất tín và tội lỗi, thời gian Chúa đến thăm và phán xét.

Vì thế, Kitô hữu phải là con cái của ban ngày, họ phải chiếu sáng như những vì sao trong bóng đêm – để không bị bất ngờ bởi vị thẩm phán đến thình lình như kẻ trộm giữa đêm khuya. Chúng ta phải tỉnh thức, chúng ta không được ngủ say, chúng ta phải trỗi dậy và bước đi như thể đang bước đi giữa ánh sáng ban ngày.

LƯỚT QUA CÁC BÀI ĐỌC:

Những Bài đọc đêm nay cung cấp cho chúng ta những tia sáng hy vọng.

TRONG BÀI ĐOC I trích sách Tiên tri Isaia: Tiên-tri Isaia tường thuật những lợi ích khi con người có được Đấng Cứu Thế: Ngài như ánh sáng soi cho con người đang sống trong vùng bóng tối của sự chết. Ngài giúp giải thoát con người khỏi làm nô lệ cho tội lỗi. Ngài ban cho con người khôn ngoan, sức mạnh, thương yêu, và bình an.

Bài đọc I nêu bật các chủ đề sau:

(1) ÁNH SÁNG – BÓNG TỐI:

“Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.” Tình trạng của dân Do-Thái thời Tiên-tri Isaia và tình trạng của con người trước khi Đấng Cứu Thế đến là hoàn toàn bi quan và tăm tối. Hai vương quốc của Do-Thái sắp sửa bị quân thù Assyria và Babylon xâm chiếm và đem đi lưu đày. Con người bị bao quanh bởi bóng tối của sự không biết Thiên Chúa, không biết suy xét, và bao nhiêu tội lỗi lan tràn. Hậu quả tai hại nhất của việc sống trong bóng tối là con người chắc chắn sẽ phải chết.

Nhưng may mắn cho dân tộc Do-Thái và cho con người, Thiên Chúa đã ban cho họ một ánh sáng, Người Con của Ngài. Ánh sáng này sẽ làm cho con người được thấy, được thấu hiểu những Mầu Nhiệm của Thiên Chúa, và nhất là mang lại Ơn Cứu Độ cho con người, cho họ được sống đời đời.

(2) VUI MỪNG – ĐAU KHỔ:

Hình ảnh thứ hai Tiên-tri dùng là liên kết ánh sáng với vui mừng và bóng tối với đau khổ: “Vì Chúa đã gia tăng các quốc gia, đã tăng thêm nỗi vui mừng. Họ mừng vui trước nhan Ngài như thiên hạ mừng vui trong mùa gặt hái, như người ta hỷ hoan khi chia nhau chiến lợi phẩm. Vì cái ách đè lên cổ dân, cây gậy đập xuống vai họ, và ngọn roi của kẻ hà hiếp, Ngài đều bẻ gãy như trong ngày chiến thắng quân Median.”

(3) CON NGƯỜI – ĐẤNG CỨU THẾ:

“Vì một trẻ thơ đã được sinh ra cho chúng ta, một Người Con đã được ban tặng cho ta. Người đã lãnh nhận quyền cai trị trên vai, tên của Người sẽ được gọi là:

1/. CỐ VẤN KỲ DIỆU:
2/. THIÊN CHÚA UY QUYỀN.
3/. NGƯỜI CHA MUÔN THƯỞ.
4/. HOÀNG TỬ BÌNH AN.

“Quyền cai trị của Ngài sẽ gia tăng, và hoà bình sẽ vô tận cho ngai vàng và vương quốc của vua David. Người sẽ làm cho vương quốc được kiên cố vững bền trên nền tảng công bình và chính trực, từ nay cho đến mãi muôn đời. Lòng nhiệt thành của Đức Chúa các đạo binh sẽ thực hiện điều đó.”

Đó là 3 chủ đề chính của Bài đọc I.

