“VÌ LÒNG CHAI ĐÁ CỦA CÁC NGƯƠI MÀ MÔSÊ ĐÃ CHO PHÉP CÁC NGƯƠI RẪY VỢ; NHƯNG TỪ BAN ĐẦU THÌ KHÔNG CÓ NHƯ VẬY”.
BÀI ĐỌC I: Ed 16, 1-15. 60. 63
“Ngươi tuyệt hảo nhờ sự huy hoàng Ta đã mặc cho ngươi, thế mà ngươi đã mãi dâm truỵ lạc”.
Trích sách Tiên tri Êdêkiel.
Có lời Chúa phán cùng tôi rằng: “Hỡi con người, hãy cho Giêrusalem biết tội ác ghê tởm của nó. Hãy nói: Chúa là Thiên Chúa phán cùng Giêrusalem rằng: Nguồn gốc và sinh quán của ngươi là xứ Canaan. Cha ngươi là người Amorê: mẹ ngươi là người Xêthêa. Khi ngươi sinh ra, ngày ngươi chào đời, người ta không cắt rốn, không rửa ngươi trong nước cho sạch sẽ, không xát muối và bọc khăn cho ngươi. Không ai đem lòng thương xót nhìn ngươi để làm cho ngươi một công việc nào như thế. Ngày ngươi sinh ra, vì ghê tởm ngươi, người ta đã bỏ ngươi ngoài đồng.
Ta đi qua gần ngươi và thấy ngươi dẫy dụa trong máu. Ta đã nói cùng ngươi rằng: ‘Hãy sống trong máu và lớn lên như cỏ ngoài đồng’. Ngươi đã nảy nở, lớn lên và đến tuổi dậy thì. Ngực ngươi nở nang, tóc ngươi rậm dài, nhưng ngươi vẫn khoả thân. Bấy giờ Ta đi qua gần ngươi và thấy ngươi. Lúc đó ngươi đã đến tuổi yêu đương. Ta lấy vạt áo trải trên mình ngươi mà che sự khoả thân của ngươi. Ta thề và kết ước với ngươi – lời Chúa phán – và ngươi đã thuộc về Ta. Ta đã tắm ngươi trong nước, rửa máu trên mình ngươi và xức dầu cho ngươi. Ta đã mặc cho ngươi áo màu sặc sỡ và xỏ giày da tốt cho ngươi, thắt lưng ngươi bằng dây gai mịn và choàng cho ngươi áo tơ lụa. Ta đã lấy đồ quý mà trang điểm cho ngươi. Ta đã đeo xuyến vào tay ngươi, đeo kiềng vào cổ ngươi. Ta đã xỏ khoen vào mũi ngươi, đeo hoa tai vào tai ngươi và đặt triều thiên rực rỡ trên đầu ngươi.
Ngươi đã được trang điểm bằng vàng bạc, mặc áo bằng vải mịn, tơ lụa và hàng thêu. Ngươi ăn bột miến lọc, mật ong và dầu ôliu. Càng ngày ngươi càng xinh đẹp và tiến lên ngôi nữ hoàng. Ngươi đã lừng danh giữa các dân tộc nhờ sắc đẹp của ngươi vì ngươi thật là tuyệt hảo nhờ sự huy hoàng Ta đã mặc cho ngươi. Chúa là Thiên Chúa phán, nhưng ngươi đã cậy sắc đẹp và lợi dụng danh tiếng của ngươi, để mãi dâm trụy lạc. Ngươi hiến thân cho bất cứ ai qua đường. Nhưng phần Ta, Ta sẽ nhớ lại giao ước Ta đã lập với ngươi khi ngươi còn xuân xanh. Ta sẽ lập với ngươi một giao ước vĩnh cửu. Như thế, để ngươi phải nhớ lại mà xấu hổ, và vì xấu hổ, ngươi sẽ không còn mở miệng ra nữa, khi Ta tha thứ hết mọi việc ngươi đã làm. Chúa là Thiên Chúa phán”.
