Tương quan giữa triết học và thần học là một đề tài đã được nghiên cứu rộng rãi từ nhiều gốc độ khác nhau, đặc biệt từ các thập niên 1970-80. Song song với hiện tượng này là sự nở rộ của các trường phái thần học mới như thần học tiên nghiệm, thần học giải thích, thần học phân tích, thần học tương quan liên đới, thần học phụ nữ, thần học giải phóng và các hình thức thần học chính trị, v.v. Một khi thần học gia có nhu cầu cập nhật hóa các vấn đề liên quan đến đời sống đức tin trong bối cảnh xã hội, họ không ngần ngại dùng các phạm trù từ triết hiện sinh, hiện tượng luận, triết ngôn ngữ, cấu trúc luận, triết phân tích, triết phê phán xã hội, v.v. để khai triển các phương pháp thần học thích ứng cho hoàn cảnh của họ. Trong bối cảnh đa dạng và phức tạp này, triết học, thần học và tôn giáo thường có cùng các ngôn ngữ và phạm trù tri thức chồng chéo với nhau. Do đó muốn hiểu rõ mối tương quan giữa triết học và thần học, chúng ta cần phân biệt phạm vi của mỗi truyền thống này.
Trước tiên, cả hai truyền thống triết học và thần học có cùng mối lưu tâm với tôn giáo, đó là các vấn đề tối hậu của con người. Phạm vi của tôn giáo thì rất bao la, xuất phát từ cách sống đức tin và các bản văn “kinh điển” của cộng đoàn với mục đích giải quyết các mối ưu tư, niềm an ủi cùng hy vọng cho cuộc sống nhân sinh. Truyền thống tôn giáo có nguồn năng lực không bao giờ cạn kiệt đến từ “mythos” (thần thoại), tức là chiều kích huyền nhiệm của cuộc sống tâm linh. Tôn giáo hàm chứa tất cả những gì liên quan đến thực tại tối hậu và hạnh phúc của con người.
Triết học cũng muốn tìm hiểu căn nguyên của mọi sự và hoạt động tri thức cùng tâm linh của con người. Nhưng triết học Tây phương bắt nguồn từ những suy tư phê phán của nền văn minh Cổ đại. Đối với các triết gia tiền Socrates, minh triết là nỗ lực truy tìm căn nguyên của vũ trụ bằng cách tách biệt “logos” (lý lẽ, lời) ra khỏi “mythos.” Sau Socrates, hành trình truy vấn không ngừng của “logos” được nối kết với lòng yêu mến sự khôn ngoan, và triết học (philo-sophis) từ từ được khai triển ra thành những câu hỏi về bản chất của thực tại, nền tảng cho tri thức và tiêu chuẩn cho đời sống đạo đức.
Thần học cũng có một lịch sử lâu dài dùng phương pháp suy tư phê phán của triết học để khai triển các chủ đề tôn giáo. Nhưng vì thần học muốn kết nối “đức tin” với “lý trí” cho nên sứ mệnh của nó mang tính nước đôi; thần học dùng phương pháp của “logos” để tìm hiểu và triển khai những gì được mặc khải từ tôn giáo (theos). Như thế sự khác biệt giữa triết học (philo-sophis) và thần học (theo-logos) không phải là tôn giáo nhưng là phương cách mỗi truyền thống tiếp cận các vấn đề tối hậu của tôn giáo. Bây giờ chúng ta hãy đi sâu vào nội dung và chức năng riêng biệt của triết học và thần học.