TRONG BÀI ĐỌC II trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi cho Titô, Thánh Phaolô dạy Titô, môn đệ của ngài: Ân sủng Cứu Độ dạy chúng ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục, mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này. Chúa Giêsu đã tự hiến để cứu chuộc chúng ta cho thoát khỏi mọi điều bất chính, và để thanh luyện chúng ta, khiến chúng ta thành Dân Riêng của Người, một dân hăng say làm việc thiện.

TRONG BÀI TIN MỪNG theo thánh Luca, Tin Mừng Giáng Sinh được loan báo cho con người: Con Thiên Chúa đã giáng sinh làm người trong hang đá khó nghèo. Chỉ có Mục đồng là những người đầu tiên được sứ Thần loan báo và nhận ra Tin Mừng Cứu Độ.

(Sưu tầm).
_____________________________

ĐI VÀO BÀI TIN MỪNG:

“Ngày ấy, có lệnh của hoàng đế Cêsarê Augustô ban ra, truyền cho khắp nơi phải làm sổ kiểm tra. Ðây là cuộc kiểm tra đầu tiên, thực hiện thời Quirinô làm thủ hiến xứ Syria. Mọi người đều lên đường trở về quê quán mình.”

Ngay trong phần mở đầu của Bài Tin mừng, Luca muốn cho độc giả thấy, sự kiện Đức Giêsu giáng sinh làm người là sự kiện có thật trong lịch sử, chứ không phải tưởng tượng, bịa đặt và càng không phải là câu chuyện cổ tích. Cuộc Giáng sinh của Đức Giêsu gắn liền với những cái mốc lịch sử và những sự kiện đang diễn ra thời bấy giờ.

NGÀY ẤY.

Đó là thời mà nước Do Thái bị Đế quốc La Mã thống trị. Hoàng đế La Mã lúc bấy giờ là Cêsarê Augustô, vị hoàng đế nổi tiếng nhất của Rôma (từ năm 30 trước Chúa Giêsu Kitô đến năm 14 sau Chúa Kitô). Vào năm 27, ông đã để cho Nghị viện phong cho mình tước hiệu: Thần Augustô, tiếng Hy Lạp là “Sebastos”, có nghĩa “xứng đáng được tôn thờ”.

LệNH CỦA HOÀNG Đế CÊSARÊ AUGUSTÔ BAN RA, TRUYỀN CHO KHẮP NƠI PHẢI LÀM SỔ KIỂM TRA

“Hoàng đế Au-gut-tô ra chiếu chỉ, truyền kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ.” Trong đế quốc Rôma có những cuộc kiểm tra dân số định kỳ nhằm hai mục đích: vừa để đánh thuế, vừa để tìm ra những ai đang ở tuổi làm nghĩa vụ quân sự. Dân Do Thái được miễn nghĩa vụ quân sự, vì thế việc kiểm tra dân số ở xứ Palestine chỉ có mục đích chính là đánh thuế. Các cuộc kiểm tra dân số cứ diễn ra 14 năm một lần.

“ĐÂY LÀ CUỘC KIỂM TRA ĐẦU TIÊN, ĐƯỢC THỰC HIỆN THỜI ÔNG QUI-RI-NI-Ô LÀM TỔNG TRẤN XỨ XY-RI.”

Đúng là Quirinô đã cho tiến hành kiểm tra dân số xứ Giuđêa khi tỉnh này thuộc quyền cai trị trực tiếp của Rôma; nó đã gây ra cuộc nổi loạn của Giuđa người Galilê, vì đây là cuộc kiểm đầu tiên. Sách Tông đồ Công vụ đã viết: “Sau ông, có Giu-đa người Ga-li-lê nổi lên vào thời kiểm tra dân số, và lôi cuốn dân đi với mình; cả ông này cũng bị diệt, và tất cả những người theo ông ta đều bị tan tác” (Tđcv 5, 37). Như vậy, ta thấy rõ người Do Thái đã bất mãn thế nào về cuộc kiểm tra dân số này, nó là công cụ bóc lột, đánh thuế, nhưng họ chẳng làm gì được khi họ chỉ là những người bị đô hộ.

“AI NẤY ĐỀU PHẢI VỀ NGUYÊN QUÁN MÀ KHAI TÊN TUỔI”.