Đó là lời Chúa.
Hoặc bài vắn này: Ed 16, 59-63
Chúa là Thiên Chúa đã phán thế này: “Ta sẽ đối xử với ngươi như ngươi đã đối xử với Ta, ngươi đã khinh rẻ lời thề mà huỷ bỏ giao ước. Nhưng phần Ta, Ta sẽ nhớ lại giao ước Ta đã lập với ngươi khi ngươi còn xuân xanh. Ta sẽ lập với ngươi một giao ước vĩnh cửu. Và ngươi sẽ ghi nhớ các đường lối của ngươi mà cảm thấy nhục khi Ta lấy các chị các em gái ngươi mà ban cho ngươi làm con, mặc dầu chúng không có chân trong giao ước của ngươi. Ta sẽ giữ vững giao ước của Ta với ngươi, và ngươi sẽ biết rằng Ta là Chúa, và như thế, để ngươi phải nhớ lại mà xấu hổ, và vì xấu hổ, ngươi sẽ không còn mở miệng ra nữa, khi Ta tha thứ hết mọi việc ngươi đã làm. Chúa là Thiên Chúa phán”.
Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Is 12, 2-3. 4bcd. 5-6
Đáp: Chúa đã bỏ cơn giận của Chúa và đã an ủi tôi (c. 1c).
Xướng:
1) Đây Thiên Chúa là Đấng Cứu Chuộc tôi, tôi sẽ tin tưởng mà hành động và không khiếp sợ: vì Chúa là sức mạnh, là Đấng tôi ngợi khen, Người sẽ trở nên cho tôi phần rỗi. – Đáp.
2) Hãy ca tụng Chúa và kêu cầu danh Người; hãy công bố cho các dân biết kỳ công của Chúa; hãy nhớ lại danh Chúa rất cao sang. – Đáp.
3) Hãy ca tụng, vì Người làm nên những việc kỳ diệu; hãy cao rao việc đó trên khắp hoàn cầu. Hỡi người cư ngụ tại Sion, hãy nhảy mừng ca hát, vì Đấng cao cả là Đấng Thánh Israel ở giữa ngươi. – Đáp.
ALLELUIA: 1 Ga 2, 5
Alleluia, alleluia! – Ai giữ lời Chúa Kitô, thì quả thật, tình yêu của Thiên Chúa đã tuyệt hảo nơi người ấy. – Alleluia.
PHÚC ÂM: Mt 19, 3-12
“Vì lòng chai đá của các ngươi mà Môsê đã cho phép các ngươi rẫy vợ; nhưng từ ban đầu thì không có như vậy”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, có những người biệt phái đến cùng Chúa Giêsu và hỏi thử Người rằng: “Có được phép rẫy vợ vì bất cứ lẽ gì không?” Người đáp: “Nào các ông đã chẳng đọc thấy rằng: Từ thuở ban đầu, Tạo Hoá đã dựng loài người có nam có nữ, và Người đã phán: Bởi thế nên người nam sẽ bỏ cha mẹ mà kết hợp với vợ mình, và cả hai sẽ nên một thân xác? Cho nên họ không còn là hai, nhưng là một thân xác. Vậy điều gì Thiên Chúa đã kết hợp, thì loài người không được phân ly”. Họ hỏi lại: “Vậy tại sao Môsê đã truyền cấp tờ ly hôn mà cho rẫy vợ?” Người đáp: “Vì lòng chai đá của các ông mà Môsê đã cho phép các ông rẫy vợ; nhưng từ ban đầu thì không có như vậy. Tôi bảo các ông rằng: Ai rẫy vợ, trừ nố gian dâm, và đi cưới vợ khác, thì phạm tội ngoại tình. Và ai cưới người đã bị rẫy, cũng phạm tội ngoại tình”.
