“KHÔNG THẤY AI TRỞ LẠI TÔN VINH THIÊN CHÚA, MÀ CHỈ CÓ NGƯỜI NGOẠI BANG NÀY”.
BÀI ĐỌC I: Tt 3, 1-7
“Xưa chúng ta cũng lầm lạc, nhưng chiếu theo lòng từ bi Chúa, chúng ta đã được cứu thoát”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi cho Titô.
Con thân mến, con hãy nhắc bảo mọi người phải tùng phục thủ lãnh và những người quyền chức, biết vâng lời, sẵn sàng làm mọi việc thiện, đừng thoá mạ ai, và đừng gây gỗ, nhưng ở khoan dung, tỏ lòng rất mực hiền từ với mọi người. Vì chưng, xưa kia chúng ta cũng ngu muội, bất phục, lầm lạc, nô lệ cho tham vọng và nhiều khoái lạc khác, sống trong gian ác và ghen tương, khả ố và đố kỵ lẫn nhau. Nhưng khi Đấng Cứu Thế, Chúa chúng ta, đã tỏ lòng từ tâm và nhân ái của Người, thì không phải do những việc công chính chúng ta thực hiện, nhưng do lòng từ bi của Người, mà Người đã cứu độ chúng ta bằng phép rửa tái sinh và sự canh tân của Thánh Thần, Đấng mà Người đã đổ xuống tràn đầy trên chúng ta, qua Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ chúng ta, để một khi được công chính hoá bởi ân sủng của Ngài, trong hy vọng, chúng ta được thừa kế sự sống đời đời, trong Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.
Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 22, 1-3a. 3b-4. 5. 6
Đáp: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi (c. 1).
Xướng:
1) Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi; trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi; tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng. – Đáp.
2) Người dẫn tôi qua con đường đoan chính, sở dĩ vì uy danh Người. (Lạy Chúa,) dù bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con. Cây roi và cái gậy của Ngài, đó là điều an ủi lòng con. – Đáp.
3) Chúa dọn ra cho con mâm cỗ ngay trước mặt những kẻ đối phương: đầu con thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu con đầy tràn chan chứa. – Đáp.
4) Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi, hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài. – Đáp.
ALLELUIA: 1 Tx 2, 13
Alleluia, alleluia! – Anh em hãy đón nhận lời Chúa, không phải như lời của loài người, mà là như lời của Thiên Chúa và đích thực là thế. – Alleluia.
PHÚC ÂM: Lc 17, 11-19
“Không thấy ai trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi Chúa Giêsu đi lên Giêrusalem, Người đi qua biên giới Samaria và Galilêa. Khi Người vào một làng kia thì gặp mười người phong cùi đang đứng ở đàng xa, họ cất tiếng thưa rằng: “Lạy Thầy Giêsu, xin thương xót chúng tôi”. Thấy họ, Người bảo họ rằng: “Các ngươi hãy đi trình diện với các tư tế”. Trong lúc họ đi đường, họ được lành sạch. Một người trong bọn họ thấy mình được lành sạch, liền quay trở lại, lớn tiếng ngợi khen Thiên Chúa, rồi đến sấp mình dưới chân Chúa Giêsu và tạ ơn Người: Mà người ấy lại là người xứ Samaria. Nhưng Chúa Giêsu phán rằng: “Chớ thì không phải cả mười người được lành sạch sao? Còn chín người kia đâu? Không thấy ai trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại này”. Rồi Người bảo kẻ ấy rằng: “Ngươi hãy đứng dậy mà về: vì lòng tin của ngươi đã cứu chữa ngươi”.
Đó là lời Chúa.
______________________________
I/. VÀI NÉT VỀ THÁNH MAC-TI-NÔ THÀNH TUA – Giám, mục, Tiến sĩ Hội thánh (315 – 397)
Thánh Martin de Tours mất ngày 8 tháng 11 tại Candes (Touraine). Lễ nhớ được mừng từ thế kỷ VIII, vào ngày 11 tháng 11, là ngày ngài được an táng tại thành phố Tours. Nhưng ở Gaule, việc tôn kính ngài đã phổ biến từ thế kỷ V.