Đế quốc La Mã hồi ấy rộng lớn, bao gồm cả Ai Cập, Syri, Do Thái,… Về những cuộc kiểm tra dân số, chúng ta có được những thông tin xác đáng về những gì đã được thực hiện tại Ai Cập, và gần như chắc chắn rằng những gì đã được thực hiện tại Ai Cập cũng thực hiện tại Syri và tại Giuđê, một phần của tỉnh Syri.

Ở đây chúng ta nắm được chính sắc lệnh của nhà nước từ Ai Cập như sau: “Gaius Vibius Maximus, tổng trấn xứ Ai Cập truyền lệnh: Xét rằng đã đến kỳ làm sổ từng nhà, nên cần bắt buộc hết thảy những ai, đã vì bất cứ lý do gì mà hiện đang cư trú ngoài địa phận mình, phải trở về quê nhà, để có thể thi hành lệnh kiểm tra dân số theo quy định, và cũng để có thể chăm lo việc cày cấy đất ruộng mình”. Nếu đó là trường hợp tại Ai Cập thì cũng chính là trường hợp tại Giuđê là nơi còn giữ kỹ những gia phả dòng tộc và đàn ông phải về bản doanh của bộ tộc mình. Đây thêm một bằng cớ giúp ta hiểu biết hơn về sự chính xác của Tân Ước.

“BỞI THẾ, ÔNG GIU-SE TỪ THÀNH NA-ZA-RET, MIỀN GA-LI-LÊ LÊN THÀNH VUA ĐA-VÍT TỨC LÀ BE-LEM, MIỀN GIU-ĐÊ, VÌ ÔNG THUỘC GIA ĐÌNH DÒNG TỘC VUA ĐA-VIT.”

Trong bảng Gia phả Đức Giêsu, Luca cho thấy: Giuse thuộc dòng dõi vua Đavít, mà thành của vua Đavit là Be-lem, như vậy Giuse phải trở về Be-lem để thực hiện việc kiểm tra dân số.

“Ông Giu-se từ thành Na-za-ret, miền Ga-li-lê lên thành vua Đa-vít tức là Be-lem, miền Giu-đê” đã ứng nghiệm với lời tiên báo của Ngôn sứ Mikha: “Phần ngươi, hỡi Bê-lem Ép-ra-tha, ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giu-đa, từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh Ít-ra-en. Nguồn gốc của Người có từ thời trước, từ thuở xa xưa.” (Mk 5, 1)

Như vậy ta thấy Chương trình Cứu độ của Thiên Chúa được vạch ra từ trước, Ngài có một cái nhìn xuyên suốt lịch sử, từ khởi thiên lập địa cho đến tận thế. Kế hoạch của Ngài được thực hiện từng bước một, nó hoàn toàn ứng nghiệm với những gì đã được tiên báo trong thời Cựu ước.

Con đường từ Nagiarét tới Bêlem dài 128 dặm, quả là một thử thách cho Giuse và Maria. Giuse quả là người cha như Thiên Chúa đã kỳ vọng. Khi chấp nhận lời Sứ thần truyền tin trong giấc mộng, ông sẵn sàng lãnh trách nhiệm mà Thiên Chúa đã giao phó và biết rằng từ nay ông sẽ lao vào một con đường gian nan vất vả, đầy nguy hiểm. Thiên Chúa có một cái nhìn thật sáng suốt và không bao giờ lầm khi chọn Giuse làm cha nuôi Đức Giêsu. Thiên Chúa không bao giờ lầm.

“ÔNG LÊN ĐÓ KHAI TÊN CÙNG VỚI NGƯỜI ĐÃ THÀNH HÔN VỚI ÔNG LÀ BÀ MA-RI-A, LÚC ấY ĐANG CÓ THAI.”

Ta để ý cụm từ “đã thành hôn”, có nghĩa Giuse và Maria đã chính thức trở thành vợ chồng, nhưng đó là xét theo phong tục. Nó phải được chứng thực qua cuộc kiểm tra dân số.

