Cách loan báo chân lý Đức Giêsu Nazareth hữu hiệu nhất đó là sống thiên đường ngay tại nhân thế. Thiên đường là hạnh phúc, hạnh phúc có được nhờ tình yêu. Việc đó có thể thực hiện được khi các Kitô hữu, với tư cách là cộng đoàn, ra sức giúp đỡ, săn sóc và làm “thay hình đổi dạng” những nơi khốn cùng, đau khổ, lúc đó, họ đang “giảng không lời” cách có hiệu quả nhất.
Những thuyết giảng bất tận về ý nghĩa thập giá phải được chứng minh qua cung cách phục vụ. Khi Giáo hội cúi xuống giúp đỡ tha nhân, thương cảm, tha thứ và không xét đoán tội nhân mới thật là một chứng tá sống động của niềm tin Kitô giáo. Những người đương thời, tuy không phải là Kitô hữu, đều nhìn nhận các hoạt động này có tính thuyết phục cao. Còn đối với chính các Kitô hữu, đó chính là tác vụ, một tác vụ rao giảng ơn cứu độ đã khởi sự ngay từ cuộc sống này, vì lẽ sự nghèo khổ, khốn cùng, tang tóc và sự chết đã được tình yêu biến đổi, tình yêu từ trên cao thành người, sống kiếp con người, dạy con người biết yêu và nâng con người lên tình yêu cao siêu.
Nếu một xã hội Kitô hóa được thấm nhuần tình yêu trong mọi cung cách hành xử thì đáng thán phục biết bao. Tự thời sơ khai, người Kitô hữu đã dùng tiền của họ để nâng đỡ và chôn cất những người nghèo, chu cấp cho người mồ côi góa bụa, người không có trợ cấp, người rơi vào hoàn cảnh khốn cùng hoặc những Kitô hữu, vì đức tin, phải chấp nhận những công việc nặng nhọc, phải bị lưu đày hoặc tù ngục. Một khởi xướng mang chiều kích xã hội và một tình yêu đồng loại có ý nghĩa luân lý và tôn giáo như thế là điều không có trong thời văn minh cổ đại.
Hoạt động từ thiện xuất phát từ sự cảm thương của những cá nhân có tâm hồn quảng đại, nhưng đôi khi, lòng từ thiện ấy không kiểm soát được việc phân chia bình đẳng hoặc đến sự khốn khổ thực sự, và nếu có, chỉ là cho những người dễ thương hay thấy “thích hợp” với họ mà thôi. Cũng có thể, làm từ thiện để quảng cáo hình ảnh, để gây tiếng vang, hoặc để thu phục nhân dân về phía mình với ý đồ háo danh, tư lợi, vị kỷ.
Trong truyền thống của mình, Hội Thánh Kitô khởi thủy đã xem công việc phục vụ người nghèo, xoa dịu những tâm hồn đau khổ, chữa lành nội tâm là tác vụ linh thiêng không tách rời với Tin Mừng. Nói cách khác, từ thiện là thể hiện lòng thương xót có tính cách bắt buộc mà không được đặt điều kiện nào.
Chính những thực hành mang chiều kích xã hội này – thực hành Tình Yêu – mang lại một lợi ích sâu xa cho hạt giống Tin Mừng – Lời Tình Yêu – làm mọi người ngạc nhiên. Athennagore, một Kitô hữu gốc Hy Lạp thế kỷ II viết: “Nơi chúng tôi, các bạn có thể thấy những người thất học, thợ thủ công và goá phụ, những người chắc chắn không thể dùng lời để diễn tả những thiện hảo của Kitô giáo, nhưng nhất định có thể chứng tỏ điều đó bằng hành động; bởi vì họ không chỉ nói, nhưng tỏ cho mọi người thấy những hành động tốt: Không trả đũa khi bị đánh đập, không kiện cáo khi bị bóc lột, giúp đỡ những ai kêu xin họ, và yêu người đồng loại như chính mình vậy”.
Tác vụ nơi đời sống hằng ngày là thế. Nếu các Kitô hữu trung thành với bổn phận thực hành cụ thể để thể hiện niềm tin của mình, cả trong những lúc khủng hoảng cực độ, thì chính họ sẽ “nổi bật hơn” so với những người chung quanh – vốn không biết đến những bổn phận như thế.
Việc thực hành đức bác ái trong xã hội là giải pháp thực tế được khởi hứng bởi tình yêu. Việc phục vụ nhau, tức tác vụ, làm biến đổi mặt đất cho thấy là ơn cứu độ đã bắt đầu, chứ không chỉ là một dấu chỉ của ơn cứu độ. Khi cảm nhận việc cứu tế không mang thương hiệu, không đánh bóng tên tuổi cá nhân, không đặt điều kiện, không kiểm soát thủ tục, không phân loại, mới có thể một tính cách cao cả và như thế tiếng nói của tình yêu mới thực sự được vang lên. Nếu không, đó chỉ là trò quảng cáo hết sức tầm thường hay một “phi vụ” tinh thần “siêu lợi nhuận”.