Các môn đệ thưa Người rằng: “Nếu sự thể việc vợ chồng là như thế, thì tốt hơn đừng cưới vợ”. Người đáp: “Không phải mọi người hiểu được điều ấy, nhưng chỉ những ai được ban cho hiểu mà thôi. Vì có những hoạn nhân từ lòng mẹ sinh ra, có những hoạn nhân do người ta làm nên, và có những người vì Nước Trời, tự trở thành hoạn nhân. Ai có thể hiểu được thì hiểu”.
Đó là lời Chúa.
_________________________________
I/. VÀI NÉT VỀ THÁNH MAXIMILIEN KOLBÊ, Linh mục tử Đạo – Lễ nhớ (14/8)
(1894-1941)
1. ĐÔI DÒNG TIỂU SỬ
Cha Maximilien Kolbe sinh tại Zdusnka Wola, nước Balan, ngày 8-1-1894. Năm 1907, nhập học tại chủng viện dòng Phanxicô, được gởi qua học ở Roma. Ngày 28-04-1918, thụ phong linh mục. Là một tông đồ nhiệt thành về lòng sùng kính thánh mẫu Maria, Cha Kolbe đã tích cực cổ võ lòng tôn sùng ấy đặc biệt bằng báo chí (Nguyệt san “Người hiệp sĩ của Đức Mẹ Vô Nhiễm” phát hành một lần tới một triệu số năm 1938) và bằng một trung tâm thánh mẫu. Năm 1930, cha qua Nhật và thành lập một trung tâm tương tự. Năm 1936, cha trở về Balan.
Ngày 1-9-1939, quân đội Đức của Hitler tấn công Balan, mở đầu thế giới chiến tranh thứ II.
Mười ngày sau, mật vụ Đức bắt giam cha Maximilien Kolbe gần ba tháng. Được trả tự do, cha trở lại đời sống hoạt động tông đồ cho đến ngày 17-2-1941, thì bị bắt lại. Và lần này cha bị giam ở trại tập trung Auschwitz, nơi đã từng tiêu diệt 6 triệu người Do Thái và vô số những người khác trong các phòng hơi ngạt. Cha Kolbe cũng chết tại đó.
30 năm sau, ngày 17-10-1971 tại thánh đường Phêrô, Đức Giáo hoàng Phaolo VI đã long trọng phong cha lên hàng chân phước. Tại buổi lễ này người ta thấy có sự hiện diện của cụ Giasowniczek, người mà trước kia cha Maximilien Kolbe đã chết thay cho.
Rồi ngày 10-10-1982 Đức Gioan Phaolo II đã phong Ngài lên bậc hiển thánh.
2. CHỨNG NHÂN ANH DŨNG
“Hôm ấy là ngày 30/7/1941, trong nhà giam số 14 tại trại tập trung Auschwitz, nơi mấy tháng trước đó, một nhóm tù nhân vừa được dẫn tới, trong đó có cha Maximilien Kolbe, tu sĩ dòng Phanxicô Balan. Hôm ấy thiếu mất một tù nhân. Các tử tù biết rằng cứ một tù nhân đào thoát là hai mươi tù cùng trại phải nhịn ăn cho đến chết. Đêm ấy không ai trong khu nhà giam chợp mắt được. Mọi người đều sợ hãi, mặc dù nhiều lúc họ vẫn mong chờ cái chết đến để giải thoát họ.
Chết dưới làn đạn, có lẽ còn chịu đựơc, nhưng chết đói chết khát thật là một cái chết kinh sợ nhất. Từ căn nhà hành hình, phát ra những tiếng la rú rùng rợn. Đêm ấy, cha Kolbe lo an ủi đồng bạn và giải tội cho những ai cần.