Việc khai tên tuổi trong cuộc kiểm tra dân số, nó cũng giống như khai hộ khẩu trong xã hội bây giờ. Như vậy, dưới con mắt người đời, Giuse và Maria đã chính thức là vợ chồng và thai nhi trong bụng Maria là con của 02 người.

Một vị Thiên Chúa đầy quyền năng, nhưng lại đang ẩn mình trong một thai nhi, đang để cho 02 con người trần gian sắp xếp cho mình. Ngài quá bé nhỏ và cũng quá yếu ớt, không thể làm gì cho mình lúc này. Quả là một Vị Thiên Chúa khiêm nhường đến tột cùng, tự hạ đến tột cùng để không ai có thể nhận ra Ngài.

“KHI HAI NGƯỜI ĐANG Ở ĐÓ, THÌ BÀ MA-RI-A ĐÃ TỚI NGÀY MÃN NGUYệT KHAI HOA.”

Luca luôn vẽ ra một bức tranh tương phản giữa Gioan và Đức Giêsu. Ông Dacaria được truyền tin nơi Đền thánh uy nghi tráng lệ, còn Maria được truyền tin ở một nơi hẻo lánh, nghèo nàn. Gioan được ra đời trong sự âu yếm của mọi người, trong sự chúc tụng của mọi người, còn Đức Giêsu, Con Thiên Chúa lại phải bôn ba vất vả, sinh ra ở một nơi không phải là nhà của mình để sau này Ngài nói: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu.” (Lc 9, 58). Một vị Thiên Chúa uy nghi cao cả lại trở thành trần trụi như vậy sao? Chẳng thế nào, nhưng đó lại là sự thật, một sự thật gây sốc cho những kẻ chỉ biết sống theo danh lợi thú ở đời này.

Ta để ý cụm từ “bà Ma-ri-a đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa”. Như vậy Đấng qua bao thời con người mong đợi, Đấng mà các sách Tiên tri và Ngôn sứ đã nói đến, Đấng mà dân Do Thái mong đợi để giải thoát dân ra khỏi ách đô hộ của La Mã đã xuất hiện. Nhưng lại xuất hiện quá âm thầm không ai có thể nhận ra. Người ta cứ nhìn về trời cao để mong ngóng Đấng Cứu Thế xuất hiện trong uy nghi, trong vinh quang, trong sấm chớp hãi hùng, nhưng không bao giờ thấy, vì Ngài đã đến rồi, Ngài đến rồi còn ngóng đợi gì nữa.

Thiên Chúa luôn đánh đố con người, Ngài ẩn mình trong những kẻ nghèo hèn bất hạnh, Ngài từng nói với ta, khi ta giúp đỡ cho những kẻ bé mọn này, dù chỉ là chén nước lã thôi là làm cho chính Ngài. Người ta không thể bào chữa cho mình, nào con có thấy Chúa đói đâu, con có thấy Chúa khát đâu,… nhưng vô ích, không ai có thể bào chữa cho mình khi ta từ chối người anh em chung quanh mình, vì Ngài đang ở trong con người đó.

“BÀ SINH CON TRAI ĐẦU LÒNG, LẤY TÃ BỌC CON, RỒI ĐẶT NẰM TRONG MÁNG CỎ, VÌ HAI ÔNG BÀ KHÔNG TÌM ĐƯỢC CHỖ TRONG NHÀ TRỌ.”

Như ta biết, quán trọ bên phương Đông thời bấy giờ giống như từng dãy chuồng ngựa có cửa mở ra một cái sân chung. Mỗi khách trọ tự lo liệu thức ăn cho mình, chủ quán chỉ cung cấp đồ ăn cho súc vật và một bếp lửa để nấu nướng. Có đông người quá nên không còn chỗ cho Giuse và Maria, thế nên con trai của Maria đã sinh ra nơi khoảng sân chung đó. Khăn bọc hài nhi là một cái tã. Trước tiên người ta bọc hài nhi trong tấm vải vuông rồi quấn băng dài chung quanh mình nhiều vòng. Chữ được dịch là máng cỏ, nơi để súc vật ăn, có thể đó là một chuồng bò hoặc một máng cỏ.

“Lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ”, cảnh này gợi lên cho ta cảnh đặt Đức Giêsu vào mồ sau này: họ lấy khăn liệm bọc Ngài và đặt vào mồ (Lc 23,53). Như vậy, Con Thiên Chúa khởi đầu làm người thế nào, nó cũng diễn ra như vậy khi hoàn thành Công trình Cứu chuộc. Thật khó nghèo, khó nghèo đến độ không ai có thể tưởng tượng được.

Thật mỉa mai và chua xót, một Vị Thiên Chúa dựng nên trời đất muôn vật, thế mà không tìm nổi cho mình một chỗ trong cái thế giới do chính mình dựng nên. Thật vô lý. Vâng Thiên Chúa đã làm người trong cảnh vô lý đó, còn gì vô lý hơn nữa không?

Hài Nhi Giêsu đã sinh ra trong hoàn cảnh khó nghèo tột cùng, nhưng trong xã hội hôm nay có biết bao đứa trẻ đã không được chào đời, chúng bị giết, bị loại bỏ ngay từ lúc còn trong lòng mẹ. Có những đứa trẻ bị bỏ rơi ngay lúc sinh ra. Thật dã man và tàn khốc. Thử hỏi những bậc làm cha làm mẹ đã làm việc ấy, họ có suy nghĩ gì khi nhìn ngắm Chúa Hài Đồng nằm trong máng cỏ đêm nay không?

“Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật.”

MỤC ĐỒNG:

Những mục đồng này là ai?

Như ta biết, trong Đền Thờ Giêrusalem, sáng và chiều đều có một con chiên không tì vết làm của lễ dâng lên Chúa. Để lúc nào cũng sẵn có của lễ toàn vẹn và không tì vết ấy, các quan chức cai quản Đền Thờ nuôi riêng những bầy chiên của họ, và các bầy chiên này được chăn ở gần Bêlem. Cho nên chúng ta có thể tin là nhóm mục đồng đó đang coi giữ những bầy chiên dành làm của lễ trong Đền Thờ. Và họ thức đêm canh giữ đàn vật.

Những “người chăn chiên”, trong quan niệm thời đó, là biểu tượng cho những người bị khinh bỉ. Nghề nghiệp của họ khiến thiên hạ dễ coi thường.

“Bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu tỏ chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng.”

Người đón nhận Tin mừng Giáng sinh đầu tiên không phải người thông thái, không phải Kinh sư, Pharisêu, Luật sĩ, … mà là những mục đồng. Thật là nghịch lý. Vâng Thiên Chúa vẫn hành xử như vậy, Ngài luôn gây ra cho con người sự ngỡ ngàng. Vâng, chỉ có ai bé mọn mới đón nhận Ngài, Đức Giêsu đã nói: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn.” (Mt 11, 25)

“Vinh quang của Chúa” là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa, chỉ dành riêng nơi Đền thờ Giêrusalem. Nhưng từ nay trở đi, Vinh quang này bao trùm những người nghèo. “Những gì anh em làm cho kẻ bé mọn nhất, tức là anh em đang làm cho Thầy” (Mt 25).

“Khiến họ kinh khiếp hãi hùng”, vì đây là lần đầu tiên họ chứng kiến vinh quang Thiên Chúa, đó là phản ứng rất tự nhiên của con người. Như vậy thật tương phản cảnh một Hài nhi nằm trong máng cỏ đơn sơ yếu hèn, với một Vị Thiên Chúa uy nghi cao cả. Hài nhi Giêsu vốn là Thiên Chúa nhưng không đòi cho mình ngang hàng với Thiên Chúa mà tự hạ xuống làm người như chúng ta là vì chúng ta.

“Nhưng sứ thần bảo họ: “Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân”.

ANH EM ĐỪNG SỢ.