Tên gọi Martin lấy từ tiếng Latinh Martinus = thần Marx nhỏ, thần chiến tranh. Theo ông Sulpice Sévère († 420), học trò và người viết tiểu sử ngài, ngài sinh tại Pannonie (Hungari) khoảng năm 317. Là con một sĩ quan Rôma, ngài được học hành tại Pavia (Ý) và được chiêu mộ vào đội Cận vệ hoàng gia. Tuy cha mẹ ngài là dân ngoại, ngay từ tuổi nhỏ, ngài đã xin học đạo. Được gửi sang Gaule, người lính trẻ này khi đến cổng thành Amiens đã chia sẻ áo choàng của mình cho một người nghèo. Đêm hôm sau –Sulpice Sévère thuật lại – thánh Martin “thấy Đức Kitô mặc một nửa tấm áo choàng mà ngài đã phủ lên người nghèo khổ kia. Và ngài nghe Chúa Giêsu nói với các thiên thần bằng một giọng nói vang dội: Trong khi còn là người dự tòng, Martin đã mặc cho Ta tấm áo này.”
Ngài rời bỏ binh nghiệp và chịu phép rửa tội năm 20 tuổi, rồi trở thành học trò của thánh Hilariô, giám mục thành Poitiers. Giám mục Hilariô ban chức trừ tà cho ngài. Khi giám mục của ngài bị phe lạc giáo Arius bắt lưu đày, thánh Martin đã đến tận Pannonie để cải hóa mẹ ngài theo đạo. Sau đó ngài trở lại Gaule qua vùng Illyria và Bắc Ý rồi đến Poitiers với thánh Hilariô, lúc đó đã từ nơi lưu đày trở về.
Ở Ligugé, trong vùng Vienne, ngài lập tu viện đầu tiên ở Gaule. Nhờ lời cầu nguyện, ngài làm cho một người dự tòng đã chết sống lại, nhờ đó danh tiếng ngài lan rộng khắp vùng. Nhiều môn đệ đi theo ngài.
Thánh Martin được chọn làm giám mục thành Tours năm 371: nhiệm kỳ giám mục của ngài đánh dấu sự phát triển của Kitô giáo trong vùng Gaule phía tây. Vì có ơn gọi tu sĩ, ngài lập gần thành phố Tours một tu viện tên là Marmoutier; từ đó ngài thường xuyên cư ngụ trong tu viện này. Các môn đệ qui tụ quanh ngài rất nhiều, trong đó phải kể đến Paulin của Bordeaux, sau này là giám mục Nole, và nhà chép sử Sulpice Sévère, tác giả cuốn Tiểu sử Thánh Mác-ti-nô, tác phẩm có công lớn trong việc phổ biến tiểu sử của vị thánh thành Tours. Công cuộc truyền giáo của thánh Martin mở rộng ra bên ngoài giáo phận. Ngài rảo qua khắp vùng Touraine, Berry, Auvergne. . . Người ta gặp ngài ở Autun, ở Paris. Trong những vùng đồng quê, ngài đã tổ chức những giáo xứ đầu tiên và nhiều tu viện được thiết lập với các tu sĩ truyền giáo theo gương thánh Martin, vừa chăm lo đời sống tu đức, vừa hăng say hoạt động rao giảng tin mừng.
Là con người hoà bình, thánh Martin kết thúc cuộc đời ở Candes, gần thành phố Tours, nơi ngài đến để hoà giải hàng giáo sĩ đang chia rẽ. Hôm đó là ngày 8 tháng 11 năm 397. Ngài được an táng ở Tours, thành phố có toà giám mục của ngài, và phần mộ này đã trở thành trung tâm hành hương đầu tiên ở Gaule. Thánh Martin là một trong số các thánh đầu tiên được tôn kính mà không phải là một thánh tử đạo. Người ta kể ra rất nhiều phép lạ ngài đã làm; không vị thánh nào trong thời Pháp cổ xưa nổi tiếng như ngài. Bốn ngàn ngôi nhà thờ được dâng kính ngài và gần năm trăm làng mang tên của ngài.