Thần học và triết học lưu tâm đặc biệt về tôn giáo là vì tôn giáo có khả năng mở rộng chân trời hiểu biết của con người vốn đang sống trong thế giới “bên này” nhưng lại có những cảm thức về những gì thuộc về thế giới “bên kia.” Tôn giáo tồn tại để nhắc nhở chúng ta rằng thực tại không chỉ về cái “là” mà còn cả cái “sẽ là”. Tôn giáo cố gắng bảo trì chiều kích siêu việt của cuộc sống bằng cách đối đầu các vấn đề tối hậu của con người: Làm thế nào sống trong thế giới trần tục này mà con người có thể chạm đến chiều sâu thánh thiêng của hiện hữu? Nên dùng ngôn ngữ nào để nói về Đấng Tối Cao vốn vượt qua mọi giới hạn? Thân phận và ý nghĩa đời người sẽ là gì trong vũ trụ hầu như vô biên và ngẫu nhiên này? Để trả lời các vấn nạn này tôn giáo mời gọi con người dấn thân và phó thác, hành động và dùng ngôn ngữ như thể chúng ta đang “cư ngụ” trong thế giới của niềm tin. Có như thế thì chúng ta mới có thể trải nghiệm và nắm bắt những gì được xem là thánh thiêng và huyền nhiệm. Nhưng “kinh nghiệm tôn giáo” thì luôn pha trộn tính chủ quan lẫn khách quan. Khi dùng ngôn ngữ để mô tả kinh nghiệm tôn giáo, chúng ta sẽ gặp các vấn đề khác: làm sao ngôn ngữ và biểu tượng tôn giáo có thể bảo đảm là luôn quy về thực tại siêu việt? hay tránh khỏi hố sâu của ngẫu tượng hay thần tượng hóa? Ngôn ngữ tôn giáo có khả năng mở rộng chân trời siêu nghiệm nhưng nó cũng tiềm tàng các ý thức hệ hay ý đồ thầm kín khác. Tôn giáo không muốn bị sai lầm trong sứ mệnh hướng dẫn con người tìm hạnh phúc tối hậu. Tôn giáo muốn lưu truyền “chân lý” nó đã lãnh nhận một cách hợp lý. Vì thế tôn giáo cũng cần phải phê phán về các dùng ngôn ngữ và biểu tượng của chính mình. Một khi tôn giáo muốn đáp trả nhu cầu căn bản này thì nó sẽ không tránh khỏi vay mượn các phạm trù tri thức từ triết học và bối cảnh văn hóa. Do đó, hành trình tiếp cận tôn giáo thì luôn phải đi qua ngã quanh của kinh nghiệm, ngôn ngữ và khái niệm của bối cảnh văn hóa của nó.
Triết học Tây Phương cũng muốn tìm hiểu về tính siêu việt và hạnh phúc tối hậu của con người nhưng từ một góc độ khách quan và phê phán hơn. Trong khi tôn giáo đứng trong vòng tròn đức tin thì triết học khởi đầu từ lý trí, vận động khả năng tự nhiên của trí tuệ và các phạm trù để tìm hiểu cách thấu đáo về thực tại. Cả tôn giáo và triết học đều muốn tìm hiểu bản chất và căn nguyên của con người và vũ trụ (cosmos), nhưng tôn giáo theo lộ trình của “mythos” còn triết học theo tiếng gọi của “logos.” Sự phân cách này không nhất thiết phải là tất yếu vì ở Đông Phương, Khổng giáo vừa là một tôn giáo (đạo lý) và vừa là một triết lý, nhưng Khổng Tử không nghiên cứu về thần thánh mà về “đạo làm người”. Triết học Tây Phương, khi tra cứu các vấn đề về con người và vũ trụ, không chỉ đặt câu hỏi về “bản chất” của thực tại (siêu hình học) mà còn về khả năng và cách thức con người nhận thức các thực tại đó (tri thức luận), và cả về hạnh phúc con người trong tương quan với thực tại tối hậu (đạo đức học). Do đó, có thể nói, triết học là một tiến trình hoán cải tri thức liên tục, với mục tiêu muốn vạch trần các yếu tố tha hóa tiềm tàng trong chiều hướng phát triển, phương pháp suy tư và những giả định của nó. Vì giữ được khoảng cách phê phán với tôn giáo, triết học có khả năng khai mở các phạm trù tư duy mới và sáng tạo hơn về tôn giáo.
