“NGƯƠI HÃY YÊU MẾN CHÚA LÀ THIÊN CHÚA NGƯƠI, VÀ YÊU THƯƠNG KẺ KHÁC NHƯ CHÍNH MÌNH NGƯƠI”.
BÀI ĐỌC I: Ed 37, 1-14
“Hỡi các bộ xương khô, hãy nghe lời Chúa. Ta sẽ dẫn các ngươi ra khỏi mồ, và dẫn dắt các ngươi vào nhà Israel”.
Trích sách Tiên tri Êdêkiel.
Trong những ngày ấy, tay Chúa đặt trên tôi, và dẫn tôi đi trong thần trí của Chúa: Người để tôi giữa cánh đồng đầy hài cốt; Người đem tôi đi vòng quanh những hài cốt ấy, có rất nhiều bộ xương khô nằm la liệt trên cánh đồng. Và Chúa phán cùng tôi rằng: “Hỡi con người, ngươi nghĩ các xương này sẽ có thể được sống chăng?” Tôi thưa: “Lạy Chúa là Thiên Chúa, Chúa đã biết”. Người liền phán cùng tôi: “Ngươi hãy nói tiên tri về các bộ xương này, và bảo chúng rằng: ‘Hỡi các bộ xương khô, hãy nghe lời Chúa. Chúa là Thiên Chúa phán cùng các bộ xương như thế này: Đây Ta sẽ khiến hồn nhập vào các ngươi và các ngươi sẽ được sống. Ta sẽ đặt gân trên các ngươi, sẽ khiến thịt mọc ra trên các ngươi, và cho da bọc các ngươi: Ta sẽ ban hồn cho các ngươi, các ngươi sẽ được sống và biết rằng Ta là Chúa’ “. Tôi đã nói tiên tri như Chúa đã truyền cho tôi.
Đang lúc tôi nói tiên tri, thì có tiếng ồn ào, và tôi thấy chuyển động: các bộ xương họp lại với nhau, xương ăn khớp với nhau. Tôi quan sát, và này đây, gân và thịt mọc trên các bộ xương: có da bọc lại, nhưng chưa có hồn. Và Chúa phán cùng tôi rằng: “Ngươi hãy nói tiên tri về hồn, hỡi con người, hãy nói tiên tri và bảo hồn rằng: ‘Chúa là Thiên Chúa phán như thế này: Hỡi hồn, hãy từ bốn phương tiến đến’, và thổi hơi trên những kẻ bị giết này, để chúng sống lại”. Tôi đã nói tiên tri như Chúa đã truyền cho tôi. Hồn liền nhập vào chúng và chúng được sống. Chúng đứng thẳng lên làm thành một đạo quân cực kỳ đông đảo.
Và Chúa phán cùng tôi rằng: “Hỡi con người, các bộ xương này là toàn thể nhà Israel. Chúng nói rằng: ‘Xương chúng tôi đã khô đét, chúng tôi mất hết hy vọng, chúng tôi đã bị tiêu diệt’. Bởi đó, ngươi hãy nói tiên tri cho chúng rằng: ‘Chúa là Thiên Chúa phán như thế này: Hỡi dân Ta, này Ta sẽ mở các cửa mồ các ngươi, Ta sẽ kéo các ngươi ra khỏi mồ, và dẫn dắt các ngươi vào đất Israel. Hỡi dân Ta, các ngươi sẽ biết Ta là Chúa, lúc Ta mở cửa mồ các ngươi, và kéo các ngươi ra khỏi mồ, Ta sẽ cho các ngươi thần trí của Ta, và các ngươi sẽ được sống; Ta sẽ cho các ngươi an cư trên đất các ngươi, các ngươi biết rằng: Ta là Chúa, chính Ta đã phán và sẽ thi hành’ “.
Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 106, 2-3. 4-5. 6-7. 8-9
Đáp:Hãy chúc tụng Chúa, vì đức từ bi Người còn muôn thuở (c. 1).
Hoặc đọc: Alleluia.
Xướng:
1) Hãy xướng lên, hỡi những người được Chúa thục mạng cho, những người Chúa đã thục mạng khỏi tay quân thù: những người Chúa đã họp lại từ muôn đất nước; từ đông sang tây và từ bắc chí nam. – Đáp.