Sáng hôm sau khi điểm danh, tên cai ngục đã báo tin người ta đã không tìm lại được kẻ đào thoát. Cả trại 14 đứng im như trời trồng và hồi hộp chờ án lệnh. Viên cai ngục dừng lại trước hàng những tù nhân và tuyên bố: “Mười đứa trong tụi bay sẽ chết thay nó. Lần sau sẽ là 20 đứa”. Tuyên bố xong hắn ta chậm rãi đi ngang qua hàng đầu, có vẻ suy nghĩ, rồi nói : “Tên này… tên này… tên này. Tất cả 10 người. 10 người bị tử hình”.
Lúc đó một trong số những người ấy kêu lên: “Ôi vợ tôi, các con tôi!”. Những người còn đứng trong hàng ngũ thở ra nhẹ nhõm.
Nhưng rồi một chuyện bất ngờ xảy ra: Có một người tù không thuộc nhóm những người bị chỉ định, mạnh dạn bước ra khỏi đám người đang xếp hàng im lặng trong sợ hãi, nhìn thẳng vào người cai ngục. Tên này kinh ngạc lùi lại một chút rồi hô to: “Đứng lại!”
Cha Maximilien Kolbe dừng lại trước mặt y. Thế rồi một cuộc đối thoại chưa từng nghe đã diễn ra. Một cuộc đối thoại điên khùng mà những người sống sót đã kể lại thật chính xác:
– Xin ông cho phép tôi được chết thay cho một trong những người bị lên án này!
Viên cai tù kinh ngạc nhìn cha.
– Anh là ai ?
– Là một linh mục công giáo.
– Anh muốn chết thế cho ai ?
– Người này. Cha Kolbe chỉ vào người vừa mới la khóc.
– Tại sao ?
– Bởi vì đời tôi không còn giúp ích gì mấy. Trong khi ông này còn có gia đình.
Viên cai trại suy nghĩ, rồi đưa tay ra hiệu đồng ý. Cha Kolbe nhập bọn với đám tử tội.
Một phút im lặng. Không ai hiểu rõ sự việc vừa xảy ra.
Các tù nhân bị lột hết quần áo, nhốt vào một căn hầm. Kể từ giây phút đó, người tù không còn gì để ăn và điều kinh khủng là không có gì để uống nữa.
Trước kia căn nhà hầm này luôn vang lên những tiếng kêu la thảm thiết. Thật là một địa ngục nhỏ. Nhưng lần này có cái gì đã thay đổi. Mấy người lính Đức quốc xã rất đỗi ngạc nhiên. Đám tử tù cầu nguyện và ca hát. Vẫn có tiếng rên rỉ, nhưng không còn là những tiếng kêu tuyệt vọng nữa.
Ngày thứ 12, tức ngày 14-08-1941 cửa phòng giam đói được mở ra. Mọi người đều đã chết, trừ một mình cha Kolbe, với đôi mắt vẫn sáng dù thân mình tàn rũ. Cha ngồi giữa đất, đầu tựa vào tường, thân mình ngay thẳng và khuôn mặt rạng rỡ. Viên cai ngục bắt ngài đưa tay ra và chích cho một mũi thuốc độc ân huệ. Vị linh mục chết ngay. Họ đưa xe đến xúc xác ngài và các bạn tù đem đi. Như bao nhiêu người khác, xác cha bị hoả thiêu trong lò và nắm tro tàn bị ném tung trong gió bốn phương.