Khi sự hiểu biết về niềm tin tôn giáo trở thành hệ thống và có khả năng giải quyết các vấn nạn con người từ lăng kính đức tin thì chúng ta đang bước vào ngưỡng cửa của thần học. Mục đích của thần học là tìm hiểu nội dung của những gì tôn giáo đã đón nhận được qua mặc khải. Do đó, khi nói thần học là “đức tin tìm kiếm sự hiểu biết” (Anselmô: Fides quaerens intellectum) tức là chúng ta thừa nhận rằng thần học có một sứ mệnh nước đôi: vừa dấn thân vào các thực tại tôn giáo, vừa phải dùng các phương pháp suy tư phê phán của triết học. Là một hoạt động tri thức, thần học dùng các phạm trù triết học để minh họa cho tính hợp lý của niềm tin tôn giáo. Thần học cố gắng kết nối niềm tin tôn giáo với bối cảnh xã hội. Khi làm công việc “bắc cầu” này, thần học rút tỉa nội dung từ “mạc khải”, nhưng hình thức thì được vay mượn từ các phạm trù triết học và bối cảnh văn hóa. Là truyền thống học thuật, thần học luôn tận dụng mọi công cụ tri thức để giữ cho nội dung của đức tin luôn được cập nhật và trở thành thực tại sống động chứ không là một “bảo vật” cổ kính trong viện bảo tàng của lịch sử. Khi lối suy tư cũ không còn thích ứng nữa thì phương pháp thần học mới sẽ ra đời. Như thế, thần học luôn mở rộng và hướng về chân trời vô hạn của đức tin và mạc khải.
Nếu phải dùng hình ảnh để diễn tả mối tương quan triết-thần qua lịch sử thì thiết nghĩ đây là một cuộc tình trắc trở giữa hai tình nhân rất khác biệt (Jerusalem và Athens). Họ bắt đầu gặp nhau giữa những cơn sóng gió của lịch sử (bắt đạo và hộ giáo). Cuộc nhân duyên này đã được các bậc tiền bối của cả hai truyền thống chúc lành (Platô, Aristote, Plotinus, Augustinô). Mối tình của họ đi từ sự lôi cuốn hấp dẫn ban đầu (Philo, Origen) cho đến sự tổng hợp hài hòa và hầu như bất khả phân ly trong thời Kinh Viện. Sau một thời gian chung sống hạnh phúc, họ đã cho ra đời một vài đứa con (ý niệm phổ quát, khoa học thánh, tri thức luận khả niệm, thuyết duy thực, thuyết duy danh, v.v…). Nhưng một khi con cái lớn lên thì cuộc hôn nhân này càng ngày càng trở nên lạnh nhạt, cay đắng, và cuối cùng đưa đến ly thân (dao cạo Ockham).
Cho dù sống tách biệt, hai bên vẫn tiếp tục luyến tiếc về những thành tích quá khứ và thường tìm cách nói về nhau bằng những ngôn ngữ mới lạ (Kant, Hegel, Schleiermacher). Các nỗ lực hệ thống mối tương quan triết-thần này đã mở đường cho những hướng đi rất sáng tạo, phản hồi lại khuynh hướng giản lược tôn giáo của tri thức luận thời Ánh Sáng. Tuy nhiên, quan điểm lạc quan của triết Cận đại vẫn không tránh khỏi bị phê phán và hoài nghi (Feuerback, Marx, Freud). Cả triết và thần học vẫn còn mang nặng mối ưu tư về các vấn đề hiện sinh của con người vốn có căn nguyên từ tôn giáo (Kierkergard, Nietzsche). Hiện nay, tuy không còn chung sống nhưng cả hai vẫn còn thao thức, không muốn để cho tôn giáo bị xóa tên trên bản đồ tri thức (Heidegger), hay để ngôn ngữ tôn giáo bị lôi cuốn vào các ngõ cụt siêu hình học hay khoa học (Wittgenstein), hay để thần học rơi vào các ảo tưởng duy nền tảng như trong thời cận đại (hậu cấu trúc, hậu hiện đại).
Cuối cùng, tôn giáo là nổ lực tiếp cận và nắm bắt thực tại tối hậu của con người, do đó nó có khuynh hướng lôi cuốn triết học và thần học. Nhưng đây là một hành trình không có đoạn kết. Lịch sử cho thấy tôn giáo đã đan quyện triết học và thần học với nhau, tạo thành những cơn lốc tri thức. Một khi các cơn lốc tri thức này lắng dịu xuống thì chúng ta có cơ hội nhận định rõ hơn những yếu tố đã tạo nên sức mạnh của chúng. Nhận thức này có thể giúp chúng ta sẳn sàng đối phó với những thử thách cho tôn giáo trong tương lai.
Joseph Tan Nguyen, OFM