2) Xưa họ lạc lõng trong chốn cô liêu hoang địa, không biết đường đi tới thành trì có thể định cư. Lúc bấy giờ họ đói khát, và sinh lực trong người họ hao mòn. – Đáp.
3) Họ kêu cầu cùng Chúa trong lúc khốn cùng, Người đã cứu họ thoát cảnh gian truân. Người dẫn họ đi trên con đường thẳng, để họ tới được thành trì có thể định cư. – Đáp.
4) Những người đó hãy cảm ơn Chúa vì lòng nhân hậu, và những điều kỳ diệu của Người đối với con người ta. Bởi Người đã cho người đói khát được no đủ, người cơ hàn được tràn trề thiện hảo. – Đáp.
ALLELUIA: Mt 11, 25
Alleluia, alleluia! – Lạy Cha là Chúa trời đất, Con xưng tụng Cha, vì Cha đã mạc khải những mầu nhiệm nước trời cho những kẻ bé mọn. – Alleluia.
PHÚC ÂM: Mt 22, 34-40
“Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi, và yêu thương kẻ khác như chính mình ngươi”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, những người biệt phái nghe tiếng Chúa Giêsu đã làm cho những người Sađốc câm miệng, thì họp nhau lại. Đoạn một người thông luật trong nhóm họ hỏi thử Người rằng: “Thưa Thầy, trong lề luật, giới răn nào trọng nhất?” Chúa Giêsu phán cùng người ấy rằng: “Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là giới răn thứ nhất và trọng nhất. Nhưng giới răn thứ hai cũng giống giới răn ấy, là: Ngươi hãy yêu thương kẻ khác như chính mình ngươi. Toàn thể lề luật và sách các tiên tri đều tóm lại trong hai giới răn đó”.
Đó là lời Chúa.
____________________________________
I/. VÀI NÉT VỀ THÁNH PIÔ X GIÁO HOÀNG, Lễ nhớ (21/8).
1. Đôi dòng lý lịch
Giáo hoàng Piô X tên là Giuseppe Sarto, sinh tại làng Riese, miền Venice nước Ý.
Piô X là một người rất thông minh, cần mẫn và sáng trí. Ngài xuất thân từ một gia đình bình dân sinh sống tại Venexia nước Ý và là con trai thứ hai trong gia đình gồm mười anh chị em.
Thân phụ ngài là một nông dân nghèo và đồng thời kiêm thêm nghề đưa thư, và mẹ ngài là một thợ may quần áo nữ.
Ngay khi còn nhỏ, cũng giống như cha mẹ, ngài rất đạo đức và luôn ước ao được làm Linh mục. Tuy nhiên, vì hoàn cảnh kinh tế của gia đình quá eo hẹp thiếu thốn, ước muốn thánh thiện đó hầu như chỉ là một giấc mơ bất thành mà thôi.
Khi được mười một tuổi, Beppo – cái tên cúng cơm người ta thường dùng để gọi ngài – hằng ngày phải đi bộ bảy cây số đến học tại trường La-tinh ở Castelfranco để kết thúc được chương trình trung học phổ thông và để theo học triết và thần học, mãi cho tới khi ngài được nhận vào Chủng Viện ở Padua. Ngài học tiểu chủng viện Pađua và thụ phong linh mục vào năm 1858. Ngài được bổ nhiệm làm cha phó giáo xứ Tomholo.
Sau đó, linh mục Sarto được đề cử làm linh mục quản xứ nhà thờ chính tòa, tổng đại diện và làm giáo sư tại Đại Chủng Viện Treviso. Ngài làm kinh sĩ tại nhà thờ chính tòa Treviso năm 1875.
Sau 5 năm liền làm cha tổng đại diện ở Treviso, Giáo hoàng Lêô XIII đã chọn và tấn phong linh mục Sarto làm Giám mục Mantua vào năm 1884. Giám mục Sarto điều khiển giáo phận Mantua mãi cho tới năm 1893.