Các ảnh thánh về ngài rất nhiều, thường vẽ ngài dưới dạng một lính lê dương Rôma hay một giám mục với mũ gậy, hay như một người làm phép lạ. Truyền thống dân gian đã giữ lại kỷ niệm về ngài qua lễ hội Mùa hè của lễ thánh Martin: người ta đặt tên như thế cho những ngày đẹp trời cuối cùng mà người ta thường tổ chức quanh ngày 11 tháng 11.
(Theo Enzo Lodi – Nguồn: Tổng Giáo phận Hà Nội)
______________________________
II/. BÀI SUY NIỆM (Lc 17, 11-19)
“KHÔNG THẤY AI TRỞ LẠI TÔN VINH THIÊN CHÚA, MÀ CHỈ CÓ NGƯỜI NGOẠI BANG NÀY
Hôm nay thứ Tư tuần XXXII Thường niên , chúng ta tiếp tục Chương 17 Phúc âm Luca để chiêm ngưỡng phép lạ CHÚA GIÊSU CHỮA CHO MƯỜI NGƯỜI PHONG HỦY tại biên giới Samaria và Galilê, nhưng chỉ có một người quay trở lại tạ ơn Chúa, người này lại là người ngoại giáo.
Ngày hôm qua, thứ Ba tuần XXXII Thường niên, với Bài Tin mừng (Lc 17, 7 – 10), chúng ta đã đề cập đến 2 cụm từ BIẾT ƠN – CÁM ƠN.
Sang ngày hôm nay, với Bài Tin mừng (Lc 17, 11-19), ta lại có thêm một ví dụ sống động về LÒNG BIẾT ƠN.
Nhưng lòng biết ơn này trớ trêu thay, nó lại đến từ một người ngoại giáo, còn 9 người dân Chúa chọn, dân Do Thái thì lại tỏ ra vô ơn trước một hồng ân vĩ đại Chúa đã ban cho họ, là chữa lành bệnh phong hủy.
Mở đầu Bài Tin mừng, Thánh Luca viết:
“Khi Chúa Giêsu đi lên Giêrusalem, Người đi qua biên giới Samaria và Galilêa. Khi Người vào một làng kia thì gặp mười người phong cùi đang đứng ở đàng xa, họ cất tiếng thưa rằng: “Lạy Thầy Giêsu, xin thương xót chúng tôi”.
“KHI CHÚA GIÊSU ĐI LÊN GIÊRUSALEM”.
Luca sử dụng cụm từ “ĐI LÊN” rất ý nghĩa, ông không sử dụng cụm từ “ĐI VỀ” hay “ĐI TỚI”.
Chẳng phải Giêrusalem thuộc miền Giuđêa, là miền núi mà Luca dùng từ “ĐI LÊN”, và cũng chẳng phải Chúa Giêsu lên Giêrusalem chỉ để bước vào cuộc khổ nạn, mà là Ngài được “TÔN VINH”, “Đi lên” là “Tôn vinh”.
Nhưng tôn vinh đâu chưa thấy mà ta chỉ thấy những người đón Ngài là mười người phong hủi , chứ không phải là những người lãnh đạo hay thân hào nhân sĩ. Mà “MƯỜI NGƯỜI PHONG CÙI ĐANG ĐỨNG Ở ĐÀNG XA” chứ không dám đến gần. Cuộc tôn vinh rất mờ nhạt.
Mà mười người phong hủi này lại ở VÙNG BIÊN GIỚI SAMARIA VÀ GALILÊA.
Thường miền biên giới là miền hỗn tạp, chẳng có bên nào muốn quản lý, cả người Samaria và người Do Thái đều bỏ mặc, đó là vùng đất dành cho những con người bị gạt ra lề xã hội, những quân trộm cướp và thảo khấu. Cụ thể ở đây là vùng trú ngụ của mười người phong hủy.
Nhưng Chúa Giêsu đã được tôn vinh bởi chính những con người phong hủi này.