Bao giờ cũng thế, câu đầu tiên mà Sứ thần nói với người được truyền tin: “Anh em đừng sợ”. Ngài đã nói với Maria, với Dacaria, hôm nay ngài lại nói với các mục đồng: “Đừng sợ”. Vì phải đừng sợ ta mới đón nhận những gì Sứ thần đem đến, ta đón nhận nó trong sự sáng suốt, trong ý thức rõ ràng.

“Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân”. Một tin mừng trọng đại, một tin mừng cho toàn dân mà lại thông báo cho những mục đồng, thật khó hiểu. Tại sao Tin mừng đó không được nói nơi trang trọng, trong cung điện nhà vua mà lại được nói ở nơi đồng không mông quạnh như vậy? thưa: vì những nơi đó không xứng đáng đón nhận. Một tin mừng quá vĩ đại nhưng lại được những con người hèn mọn đón nhận.

“HÔM NAY, ĐẤNG CỨU ĐỘ ĐÃ SINH RA CHO ANH EM TRONG THÀNH VUA ĐA-VÍT. NGƯỜI LÀ ĐẤNG KI-TÔ, LÀ ĐỨC CHÚA.”

Tin mừng mà Sứ thần nói rất vắn gọn, không dài dòng, nhưng đã đề cập đến 03 tước hiệu của Đức Giêsu:

1. Đấng Cứu độ
2. Đấng Kitô
3. Đức Chúa.

Sứ thần nói với các mục đồng Đấng Cứu Độ đã sinh ra trong thành Đavit. Ngài là Đấng mà Tiên tri Isaia đã tiên báo: “Cái ách nặng nề trên người nó, cái gông nằm trên vai nó, cái vương trượng quyền của kẻ áp bức. .. Chúa sẽ nghiền nát ra, như trong ngày chiến thắng Madian. Bởi lẽ mọi chiếc giày đi lộp cộp của kẻ chiến thắng, mọi chiếc áo nhuộm đẫm máu đào, sẽ bị đốt đi và trở nên mồi nuôi lửa”. Không vui sao được khi họ sắp được trở về quê hương, được giải thoát khỏi ách nô lệ, đựơc trở lại thành một con người tự do.

Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: “Anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ”.

ANH EM CỨ DẤU NÀY MÀ NHẬN RA NGƯỜI

Ta để ý “cứ dấu này”, có nghĩa chỉ có một dấu hiệu duy nhất thôi. Hãy nhìn cho kỹ coi chừng bị nhầm. Vậy đó là dấu hiệu gì?

Thưa:“Anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ”. Vâng đó là dấu hiệu về một vị Thiên-Chúa-ở-giữa-chúng-ta, dấu hiệu về một Vị Thiên Chúa cao cả. Thật kỳ lạ: Dấu hiệu về một Vị Thiên Chúa cao cả lại là một trẻ sơ sinh nằm trong máng cỏ.

Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương”.

Câu chuyện giáng sinh ở Bêlem chỉ có ý nghĩa đối với những ai đã nhận ra Đức Giêsu là Đấng Cứu độ, là Kitô Đức Chúa. Sự Giáng Sinh làm lộ rõ điều nghịch lý nơi con người giàu: sự nghèo hèn song hành với vinh quang. Điều nghịch lý này làm cho người Do Thái thời Ngài cũng như mọi người chưng hửng: một bên là sự trần trụi của một Hài nhi yếu ớt, từ lúc mới sinh phải tùng phục sắc lệnh của một hoàng đế ngoại giáo, và trong cảnh xa nhà, chỉ được một người mẹ tứ cố vô thân, một bác thợ mộc và mấy người chăn chiên tiếp đón… bên kia là sự xuất hiện của cả một đạo binh ngời sáng trên trời, vinh quang Thiên Chúa tỏ hiện và lời tung hô Đấng Cứu thế, Kitô Đức Chúa.

Sự gặp nhau giữa nỗi khốn cùng của loài người và vinh quang của Thiên Chúa chính là sự kiện Thiên Chúa đến trong lịch sử chúng ta: một sự hiệp thông với cả nhân loại, để dấy lên niềm hy vọng, một sự hiện diện trong tình yêu cho đến muôn đời.

Amen.

Nguồn Fb: Nguyễn Viết Tâm