Với những cố gắng phục vụ Giáo Hội, lo lắng cho tha nhân, ngày 15 tháng 6 năm 1893, ngài được phong làm Hồng Y Giáo Chủ Venice. Triều đình Ý trước tiên đã từ chối chuẩn nhiệm (exequatur) ngài với lý do là việc bổ nhiệm ngài là việc của triều đình Áo–Hung. Đức Cha Sarto phải đợi đến 18 tháng sau mới nhận được giáo phận mới của mình.
Trong cơ mật viện được mở ra ngày 1 tháng 8 năm 1903, Hồng y Giuseppe Sarto đã trở thành Giáo hoàng, lấy tông hiệu là Piô X.
Trong lịch sử Giáo hội Công giáo Rôma, Giáo hoàng Piô X là một trong những Giáo hoàng vĩ đại đã canh tân Giáo Hội nhiều nhất, đúng với khẩu hiệu của ngài đã chọn khi lên ngôi Giáo hoàng: “Đổi mới tất cả trong Đức Kitô”.
2. Cuộc sống chứng nhân
Ngay từ đầu, Giáo hoàng Piô X đã quan tâm một cách đặc biệt đến chương trình mục vụ trong Giáo Hội. Ngài tìm cách quân bình giữa thế giới tân tiến và truyền thống Kitô giáo. Nhưng trước hết, ngài chăm lo đến việc canh tân nội bộ Giáo Hội, đúng với khẩu hiệu của ngài: “Đổi mới tất cả trong Đức Kitô”.
Thật khó có thể kể ra đây hết những việc Đức Pio X đã làm trong cuộc đời của Ngài. Tuy nhiên sau khi đọc lại cuộc đời của Ngài người ta không thể không lưu ý đến những bài học thật sống động làm cho mọi người phải để tâm suy nghĩ:
a/ Trước hết ngài được sống trong một gia đình đạo đức và chính ngài cũng rất yêu quí gia đình của mình. Chính gia đình này đã làm nên một người con thánh thiện cho Giáo Hội.
Lịch sử còn ghi lại tuy gia đình ngài không đến nỗi bần cùng túng quẫn, nhưng được xếp vào hạng nghèo túng. Cha ngài là ông Gioan Bacti Sartô, Mẹ là Magarita Sanson. Ông thân làm nghề chạy giấy tại toà thị xã.
Vì gia đình túng thiếu, bà Magarita vừa phải lo việc nội trợ, vừa đi khâu thuê kiếm ít tiền sinh sống. Bà rất mực đạo đức, nuôi dạy các con theo đúng tinh thần đạo Công giáo. Chính tay bà đã đào tạo nên vị Giáo Hoàng cương quyết và thánh thiện sau này. Người đàn bà nhà quê ấy thật đáng làm gương mẫu cho mọi người với những đức tính nhẫn nại, hy sinh và khiêm nhường. Ngày nay ở trên mộ bà, tại nghĩa trang làng Riese, người ta còn đọc thấy những hàng sau đây mà chính Đức Piô X khi còn đang làm Hồng Y giáo chủ thành Venise, đã truyền ghi khắc vào bia để ghi công đức của mẹ mình: “Magarita Sanson, người đàn bà gương mẫu, người vợ trung thành, người mẹ khôn sánh”.
Truyền thuyết còn ghi ngài có một cuộc sống tình nghĩa rất nặng với gia đình nhất là với mẹ của ngài. Đức Giáo Hoàng Piô X khi còn là cậu bé ở làng Riese mỗi ngày phải đi bộ 7 cây số để đến trường, sáng đi 7 chiều về 7. Bà mẹ, bà Magarita dù nghèo song cũng ráng mua cho con một đôi giày cho con đỡ đau chân. Đứa con tốt lành này cũng rất thương cha mẹ cho nên sáng ra khỏi nhà thì mang giày vào chân kẻo mẹ rày, sau khi xa nhà thì cởi giấy quảy trên vai cho tới khi tới trường mới mang vào để chúng bạn khỏi cười chê. Ra khỏi trường lại cởi ra, về gần tới mới xỏ vào sợ mẹ buồn. Cậu bé Sartô làm như thế vì sợ mòn đôi giày và tốn kém cho cha mẹ.