3. THAY CHO LỜI KẾT
Đây là lời của Đức thánh Cha Phaolô VI
“Lịch sử sẽ không thể quên được trang sử ghê tởm này (của thời Đức quốc xã) nhưng giữa sự kinh hãi, người ta vẫn không thể không nhận ra những tia sáng tố giác bóng tối và đồng thời lướt thắng bóng tối. Một trong những tia sáng ấy, và có lẽ là tia sáng rực rỡ hơn hết, được ban cho chúng ta trong khuôn mặt tiều tụy và bình thản của cha M. Kolbe, vị anh hùng luôn bám chắc vào một niềm hy vọng nghịch lý nhưng có suy nghĩ. Tên tuổi Ngài mãi mãi lớn lao và sẽ nhắc nhở cho ta thấy rằng giữa những con người khốn khổ, vẫn có thể tồn tại những năng lực và giá trị luân lý phong phú biết bao !” (Bài giảng của Đức Phaolo VI…)
Và đây là những lời của Đức Hồng Y Wojtyla sau này là Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II tại phòng họp báo toà thánh Vatican ngày 14-10-1971
“Chân phước Maximilien Kolbe không biết hận thù là gì. Trong nhà tù Pawiak, ở Vacsava, trong trại tập trung Auschwitz Ngài nhìn người hành hình cũng như kẻ bị hành hình cùng với một cái nhìn trong sáng đến nỗi những kẻ tàn bạo nhất phải quay mặt đi : “Đừng nhìn bọn tao như thế”. Con người mang bản số 16670 ấy đã dành được một cuộc chiến thắng khó khăn nhất: ấy là cuộc chiến của tình yêu biết xá tội, biết thứ tha. Ngài đã đi vào trong cái vòng luẩn quẩn hiểm ác của hận thù với một cõi lòng nóng bỏng tình yêu và lập tức cái “ngón trù ếm” quỉ quái của nó bị giải độc. Tình yêu đã mạnh hơn sự chết.
(Nguồn: Lm Giuse Đinh Tất Quý – tgpsaigon.net)
________________________________________
II/. BÀI SUY NIỆM (Mt 19, 3-12)
“VÌ LÒNG CHAI ĐÁ CỦA CÁC NGƯƠI MÀ MÔSÊ ĐÃ CHO PHÉP CÁC NGƯƠI RẪY VỢ; NHƯNG TỪ BAN ĐẦU THÌ KHÔNG CÓ NHƯ VẬY”.
Hôm nay thứ Sáu tuần XIX Thường niên, chúng ta chính thức bước vào Chương 19 Phúc âm Matthêu.
Chương 19 có tên gọi: NƯỚC TRỜI: TRIỀU ĐẠI THIÊN CHÚA ĐÃ ĐẾN GẦN.
Bài Tin mừng hôm nay xoay quanh CÂU HỎI VẾ VẤN ĐỀ LY DỊ.
Như ta biết: HÔN NHÂN – HÔN PHỐI – LY DỊ – LY THÂN là những vấn đề muôn thưở của con người, nó hiện diện trong bất kỳ xã hội nào, chế độ nào, thời đại nào, dân tộc nào, giai cấp nào, nó bắt đầu từ khi có mặt con người trên mặt đất và cũng sẽ kết thúc cùng với con người.
“Con người hãy sinh sản ra đầy mặt đất”, đó là lệnh truyền của Chúa từ khi bắt đầu tạo dựng.
Mà muốn sinh sản, thì nó phải đi tới HÔN NHÂN, và trong hôn nhân, luôn xảy ra mâu thuẩn, đổ vỡ và nó cũng đi liền với LY DỊ.
Vì thế với Bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã cho chúng ta quan điểm rõ ràng và dứt khoát của Ngài về vấn đề ly dị.
Bài Tin mừng hôm nay được bắt đầu bằng một câu hỏi của người Biệt phái dành cho Chúa Giêsu.
Matthêu viết:
“KHI ẤY, CÓ NHỮNG NGƯỜI BIỆT PHÁI ĐẾN CÙNG CHÚA GIÊSU VÀ HỎI THỬ NGƯỜI RẰNG: “CÓ ĐƯỢC PHÉP RẪY VỢ VÌ BẤT CỨ LẼ GÌ KHÔNG?”
“NGƯỜI BIỆT PHÁI ĐẾN CÙNG CHÚA GIÊSU VÀ HỎI THỬ NGƯỜI”
Như vậy, ta thấy ngay cuộc gặp gỡ này không có gì là thiện chí, mà chỉ là cuộc gài bẫy và thách thức.