Họ nói:
“LẠY THẦY GIÊSU, XIN THƯƠNG XÓT CHÚNG TÔI”.
Những người phong hủi này đã bị cách ly khỏi xã hội và họ đã được đưa đến đây từ rất lâu, họ chẳng có sự tiếp xúc nào với người bình thường.
Nhưng đâu đó có lần họ đã được nghe kể về Chúa Giêsu, một con người có quyền năng làm phép lạ chữa lành và Ngài hay chữa lành. Họ tin như vậy, và với niềm tin đó, khi nghe Chúa Giêsu sắp đi ngang qua đây họ liền lớn tiếng xin Ngài chữa lành.
“LẠY THẦY GIÊSU, XIN THƯƠNG XÓT CHÚNG TÔI”.
Đó là tiếng kêu cứu của những con người bị đẩy đến tận cùng của sự bất hạnh, bị đẩy đến chân tường của sự tuyêt vọng và đau khổ, họ chỉ còn sống với nỗi tuyệt vọng, mong cho ngày tháng qua nhanh để chấm dứt cuộc đời đau khổ này. Nhưng họ lại không chết cho, cứ sống mãi với kiếp tầm gửi như một cực hình đầy đọa, vì theo ta biết, thời đó bệnh phong hủy không có thuốc chữa, người bệnh rất đau đớn.
Đau đớn không những ngoài thể xác mà còn đau khổ trong tâm hồn vì bị sống tách biệt với thế giới còn lại. Cuộc đời chỉ còn lại chuỗi ngày dài tăm tối, u buồn, thê lương.
“LẠY THẦY GIÊSU, XIN THƯƠNG XÓT CHÚNG TÔI”.
Tiếng kêu cứu đó vẫn còn vang lên trong thế giới hôm nay và cho đến ngày tận thế. Đau khổ của con người luôn nhiều như biển cả, và ngay cả khi sống trong nền y học tiến bộ, tiếng kêu cứu đó vẫn còn vang lên, mỗi lúc một khẩn thiết hơn và ai oán hơn.
Nói gì đâu xa, ngay cả khi ta đang sống trong thời đại mà nền y học đã có những bước tiến bộ vượt bậc, thế mà nhân loại hôm nay đang bị con virus Corona nhỏ xíu hành hạ, gây ra biết bao thảm họa, không biết nó còn kéo dải bao lâu nữa.
Tiếng kêu của con người hôm nay vẫn nối tiếp với tiếng kêu cứu ngày xưa vang lên mãi.
Tiếng kêu đó đã chạm đến trái tim yêu thương của Con Thiên Chúa. Tiếng kêu đó đã vang vọng đến trời xanh và Thiên Chúa không thể nào làm ngơ được. Hôm nay chính Con Thiên Chúa sẽ cứu họ.
Luca viết tiếp:
“Thấy họ, Người bảo họ rằng: “Các ngươi hãy đi trình diện với các tư tế”
“CÁC NGƯƠI HÃY ĐI TRÌNH DIỆN VỚI CÁC TƯ TẾ”.
Tại sao Chúa không phán ngay một lời chữa bệnh như bao lần Ngài vẫn làm, tại sao Chúa lại nói họ đi trình diện với các tư tế.
Như ta biết: Kinh Thánh nhìn bệnh phong hủi là một hình phạt của Thiên Chúa, hình ảnh của chính tội lỗi làm hư hỏng con người, như vậy bệnh phong hủi đã gắn liền với tôn giáo.
Do đó theo sách Lêvi, việc xác nhận một người nào đó mắc bệnh hay một người nào đó khỏi bệnh phải do Tư tế quyết định. Phán quyết của Tư tế sẽ là phán quyết cuối cùng (Lv 14, 2).
Nhưng độc giả có thể đặt câu hỏi:
Mười người phong hủi này đã được chữa lành đâu mà đi trình diện với các tư tế ?
Nếu khi gặp các tư tế mà họ vẫn chưa được sạch, chắc chắn họ sẽ bị tội chết vì đã dám vượt ra ngoài vùng đất dành cho họ để lây bệnh cho người khác.