Khi được bổ nhiệm làm giám mục giáo phận Mantua, một hôm, ngài về thăm mẹ. Mẹ con ngồi nói chuyện khá lâu, ngài tếu táo khoe với mẹ chiếc nhẫn Giám mục của mình: “Mẹ xem này, chiếc nhẫn Giám mục mới của con đây”.
Mẹ ngài mỉm cười chìa bàn tay thô cộc cho thấy chiếc nhẫn cưới bình dị của mình và nói: “Không có chiếc nhẫn cưới nghèo nàn này của mẹ đây thì chẳng có chiếc nhẫn ấy đâu.”
2. Đức Piô X là người luôn để lòng chăm lo cho đời sống Giáo Hội đặc biệt là các linh mục. Theo ngài, trước hết các Linh Mục phải lo sống thế nào để có được Chúa Giêsu trong chính mình, nếu họ muốn mang Chúa đến cho những kẻ khác. Ngài viết:
“Tôi sinh ra khó nghèo, sống khó nghèo, và biết rằng sẽ chết trong khó nghèo…
Về phần thi hài tôi, thì tôi ra lệnh, đừng ai đụng chạm đến, và không xức ướp gì cả; tuy làm thế là trái với thói quen thông thường. Tử thi chỉ trưng bày trong mấy tiếng đồng hồ, rồi đem mai táng…”
Hiện nay trên mộ ngài, người ta ghi thấy dòng chữ
Piô X Giáo Hoàng
Khó nghèo và giàu có
Hiền lành và khiêm nhường
Mạnh mẽ bênh vực đạo
Chăm chú cải tổ mọi sự trong Chúa Kitô
Đã yên nghỉ thánh thiện trong Chúa ngày 20 tháng 8 năm 1914.
Lạy Thánh Pio X, xin cầu cho Giáo Hội và chúng con. Amen.
(Nguồn: Lm. Giuse Đinh Tất Quý – tgpsaigon.net)
________________________________________
II/. BÀI SUY NIỆM (Mt 22, 34-40)
“NGƯƠI HÃY YÊU MẾN CHÚA LÀ THIÊN CHÚA NGƯƠI, VÀ YÊU THƯƠNG KẺ KHÁC NHƯ CHÍNH MÌNH NGƯƠI”.
Hôm nay thứ Sáu tuần XX Thường niên, chúng ta tiếp tục chương 22 Phúc âm Matthêu.
Ơ đây cần nhắc lại, khi bước vào Chương 22, Chúa Giêsu và các môn đệ đã vào thành Giêrusalem cách long trọng để bước vào cuộc khổ nạn. (Mt 21, 1 – 11).
Như vậy Chúa Giêsu sẽ phải đối diện các nhóm có thế lực trong Do Thái giáo. Và mỗi nhóm như vậy hoặc là có một dụ ngôn nhắm vào họ, hoặc là có cuộc tranh luận liên quan đến đặc tính nhóm của họ. Cụ thể:
+ Với nhóm Thượng tế, kỳ mục: Dụ ngôn Tiệc cưới (Mt 22, 1 – 14)
+ Với nhóm Pharisiêu: tranh luận có nên nộp thuế cho Xêda không? (Mt 22, 15 – 22).
+ Với nhóm Sadoc: tranh luận về vấn đề kẻ chết sống lại (Mt 22, 23 – 33).
+ Với nhóm Luật sĩ: Tranh luận về Điều răn trọng nhất (Mt 22, 34 – 40).
Bài Tin mừng hôm nay: Tranh luận về Điều răn trọng nhất, được xếp ngay sau cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu với nhóm Sadoc về kẻ chết sống lại.
Kết thúc cuộc tranh luận này, Chúa phán với nhóm Sadoc như sau:
“Còn về vấn đề kẻ chết sống lại, thì các ông không đọc lời Thiên Chúa đã phán cùng các ông sao? Người phán: Ta là Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác và Thiên Chúa của Gia-cóp. Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống.” Dân chúng kinh ngạc khi nghe lời Người dạy” (Mt 22, 31 – 33).
“DÂN CHÚNG KINH NGẠC KHI NGHE LỜI NGƯỜI DẠY”.