Bởi vậy, thực thi đức bác ái là tác vụ xét như một tiêu chuẩn của Giáo hội và là bản chất của người Kitô hữu, song song với tiêu chuẩn đạo lý Kinh Thánh và tín lý. Đạo không chỉ bằng đức tin, mà bằng cả đời sống đức ái nữa.
Tác vụ giúp đỡ những người nghèo khổ không phải chỉ là một việc nhân đạo “đời thường”. Chẳng mấy khi được vinh danh, không kê khai thành tích với đời, Giáo hội thi hành tác vụ nhân đạo và từ thiện vì trong những kẻ nghèo khó, thiếu đói, đau đớn, bất hạnh, Giáo hội gặp gỡ Đức Kitô, Đấng Cứu Độ Duy Nhất. Việc Đức Kitô hiện diện nơi những người nghèo thường bị lãng quên, vì thế việc phục vụ tương xứng cũng thường bị lãng quên. Trước những trào lưu “thành tích” và từ thiện kiểu “loa phóng thanh” thì Hội thánh chọn cách hiện diện âm thầm giữa người đau khổ để không chỉ cho họ ăn uống mà còn trò chuyện với họ, tôn trọng phẩm giá của họ và thánh hóa họ trong Tình Yêu. Tác vụ từ thiện khinh thường những người hèn kém là phủ nhận phẩm giá con người. Hãy nhìn kỹ những người đang đau khổ đang hiện diện chung quanh, lúc ấy sẽ khám phá ra phẩm giá của họ: họ phần nào là hiện thân của Đấng Cứu độ.
Bởi vậy, việc từ thiện nhân đạo Kitô giáo không phải là hoạt động xã hội nhân đạo mang tính cách thương hại mà chắc chắn là “tác vụ phục vụ Đức Kitô”. Chính Thiên Chúa – Tình yêu khao khát tình yêu – được hiện thân trong những người nghèo khó, bất hạnh vẫn còn cần đến sự giúp đỡ. Hội Thánh ân cần cúi mình xuống trên vết thương của bệnh nhân, rửa chân cho tù nhân trọng phạm một cách xác tín và mạnh mẽ vì Hội Thánh tin: Đức Kitô được mặc y phục trong những người nghèo khổ, được thăm viếng trong những kẻ yếu đau, được nuôi dưỡng trong những kẻ đói khát, được tiếp đón trong những kẻ không nhà không cửa, được khích lệ nơi kẻ tù rạc.
Niềm tin bao đời: tất cả những đau khổ thuộc đủ loại của vô số con người đều tập trung nơi Đức Kitô, đồng thời Đức Kitô mang trong mình mọi đau khổ. Thần học Kitô giáo tin rằng những đau khổ của thế giới là cuộc khổ nạn của Đức Kitô và Đức Kitô là tổng cộng tất cả những người nghèo khổ. Và trong niềm xác tín đó, với mọi linh mục, mọi tu sĩ, tất cả Kitô hữu mang trong tim tình yêu thiêng liêng của Đấng chịu đau khổ đã đi gặp gỡ những “Đức Kitô” hành khất, bệnh tật, tù tội, bị chà đạp, vô danh, mất phẩm giá. Những chiến sĩ đức tin này hào phóng hiến cuộc đời, sức khỏe, tiền của và tuổi xuân tươi đẹp để trợ giúp như thế đối với những người nghèo. Họ phục vụ với nét mặt hân hoan coi đó là tác vụ của mình đối với những người đau khổ, mà thật sự là đối với Chúa Kitô đau khổ.
Thế giới sẽ hoàn toàn thất vọng khi thấy rằng các Kitô hữu, linh mục và các giám mục, vì những lý do không chính đáng, đã không cư xử đúng mức với những người đau khổ. Như thế, bổn phận của người Kitô hữu cũng như sự cần thiết của các tác vụ đã khởi đi từ chính sự phục vụ khiêm tốn cho một nhân loại thao thức và đau khổ trong tinh thần và trong thân xác.
Hãy hiểu cho đúng, như Giáo hội tuyên xưng: Kitô hữu tức là “kết hợp với Đức Kitô – là Thiên Chúa thật và là con người, Thiên Chúa Tình yêu và con người tình yêu. Tình yêu biến Lời thành Nghiệp diễn tả hình ảnh thiên đường dương thế theo một cách khác như ai đó đã từng nói: Đó là tác vụ tìm cách chấm dứt hoả ngục mà trái đất đã tạo nên cho nhiều con người.
Lm FX. Nguyễn Văn Thượng