Khi Chúa nói: “CÁC NGƯƠI HÃY ĐI TRÌNH DIỆN VỚI CÁC TƯ TẾ”.
Ngài muốn thử thách đức tin của họ. Nếu họ đã tin vào Chúa thì họ sẽ coi lời Ngài nói là lời chữa lành, còn nếu không, họ sẽ không dám lên đường và họ sẽ không xứng đáng để được chữa lành.
Nhưng Luca viết:
“TRONG LÚC HỌ ĐI ĐƯỜNG, HỌ ĐƯỢC LÀNH SẠCH”
Như vậy cả mười người đều có đức tin mạnh mẽ, họ đã dám lên đường và cả mười người đều được chữa lành.
Đó là phần thưởng dành cho họ vì họ đã tin vào Con Thiên Chúa.
Chắc chắn Ðức Giêsu đã coi lời họ xin là biểu thị lòng tin, nên bảo họ: “Hãy đi trình diện với các tư tế”. Người bị bệnh phong cùi chỉ đi trình diện các tư tế khi đã khỏi bệnh để được các vị nắm giữ pháp luật thời ấy xác nhận là đã lành sạch. Bảo họ đi trình diện, tức Ðức Giêsu đã cam kết chữa cho họ. Thông thường Chúa chỉ làm phép lạ khi thấy lòng tin của người ta. Nhưng qua câu nói: ““LẠY THẦY GIÊSU, XIN THƯƠNG XÓT CHÚNG TÔI”. Chúa đã chắc chắn về lòng tin của 10 bệnh nhân này.
Và quả thực, họ tin Chúa đến nỗi lập tức ra đi trình diện ngay khi chưa thấy mình sạch. Ðó là niềm tin có thể chuyển núi dời non, như Lời Chúa đã hứa. Và thật vậy, trong khi họ đi, họ đã được “sạch”, tức được chữa lành. Chúng ta cảm phục lòng tin của họ; nhưng thiết tưởng chúng ta phải kính yêu Chúa Giêsu hơn nữa. Người đã chữa 10 kẻ phong cùi khỏi bệnh dễ dàng như vậy và nhất là khiêm tốn như thế.
Luca đã tường thuật diễn biến sau đó:
“Một người trong bọn họ thấy mình được lành sạch, liền quay trở lại, lớn tiếng ngợi khen Thiên Chúa, rồi đến sấp mình dưới chân Chúa Giêsu và tạ ơn Người: Mà người ấy lại là người xứ Samaria”
“MÀ NGƯỜI ẤY LẠI LÀ NGƯỜI XỨ SAMARIA”
Đến đây, Luca mới cho biết chi tiết: Trong mười người phong hủi này, có đến 9 người là người Do Thái, tức dân Chúa chọn, dân có giao ước, còn một người là người Samaria, là dân ngoại.
Cả mười người đều được ơn chữa lành, nhưng chỉ có một người Samaria “SẤP MÌNH DƯỚI CHÂN CHÚA GIÊSU VÀ TẠ ƠN NGƯỜI”.
Có nghĩa chỉ có người Samaria không những được ƠN CHỮA LÀNH , mà còn được ƠN ĐỨC TIN, ƠN CỨU ĐỘ, thể hiện qua hành động SẤP MÌNH DƯỚI CHÂN CHÚA GIÊSU VÀ TẠ ƠN NGƯỜI”.
“SẤP MÌNH DƯỚI CHÂN”, có nghĩa anh ta tin nhận Chúa Giêsu và tôn thờ Ngài.
Ơn đức tin này còn cao quý hơn bội phần ơn chữa lành.
TẠ ƠN LÀ BIẾT ƠN
Mỗi giây phút trong cuộc sống, ta đã đón nhận biết bao ân huệ Chúa ban, cho nên bổn phận trước tiên của ta là phải biết tạ ơn Thiên Chúa đã tạo dựng chăm sóc và gìn giữ chúng ta đến ngày hôm nay.