Có nghĩa, không riêng gì nhóm sadoc, mà cả dân chúng cũng được chứng kiến Những lý lẽ Chúa đưa ra trong cuộc tranh luận về kẻ chết sống lại rất xác đáng và thuyết phục, không ai bắt bẻ gì được.
Vì thế mở đầu Bài Tin mừng hôm nay, Matthêu viết:
“KHI ẤY, NHỮNG NGƯỜI BIỆT PHÁI NGHE TIẾNG CHÚA GIÊSU ĐÃ LÀM CHO NHỮNG NGƯỜI SAĐỐC CÂM MIỆNG, THÌ HỌP NHAU LẠI. ĐOẠN MỘT NGƯỜI THÔNG LUẬT TRONG NHÓM HỌ HỎI THỬ NGƯỜI RẰNG: “THƯA THẦY, TRONG LỀ LUẬT, GIỚI RĂN NÀO TRỌNG NHẤT?”.
Như vậy, trong cuộc tranh luận với nhóm Sadoc cũng có cả người Biệt phái chứng kiến. Họ nhận ra ngay Chúa Giêsu là một con người cực kỳ nguy hiểm, không dễ bắt nạt, áp đảo, nên họ phải “HỌP NHAU LẠI” để tìm cách đối phó.
Matthêu viết:
“ĐOẠN MỘT NGƯỜI THÔNG LUẬT TRONG NHÓM HỌ HỎI THỬ NGƯỜI”.
Matthêu cho ta thấy Nhóm Biệt phái và nhóm Luật sĩ không phải là 2 nhóm tách biệt, vì một người có thể ở cả trong hai nhóm. Nên hai nhóm này thường đi chung với nhau. Người Biệt phái cũng có thể là một luật sĩ hay người thông luật. Người Biệt phái cũng rất am hiểu lề luật.
Chính vì thế trong Chương 23, đúc kết các lời kết án của Chúa Giêsu dành cho người Biệt phái, Matthêu lặp đi lặp lại câu này:
“Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình!” (Mt 23, 13).
Sau khi nhóm Sadoc rút lui thì đến phiên nhóm Biệt phái đến tấn công.
Nhưng độc giả cũng nên lưu ý một điều:
Không phải các cuộc tranh luận trong Chương 22, diễn ra liên tiếp nhau, hết nhóm này đến nhóm khác, nhóm này thất bại thì rút lui nhường chỗ cho nhóm kia. Không phải như vậy.
Vì văn phong của Matthêu là văn phong tổng kết, ông thường đúc kết các sự kiện chủ đề có liên quan đến nhau vào cùng một chương.
Như vậy ta có thể hiểu: các cuộc tranh luận này cách nhau một khoảng thời gian trong suốt thời gian Chúa ở Giêrusalem trước khi bước vào cuộc khổ nạn.
Hôm nay người Biệt phái đến “HỎI THỬ CHÚA GIÊSU”.
Tại sao lại hỏi thử?
Thưa vì câu hỏi họ đặt ra: “TRONG LỀ LUẬT, GIỚI RĂN NÀO TRỌNG NHẤT?”. Câu trả lời mà bất cứ người Do Thái nào cũng đều biết. Người nào cũng biết mà họ còn đặt ra câu hỏi.
Vì “”Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là giới răn thứ nhất và trọng nhất”.
Đây là điều răn thứ nhất trong Thập Giới mà Thiên Chúa ban cho người Do-thái qua trung gian ông Môsê trên núi Sinai.
Người Do-thái gọi giới răn này là Shema; và để cho khỏi quên, họ viết vào giấy rồi đeo nó trên đầu như thẻ kinh, và đựng vào hai cái hộp nhỏ để đeo trên hai cánh tay mỗi khi cầu nguyện. Ngoài ra họ còn dán trên cửa nhà và cửa thành, để nhắc nhở cho những ai qua lại phải nhớ.
Một giới răn quan trọng và được dán khắp nơi như thế, mà các kinh-sư và biệt-phái còn hỏi Chúa Giêsu! Chúng ta không tìm thấy lý do nào khác ngoài lý do họ khinh thường Chúa.
Nhưng cái ý “HỌ HỎI THỬ CHÚA GIÊSU” nó nằm ở chỗ khác.
Đây chính là cái bẫy.