Thái độ của người Biệt phái vẫn vậy, không có gì thay đổi. Hầu như Chúa Giêsu ở đâu là họ có mặt ở đó, họ có mặt như kẻ thọc gậy bánh xe và phá đám. Nhưng câu hỏi của họ đưa ra cũng đáng hỏi, để Chúa có dịp cho ta thấy quan điểm và giáo huấn của Ngài về vấn đề ly dị.
“CÓ ĐƯỢC PHÉP RẪY VỢ VÌ BẤT CỨ LẼ GÌ KHÔNG?”.
Ta chú ý cụm từ “VÌ BẤT CỨ LẼ GÌ KHÔNG?” Có nghĩa, người ta có được quyền ly dị mà không cần đến lý do nào không?
Câu trả lời cũng có sẵn trong sách luật, vì thế Matthêu nói: “HỎI THỬ NGƯỜI”.
Tại sao họ lại hỏi Chúa Giêsu câu hỏi này?
Thưa vì trong sách Đệ Nhị Luật có viết: “Nếu một người đàn ông đã lấy vợ và đã ăn ở với nàng rồi, mà sau đó nàng không đẹp lòng người ấy nữa, vì người ấy thấy nơi nàng có điều gì chướng, thì sẽ viết cho nàng một chứng thư ly dị, trao tận tay và đuổi ra khỏi nhà” (Đnl 24, 1).
“THẤY NƠI NÀNG CÓ ĐIỀU GÌ CHƯỚNG”
là cụm từ rất mơ hồ không xác định cụ thể.
Thế nào là “chướng”?
Cụm từ này cho ta thấy có vô vàn lý do để ly dị, nó cũng đồng nghĩa có quyền ly dị mà không cần bất kỳ lý do nào.
“CHƯỚNG” có hai nghĩa:
(1) không thích hợp;
(2) những hành vi vô luân.
Vì mơ hồ nên mọi trường phái giải thích luật đều nhìn nhận cho phép ly dị, nhưng có điểm khác nhau về lý do ly dị. Có 2 trường phái điển hình. Cụ thể như sau:
1/. TRƯỜNG PHÁI HILLEI:
cho phép ly dị vì bất cứ lý do gì, hiểu theo nghĩa thứ nhất: tất cả những gì người chồng thấy không xứng đáng nơi người vợ như: không biết nấu nướng, đầu xù tóc rối nơi công cộng, mạ lỵ chồng…
Ta phải nhìn nhận thực tại này: người phụ nữ khi bắt đầu lấy chồng, họ như một bông hoa xinh đẹp, có sức thu hút và quyến rũ đặc biệt. Nhưng khi đã sống đời sống gia đình một thời gian, vì vấn đề sinh đẻ, vì lam lũ trong công việc, nhan sắc bắt đầu xuống dốc, họ không còn xinh đẹp như trước nữa, chân tay bắt đầu chậm chạp và có thể lú lẫn, rồi sẽ phát sinh muôn vàn điều “chướng”.
Như vậy cái lý do “THẤY NƠI NÀNG CÓ ĐIỀU GÌ CHƯỚNG” để cho phép ly dị thật bất công và phũ phàng.
2/. TRƯỜNG PHÁI SHAMMAI:
gắt gao hơn, chỉ cho phép ly dị trong trường hợp ngoại tình thôi.
Chúa Giêsu đã trả lời cho người Biệt phái như sau:
“NGƯỜI ĐÁP: “NÀO CÁC ÔNG ĐÃ CHẲNG ĐỌC THẤY RẰNG: TỪ THUỞ BAN ĐẦU, TẠO HÓA ĐÃ DỰNG LOÀI NGƯỜI CÓ NAM CÓ NỮ, VÀ NGƯỜI ĐÃ PHÁN: BỞI THẾ NÊN NGƯỜI NAM SẼ BỎ CHA MẸ MÀ KẾT HỢP VỚI VỢ MÌNH, VÀ CẢ HAI SẼ NÊN MỘT THÂN XÁC? CHO NÊN HỌ KHÔNG CÒN LÀ HAI, NHƯNG LÀ MỘT THÂN XÁC. VẬY ĐIỀU GÌ THIÊN CHÚA ĐÃ KẾT HỢP, THÌ LOÀI NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC PHÂN LY”.