Như mười người phong cùi được chữa lành nhưng chỉ có một người ngoại giáo trở lại ta ơn Chúa, còn chín người Do thái không thấy trở lại tạ ơn. Người Sa-ma-ri mà người Do Thái ghét cay ghét đắng ấy đã biết trở lại tạ ơn người đã chữa lành cho mình, bởi vì người Sa-ma-ri này đã có một tâm hồn biết ơn với người đã chữa lành anh ta.
Tạ ơn là hành vi biết ơn của người Ki-tô hữu ở trần gian này, bởi vì chính họ đã nhận bao ân sủng mà Thiên Chúa đã ban cho họ trong cuộc sống.
Tâm tình biết ơn cùa người Sa-ma-ri luôn là một bài học dạy cho chúng ta rằng: đừng tìm kiếm sự vĩ đại của Thiên Chúa trong phép lạ nhãn tiền, nhưng nên tìm kiếm tình yêu của Thiên Chúa với những việc nhỏ mà Ngài đã làm cho chúng ta trong cuộc sống.
Chúng ta đều là những người bị bệnh phong hủi trong tâm hồn – tức những tội nhân – nhưng qua bí tích Hòa Giải, và bí tích Thánh Thể mà Thiên Chúa không những đã sẵn lòng chữa lành, mà lại còn ban thêm ơn cho chúng ta khi chúng ta cố gắng sống bác ái và thực hành Lời Chúa dạy trong cuộc sống của mình…
Luca viết tiếp:
“Nhưng Chúa Giêsu phán rằng: “Chớ thì không phải cả mười người được lành sạch sao? Còn chín người kia đâu? Không thấy ai trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại này”.
“CHỚ THÌ KHÔNG PHẢI CẢ MƯỜI NGƯỜI ĐƯỢC LÀNH SẠCH SAO? CÒN CHÍN NGƯỜI KIA ĐÂU?
Câu hỏi này, Chúa đang hỏi người Samaria được lành bệnh. Chắc chắn anh ta cũng chẳng biết 9 người kia đâu vì tâm tình tạ ơn là chuyện riêng của mỗi người, tùy theo tương quan của mỗi người với Chúa.
Chúng ta là một tập thể, nhưng trong tương quan với Chúa thì mỗi người là một cá thể độc lập. Cũng như trong dụ ngôn Mười cô trinh nữ. Năm cô khờ dại không thể vay mượn dầu của năm cô khôn ngoan. Đức tin không thể cho vay mượn, biết ơn và tạ ơn cũng không thể cho vay mượn. Ở đây cũng vậy, tâm tình biết ơn là sự cảm nhận của riêng mỗi người.
CÁC CON SỐ TRONG BÀI TIN MỪNG:
Trong Bài Tin mừng hôm nay, ta chú ý đến 3 con sổ nổi bật, đó là: “10, 1, 9”.
+ Con số 10: là con số tổng thể, sẽ được tách thành 2 số: 1, 9.
+ Con số 1: chỉ về số người biết tạ ơn Chúa.
+ Con số 9: chỉ về số người vô ơn trước ân huệ của Chúa.
Con số 1 và 9 chỉ là những con số tượng trưng, nhưng đầy ý nghĩa.
Nó cho ta thấy số 9 dường như áp đảo con số 1.
Cứ nhìn vào thế giới hôm nay ta thấy rõ: số người vô ơn trước ân huệ của Thiên Chúa luôn áp đảo số người biết ơn. Thế giới từ xưa đến nay vẫn vậy.
Nếu con người trong thế giới hôm nay biết ý thức về những ân huệ mình đã nhận đươc từ Chúa thì THẾ GIỚI HÔM NAY ĐÃ TỐT ĐẸP HƠN RẤT NHIỀU, không còn sự hoành hành của sự dối trá, gian lận, thủ đoạn, tàn ác.
Vì một khi con người ý thức được ân huệ của Thiên Chúa thì đòi hỏi họ phải sống làm sao cho xứng với ân huệ đó, chứ không thể sống theo những gì mình đã sống, không còn sống theo bản tính tự nhiên, mà phải biết cố gắng nỗ lực vươn lên từ những cái ác,….