Vì muốn thử thách Chúa, họ chọn một vị thông luật, đã là thông luật nên chắc ông này phải thuộc nằm lòng 613 điều luật ghi trong sách Luật Do thái, trong đó có 365 điều luật cấm (tương đương 365 ngày trong năm) và 248 điều luật truyền làm, chưa kẻ các điều luật phụ nữa.
Với một rừng luật chi li như vậy, và câu hỏi đầy bất ngờ: ““TRONG LỀ LUẬT, GIỚI RĂN NÀO TRỌNG NHẤT?” sẽ làm cho Chúa Giêsu lúng túng, phải suy nghĩ.
Nhưng Chúa Giêsu đã trả lời ngay mà không có một phút chần chừ:
“CHÚA GIÊSU PHÁN CÙNG NGƯỜI ẤY RẰNG: “NGƯƠI HÃY YÊU MẾN CHÚA LÀ THIÊN CHÚA NGƯƠI HẾT LÒNG, HẾT LINH HỒN VÀ HẾT TRÍ KHÔN NGƯƠI. ĐÓ LÀ GIỚI RĂN THỨ NHẤT VÀ TRỌNG NHẤT. NHƯNG GIỚI RĂN THỨ HAI CŨNG GIỐNG GIỚI RĂN ẤY, LÀ: NGƯƠI HÃY YÊU THƯƠNG KẺ KHÁC NHƯ CHÍNH MÌNH NGƯƠI. TOÀN THỂ LỀ LUẬT VÀ SÁCH CÁC TIÊN TRI ĐỀU TÓM LẠI TRONG HAI GIỚI RĂN ĐÓ”.
Trong khi họ hỏi “GIỚI RĂN NÀO TRỌNG NHẤT?”, thì Chúa trả lời đến 2 giới răn:
+ NGƯƠI HÃY YÊU MẾN CHÚA LÀ THIÊN CHÚA NGƯƠI HẾT LÒNG, HẾT LINH HỒN VÀ HẾT TRÍ KHÔN NGƯƠI. ĐÓ LÀ GIỚI RĂN THỨ NHẤT VÀ TRỌNG NHẤT.
+ GIỚI RĂN THỨ HAI CŨNG GIỐNG GIỚI RĂN ẤY, LÀ: NGƯƠI HÃY YÊU THƯƠNG KẺ KHÁC NHƯ CHÍNH MÌNH NGƯƠI”.
Việc Chúa trả lời ngay không một phút chần chừ, độc giả có thể nghĩ vì Chúa Giêsu là Thiên Chúa nên Ngài biết điều đó.
Nhưng ta có thể xét về khía cạnh con người, Chúa trả lời ngay, vì 2 giới răn đó đã ăn sâu vào tâm khảm con người, khắc sâu đến độ không thể nào quên được.
Hỏi là bật ra ngay.
“”NGƯƠI HÃY YÊU MẾN CHÚA LÀ THIÊN CHÚA NGƯƠI HỀT LÒNG, HẾT LINH HỒN VÀ HẾT TRÍ KHÔN NGƯƠI. ĐÓ LÀ GIỚI RĂN THỨ NHẤT VÀ TRỌNG NHẤT”
“HỀT LÒNG, HẾT LINH HỒN VÀ HẾT TRÍ KHÔN NGƯƠI.”
Ba từ “HẾT” diễn tả cái gì đó thật trọn vẹn và đầy đủ.
Nhưng ở đây có sự khác biệt giữa các thánh sử.
Cụ thể: Cả Marcô và Luca đều sử dụng đến 4 từ HẾT, còn Matthêu chỉ có 3.
+ Marcô viết: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi” (Mc 12, 30).
+ Luca viết: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi” (Lc 10, 27).
Như vậy, Marcô và Luca sử dụng đến 4 từ “HẾT”, trong khi Matthêu chỉ dùng 3 từ thôi. Tức ở Matthêu thiếu cụm từ “HẾT SỨC LỰC (trí khôn) NGƯƠI”.
Điều này không quan trọng, vì chỉ cần 1 từ “HẾT” CŨNG ĐỦ NÓI LÊN TẦM QUAN TRỌNG của Giới răn này rồi.