Chúa Giêsu đưa người Biệt phái về lại cái thuở ban đầu khi mới tạo dựng con người, mà sách Sáng thế ký đã ghi lại rất rõ.
Chúa Giêsu nhấn mạnh cụm từ: “TỪ THUỞ BAN ĐẦU”.
Có nghĩa ngay từ lúc dựng nên con người, chính Thiên Chúa đã thiết lập ra ĐỊNH CHẾ HÔN NHÂN.
Có nghĩa: LUẬT HÔN NHÂN DO CHÍNH THIÊN CHÚA THIẾT LẬP CHỨ KHÔNG PHẢI DO CON NGƯỜI.
Có nhiều người không biết, họ cho rằng Đạo Công giáo thiết lật ra luật hôn nhân và nghiêm cấm cho ly dị dưới bất kỳ hình tức nào, lý do nào. Họ phê phán Đạo Công giáo cứng ngắc, cổ hũ, khi không chịu theo thời.
Điều này rất sai lầm.
Đạo Công giáo không thiết lập bí tích Hôn phối mà Bí tích này do chính Thiên Chúa thiết lập ngay từ thưở ban đầu. Đạo Công giáo chỉ có mãi sau này.
ĐỊNH CHẾ HÔN NHÂN THIÊN CHÚA THIẾT LẬP NHƯ SAU:
“TỪ THUỞ BAN ĐẦU, TẠO HÓA ĐÃ DỰNG LOÀI NGƯỜI CÓ NAM CÓ NỮ, VÀ NGƯỜI ĐÃ PHÁN: BỞI THẾ NÊN NGƯỜI NAM SẼ BỎ CHA MẸ MÀ KẾT HỢP VỚI VỢ MÌNH, VÀ CẢ HAI SẼ NÊN MỘT THÂN XÁC, CHO NÊN HỌ KHÔNG CÒN LÀ HAI, NHƯNG LÀ MỘT THÂN XÁC”
“CHO NÊN HỌ KHÔNG CÒN LÀ HAI, NHƯNG LÀ MỘT THÂN XÁC”
Chính vì là một thân xác nên không có bất kỳ quyền lực nào, thể chế nào, định chế nào có thể tách họ ra thành hai.
Chúa kết luận bằng một câu rất mạnh mẽ và chặt chẽ:
“VẬY ĐIỀU GÌ THIÊN CHÚA ĐÃ KẾT HỢP, THÌ LOÀI NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC PHÂN LY”.
Loài người không được tiếm quyền Thiên Chúa, cho dù xã hội có phát triển thế nào đi nữa. Không ai có quyền vi phạm luật Hôn nhân.
Mặc dù Đạo Công giáo không thiết lập định chế hôn nhân. Nhưng Chúa Giêsu đã nâng nó lên thành BÍ TÍCH: BÍ TÍCH HÔN PHỐI.
Như vậy khi một đôi nam nữ đưa nhau lên trước bàn thờ Chúa thề hứa với nhau một cách tự do tuyệt đối, không bị ép buộc bởi bất cứ lý do gì, dưới sự chứng kiến của vị linh mục hay phó tế, thì Bí tích Hôn phối đã thành sự.
Từ đây hai người đã TRỞ THÀNH MỘT.
Gọi đây là Bí tích, vì sự nên một đó đã diễn tả sống động sự nên một giữa Ba ngôi Thiên Chúa và nên một với các tín hữu.
Một điểm cần lưu ý nữa:
Không phải vị linh mục hay phó tế chứng kiến, đã ban Bí tích hôn phối cho họ, mà Bí tích hôn phối này do chính hai người nam nữ làm nên.