“”KHÔNG THẤY AI TRỞ LẠI TÔN VINH THIÊN CHÚA, MÀ CHỈ CÓ NGƯỜI NGOẠI BANG NÀY”.
“Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này?”
Câu hỏi của Chúa Giê-su như xoáy vào ruột gan người nghe, lột trần tình trạng đức tin rỗng tuếch bên trong họ, một tình trạng như Chúa Giê-su đã từng nói rõ: “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1,11).
Trong lúc đó, một người ngoại bang hay ngoại giáo được ơn tha thứ và được chữa lành bệnh cùng với “chín người kia,” lại mau mắn trở lại cảm tạ Chúa và tin vào Chúa. Việc trở lại thờ lạy và cảm tạ Chúa làm cho người ngoại giáo này khác biệt với chín người kia, hay nói cách khác, mười người được chữa lành nhưng chỉ có một người được ơn cứu độ.
Đối với người Do Thái, người ngoại giáo này đứng ngoài giao ước, ngoài lời hứa, ngoài dân Chúa, thế nhưng ông đã biết đi thẳng đến với Chúa Giê-su, hết lòng khiêm cung sấp mình dưới chân Đấng Thánh và tạ ơn Ngài. Lòng tin giúp ông biết đi “con đường tắt” đến với Chúa để lãnh ơn cứu độ, như Chúa nói: “Lòng tin của con đã cứu chữa con.”
Ơn Chúa dành cho ta không thể đếm xuể, vậy đã mấy lần ta biết tạ ơn Chúa và tin tưởng vào Ngài hơn? Trở lại, thờ phượng và cảm tạ Chúa là hành động của lòng biết ơn và của đức tin.
Kết thúc Bài Tin mừng, Luca viết:
“RỒI NGƯỜI BẢO KẺ ẤY RẰNG: “NGƯƠI HÃY ĐỨNG DẬY MÀ VỀ: VÌ LÒNG TIN CỦA NGƯƠI ĐÃ CỨU CHỮA NGƯƠI”
Chúa Giêsu bảo người kia để kết luận: “Hãy chỗi dậy mà đi. Lòng tin của ngươi đã cứu ngươi”.
Chúng ta có thể thắc mắc, phải chăng lời này ám chỉ rằng những người kia sẽ không được khỏi bệnh? Không chắc.
Ta làm sao dám nghĩ Chúa Giêsu hẹp hòi! Người chẳng cần rút lại một ơn đã ban.
Như vậy, 9 người kia chắc cũng đã khỏi bệnh.
Nhưng tại sao họ không quay trở lại tạ ơn Chúa?
Có thể có nhiều lý do.
1/. Vì họ đã sống trong sự đau khổ tột cùng với một thời gian quá dài gần như tuyệt vọng, nay được lành sạch, thì NIỀM VUI ĐÓ TO LỚN QUÁ, lấn át mọi điều khác, nên họ quên mất Chúa.
Điều đó cũng thường xảy ra trong cuộc sống. Vì khi ta đau khổ quá mức hoặc khi ta vui mừng quá sức tưởng tượng, ta cũng dễ quên mất Chúa. Đó là chuyện thường tình.
2/. Hoặc vì họ sống cách ly với người thân như vợ con cha mẹ, anh em với thời gian quá lâu, nay như được cởi trói họ đã chạy mau về nhà để báo tin cho người thân biết.
3/. Hoặc để sau này có dịp gặp Chúa thì họ cám ơn cũng chưa muộn.
Nhưng dù lý do nào đi nữa, thì họ vẫn là những con người đáng trách, họ đã QUÊN HẲN VỊ ĐẠI ÂN NHÂN ĐÃ CHỮA CHO HỌ.
Thái độ của 9 người này sẽ là bài học muôn thưở cho Kitô hữu chúng ta.
Liệu rằng ta cũng từng vô ơn như họ trước những hồng ân Chúa đã ban cho ta trong cuộc sống.
