Hôm thứ Hai, Người Công giáo đánh dấu kỷ niệm 100 năm thánh hiến Ba Lan cho Thánh Tâm Chúa.
Pháp lệnh này diễn ra vào ngày 27 tháng 7 năm 1920 và 3 tuần sau đó bằng một chiến thắng vang dội của Ba Lan trước Hồng quân được gọi là “Phép lạ trên Vistula.”
Vào mùa hè năm 1920, các lực lượng Liên Xô đã cố gắng vượt qua Ba Lan để thực hiện kế hoạch của Vladimir Lenin, nhằm kích động cách mạng cộng sản ở Tây Âu. Lenin tin rằng nếu Hồng quân chiếm được Ba Lan thì Liên Xô có thể hỗ trợ trực tiếp cho các nhà cách mạng ở Đức.
Với những người Bolshevik đang nhắm đến thủ đô Ba Lan, Warsaw, Đức Hồng y Edmund Dalbor, Linh trưởng của Ba Lan, đã tham gia với các Giám mục của quốc gia tại Jasna Góra, tu viện có một biểu tượng của Đức Mẹ Częstochowa, còn được gọi là Black Madonna. Ngài đã lãnh đạo pháp lệnh thánh hiến dân tộc Ba Lan cho Thánh Tâm Chúa Giêsu.
Vài tuần sau, vào ngày 15 tháng Tám năm 1920, quân đội Ba Lan đã tạm chặn bước tiến của Hồng quân ở ngoại ô Warsaw. Trong những ngày tiếp theo, Tướng Władysław Sikorski của Quân đoàn 5 đã đẩy lìu các đơn vị Liên Xô ra khỏi thành phố.
Lenin đã mô tả trận chiến, trong đó Hồng quân chết khoảng 15.000 người so với tổn thất của Ba Lan khoảng 4.500, là “một trận đại bại thê thảm.”
Cha Paweł Rytel-Andrianik, phát ngôn viên của Hội đồng Giám mục Ba Lan, nói rằng hành động thánh hiến không nên được coi đơn giản là một sự kiện lịch sử.
Trong một thông cáo báo chí ngày 27 tháng Bảy, ngài đề nghị thừa nhận rằng thánh hiến đã cung cấp “chương trình mục vụ trong những thập kỷ tiếp theo cho hàng triệu người Công giáo ở quê hương chúng ta.”
Ngài lưu ý rằng pháp lệnh này đã được các giám mục Ba Lan đổi mới vào năm 1951, 1976 và 2011. Nó cũng được đổi mới vào ngày 25 tháng Ba năm nay khi Chủ tịch Hội đồng Giám mục Ba Lan, Đức Tổng Giám mục Stanisław Gądecki ủy thác Giáo hội Ba Lan cho Thánh Tâm Chúa Giêsu và Trái tim vô nhiễm của Mẹ Maria giữa cơn đại dịch coronavirus.
Cha Rytel-Andrianik nhớ lại rằng những hình ảnh về Thánh Tâm Chúa Giêsu rất phổ biến trong các ngôi nhà Ba Lan, và rằng những cuộc tĩnh tâm và sứ vụ truyền giáo đã thúc đẩy sự sùng kinh này.
“Tất cả đã khiến mọi người tín thác nơi Thiên Chúa và tình yêu của Người trong những thời điểm khó khăn, và điều này rất cần thiết trong thế kỷ 20,” ngài nói.
Jos. Tú Nạc, Nguyễn Minh Sơn
Thanhlinh