Yêu mến Thiên Chúa bằng tất cả trái tim mình là để cho Ngài chi phối mọi tư tưởng, mọi ý muốn, mọi ước muốn, mọi tình cảm. Tất cả đều nhằm làm cho Ngài được mọi người nhận biết và tôn vinh.
Chúa Giêsu khẳng định mạnh mẽ “Đó là giới răn thứ nhất và trọng nhất”, vì một người đã yêu Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn tức ta đã trọn vẹn thuộc về Chúa rồi. Tất cả con người của ta đã quy hướng trọn vẹn cho Ngài.
Nếu Luật pháp được lập ra dựa trên căn bản tình yêu và hướng về tình yêu thì “yêu mến Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là giới răn quan trọng nhất”.
Điều răn này tuy dễ để nhớ, nhưng không dễ để thi hành, cho cả người Do-thái xưa lẫn các Kitô hữu ngày nay.
Người Do-thái biết phải kính mến Thiên Chúa trên hết mọi sự, nhưng họ vẫn đúc bê vàng để thờ hay chạy theo các thần ngoại bang khác. Người tín hữu ngày nay vẫn đặt các thứ thần khác lên trên Thiên Chúa như các thần: tiền tài, danh vọng, chức quyền, khoái lạc … Họ có thể bỏ lễ Chúa Nhật hay các việc thờ phượng để làm việc, coi football, đi du lịch, đi shopping, đi đám cưới,….
“NHƯNG GIỚI RĂN THỨ HAI CŨNG GIỐNG GIỚI RĂN ẤY, LÀ: NGƯƠI HÃY YÊU THƯƠNG KẺ KHÁC NHƯ CHÍNH MÌNH NGƯƠI. TOÀN THỂ LỀ LUẬT VÀ SÁCH CÁC TIÊN TRI ĐỀU TÓM LẠI TRONG HAI GIỚI RĂN ĐÓ”.
Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu kẻ khác như chính mình ngươi.
“CŨNG GIỐNG GIỚI RĂN ẤY”
“GIỐNG” ở đây không có nghĩa giống về nội dung, nhưng giống về “tầm quan trọng”, có thể nói 2 giới răn đó quan trọng như nhau.
Nhưng theo lý luận, nó lại là điều vô lý.
Vì sao?
Thưa: khi nói GIỚI RĂN TRỌNG NHẤT thì có nghĩa chỉ có MỘT chứ không thể có 2 cái cùng NHẤT cả.
Nhưng ở đây Chúa Giêsu muốn nói đến 1 giới răn quan trọng nhất, nhưng có 2 vế, đó là MẾN CHÚA – YÊU NGƯỜI, mà 2 giới răn Chúa Giêsu đưa ra chỉ là 2 vế của Giới răn này. Nó như 2 mặt của một tờ giấy
Chúa Giêsu muốn ta cũng phải yêu thương anh em mình như đã yêu mến Thiên Chúa.
Vì như thánh Gioan tông đồ trong Thư thứ nhất đã viết:
“Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Thiên Chúa” mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy (1Ga 4, 20).
“HÃY YÊU THƯƠNG KẺ KHÁC”.
Theo quan niệm của Người Do thái lúc bấy giờ thì “tha nhân” là những người đồng chủng, đồng hương, đồng xứ (x. Lv 19, 18). Còn “kẻ khác” được hiểu là hết mọi người, (x. Mt 25, 40).
Khi Chúa Giêsu bảo người thông luật “hãy yêu thương kẻ khác như chính mình ngươi”, Người có ý dạy phải thương yêu mọi người chứ không giới hạn trong những người đồng hương với nhau (Mt 25, 40), không những thế mà lại còn phải yêu thương cả địch thù nữa (Mt 5, 43),
và yêu như thế nào ? “Yêu như chính mình ngươi”.
Chúng ta cố gắng suy nghĩ thêm chút nữa:
VIỆC LÀM THỂ HỆ TÌNH YÊU – TÌNH YÊU
Khi nói về tình yêu kẻ khác, người ta nghĩ ngay tới các “việc làm” như việc bác ái, hay việc “phải làm” cho kẻ khác như : cho họ ăn, uống, thăm viếng họ, nói tóm tắt là giúp đỡ kẻ khác.