Ðiều cốt yếu mà người Samaria kia đã được là “được cứu”, tức là được ơn cứu độ, được tình thương của Chúa cứu thế. Người bảo anh ta: Hãy chỗi dậy mà đi đi. Những từ ngữ này gợi đến mầu nhiệm phục sinh sống lại, chỗi dậy khỏi sự chết và đời sống cũ; và nhắc chúng ta nhớ đến việc Ðức Giêsu đang đi lên Giêrusalem để được vinh hiển. Ðó là con đường mà người Samari, tức là lương dân từ nay sẽ đi để sống đạo, sống đời sống Kitô hữu để theo Ðức Kitô đến vinh quang.
TRONG BÀI ĐỌC I Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi cho Titô.
Thánh Phaolô đã nhắc nhở cho Titô ý thức một hồng ân vĩ đại mà Titô và cả chính Phaolô đã lãnh nhận khi ngài viết:
“”Xưa chúng ta cũng lầm lạc, nhưng chiếu theo lòng từ bi Chúa, chúng ta đã được cứu thoát”.
“Xưa chúng ta cũng lầm lạc”.
Quả đúng như vậy, trước khi là Phaolô, thì ngài là Saolô, kẻ chuyên đi tìm và bắt bớ Đạo Chúa rất nhiệt tình, ngài làm như vậy vì hoàn toàn không biết. Cả Titô cũng thế.
Nhưng nay nhờ lòng từ bi của Chúa, mà Phaolô và cả Titô được cứu thoát khỏi sự lầm lạc này.
Thánh Phaolô cũng truyền cho Titô nhắc nhở cho các thành phần dân Chúa ý thức điều đó.
Thánh Phaolô viết:
“con hãy nhắc bảo mọi người phải tùng phục thủ lãnh và những người quyền chức, biết vâng lời, sẵn sàng làm mọi việc thiện, đừng thoá mạ ai, và đừng gây gỗ, nhưng ở khoan dung, tỏ lòng rất mực hiền từ với mọi người. Vì chưng, xưa kia chúng ta cũng ngu muội, bất phục, lầm lạc, nô lệ cho tham vọng và nhiều khoái lạc khác, sống trong gian ác và ghen tương, khả ố và đố kỵ lẫn nhau
Với Bài Tin mừng hôm nay, chúng ta hãy dâng lên Chúa lời cầu xin sau đây:
“Lạy Chúa, hình ảnh người phong cùi ngoại giáo sau khi được chữa lành đã quay trở lại tôn vinh Thiên Chúa, làm cho chúng con phải suy nghĩ. Chúng con được lãnh nhận bao ơn lành của Chúa: được làm con cái Chúa, được Chúa cứu chuộc, được chăm sóc dưỡng nuôi. Trong khi có biết bao anh chị em chưa được biết Chúa… Vậy mà chúng con đã vô ơn khi chúng con đã coi thường, bỏ phí những ân huệ ấy.
Xin Chúa thay đổi con người chúng con, giúp chúng con tin tưởng vào Chúa. Ðể trong mọi hoàn cảnh chúng con biết nhận ra tình yêu Chúa và nói lên lời cảm tạ tri ân trong cuộc đời chúng con.”.
Amen.
_____________________
Giuse Vĩnh Tâm.
LỜI CHÚA THỨ TƯ TUẦN XXXII THƯỜNG NIÊN NĂM CHẴN 2020 (11/11/2020) – (Lc 17, 11 – 19) – THÁNG CẦU CHO CÁC LINH HỒN THÁNH MAC-TI-NÔ THÀNH TUA – Giám, mục, Tiến sĩ Hội thánh, Lễ nhớ
Trang Chủ » Bài Giảng - Suy Niệm Tin Mừng » LỜI CHÚA THỨ TƯ TUẦN XXXII THƯỜNG NIÊN NĂM CHẴN 2020 (11/11/2020) – (Lc 17, 11 – 19) – THÁNG CẦU CHO CÁC LINH HỒN THÁNH MAC-TI-NÔ THÀNH TUA – Giám, mục, Tiến sĩ Hội thánh, Lễ nhớ