Nhưng đó là kết quả của tình yêu, chứ chưa phải là tình yêu. Lòng từ tâm phải đi trước sự làm phúc. Trước khi làm phúc, người ta phải muốn làm phúc.
Thánh Phaolô nói rõ : Đức bác ái phải là “không giả vờ,” có nghĩa phải chân thật, “không giả hình,” (Rm 12, 9); người ta phải yêu “với một con tim trong sạch” ( 1 Pr 1, 22).
Trên thực tế, người ta có thể làm việc bác ái và bố thí vì nhiều lý do không dính dáng đến tình yêu như : để tô điểm cho mình, để được tiếng khen, để ra vẻ là một người đạo đức thánh thiện, để được lên thiên đàng, và có khi để trấn an một lương tâm xấu xa, bất ổn, muốn đoái công chuộc tội. Như vậy các việc bác ái đó khó có thể nói xuất phát từ tình yêu
“Như chính mình” Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh người được yêu đồng hóa với người yêu, vì vậy, phải yêu thương kẻ khác bằng chính tình yêu đối với bản thân, nhưng tiên vàn phải yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự.
“TOÀN THỂ LỀ LUẬT VÀ SÁCH CÁC TIÊN TRI ĐỀU TÓM LẠI TRONG HAI GIỚI RĂN ĐÓ”.
Như vậy, Chúa Giêsu muốn nói rằng: MẾN CHÚA – YÊU NGƯỜI là đúc kết toàn bộ Luật Môsê và các sách Tiên tri, tức toàn bộ Cựu ước.
Đi xa hơn, Ngài muốn nói với chúng ta rằng, không chỉ là toàn bộ Cựu ước mà còn cả Tân ước nữa.
Như vậy, đâu cần phải học thuộc cả bộ Kinh thánh mới khám phá ra chân lý.
Có khi cần phải quên đi tất cả cuốn Kinh thánh để chỉ nhớ 4 từ này thôi: MẾN CHÚA – YÊU NGƯỜI là đủ rồi.
TRONG BÀI ĐỌC I, Trích sách Tiên tri Êdêkiel, trong một thị kiến về bộ xương khô, Tiên tri đã vâng lệnh Chúa nói tiên tri về các bộ xương khô như sau:
“’Hỡi các bộ xương khô, hãy nghe lời Chúa. Chúa là Thiên Chúa phán cùng các bộ xương như thế này: Đây Ta sẽ khiến hồn nhập vào các ngươi và các ngươi sẽ được sống. Ta sẽ đặt gân trên các ngươi, sẽ khiến thịt mọc ra trên các ngươi, và cho da bọc các ngươi: Ta sẽ ban hồn cho các ngươi, các ngươi sẽ được sống và biết rằng Ta là Chúa’.
Dân Israel đang trong tình trạng như những bộ xương khô, vì họ đang bị lưu đầy, không còn một chút sức sống. Nhưng chính Thiên Chúa sẽ làm cho những bộ xương đó được hồi sinh. Dân Isarael có quyền hy vọng Thiên Chúa sẽ đoái mắt nhìn đến họ và cho họ hồi sinh mạnh mẽ như xưa.
Với Bài Tin mừng hôm nay, chúng ta hãy dâng lên Chúa lời cầu nguyện sau đây:
Lạy Chúa, cảm tạ Chúa đã yêu thương con cách vô vô vị lợi. Xin dạy con cách mến Chúa yêu người mà Chúa mong muốn nhất nơi con.
Amen.
____________________________
Giuse Vĩnh Tâm.
LỜI CHÚA THỨ SÁU TUẦN XX THƯỜNG NIÊN NĂM CHẴN 2020 (21/8/2020) – (Mt 22, 34 – 40) THÁNH PIÔ X, GIÁO HOÀNG, Lễ Nhớ
Trang Chủ » Bài Giảng - Suy Niệm Tin Mừng » LỜI CHÚA THỨ SÁU TUẦN XX THƯỜNG NIÊN NĂM CHẴN 2020 (21/8/2020) – (Mt 22, 34 – 40) THÁNH PIÔ X, GIÁO HOÀNG, Lễ Nhớ