Như vậy câu kết luận vẫn là:
““VẬY ĐIỀU GÌ THIÊN CHÚA ĐÃ KẾT HỢP, THÌ LOÀI NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC PHÂN LY”
Không có một thế lực nào tách hai người nam nữ được nữa. Chỉ có cái chết mới tách được hai người mà thôi.
Cho dù TÒA ÁN ĐỜI, TÒA ÁN XÃ HỘI có cho phép ly dị, nhưng Luật Chúa thì không.
Có nghĩa: chỉ khi một trong hai người chết đi (và phải được chứng minh rõ ràng), thì người còn lại mới có quyền lấy chồng khác, vợ khác.
Như vậy với câu hỏi người Biệt phái đặt ra: “”CÓ ĐƯỢC PHÉP RẪY VỢ VÌ BẤT CỨ LẼ GÌ KHÔNG?”
Câu trả lời: “DỨT KHOÁT KHÔNG.”
Người Biệt phái lại đặt ra câu hỏi khác:
“HỌ HỎI LẠI: “VẬY TẠI SAO MÔSÊ ĐÃ TRUYỀN CẤP TỜ LY HÔN MÀ CHO RẪY VỢ?”
Đúng là Môsê đã cho phép ly dị. Nhưng Chúa Giêsu trả lời:
“NGƯỜI ĐÁP: “VÌ LÒNG CHAI ĐÁ CỦA CÁC ÔNG MÀ MÔSÊ ĐÃ CHO PHÉP CÁC ÔNG RẪY VỢ; NHƯNG TỪ BAN ĐẦU THÌ KHÔNG CÓ NHƯ VẬY. TÔI BẢO CÁC ÔNG RẰNG: AI RẪY VỢ, TRỪ NỐ GIAN DÂM, VÀ ĐI CƯỚI VỢ KHÁC, THÌ PHẠM TỘI NGOẠI TÌNH. VÀ AI CƯỚI NGƯỜI ĐÃ BỊ RẪY, CŨNG PHẠM TỘI NGOẠI TÌNH”.
“VÌ LÒNG CHAI ĐÁ CỦA CÁC ÔNG MÀ MÔSÊ ĐÃ CHO PHÉP CÁC ÔNG RẪY VỢ; NHƯNG TỪ BAN ĐẦU THÌ KHÔNG CÓ NHƯ VẬY”.
Cụm từ “VÌ LÒNG CHAI ĐÁ CỦA CÁC ÔNG” cho ta biết, sự cho phép của ông Môsê không phải là luật Chúa mà chỉ là sự nhượng bộ theo tình thế.
Có nghĩa, dân Do Thái thời đó có quá nhiều sự lỗi phạm, làm cho xã hội rối ren. Ông Môsê nếu không cho phép thì họ cũng tự cho phép mình được ly dị, vì thế nhiều phụ nữ đã bị tống ra khỏi nhà một cách không khoan nhượng. Ông Môsê chỉ đòi buộc phải cho người vợ một chứng từ ly hôn để người phụ nữ đó có quyền lấy người khác mà không còn bị ràng buộc với người chồng cũ, tức bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nữ giới. Đó là xã hội Do Thái thời ông Môsê. Như vậy ông Môsê cho phép ly dị, đó chỉ là sự nhượng bộ theo tình thế, chứ không phải luật Chúa.
SỰ NHƯỢNG BỘ THEO TÌNH THẾ KHÁC HẲN VỚI SỰ CHO PHÉP, vì thế Chúa Giêsu vẫn khẳng định:
“NHƯNG TỪ BAN ĐẦU THÌ KHÔNG CÓ NHƯ VẬY. TÔI BẢO CÁC ÔNG RẰNG: AI RẪY VỢ, TRỪ NỐ GIAN DÂM, VÀ ĐI CƯỚI VỢ KHÁC, THÌ PHẠM TỘI NGOẠI TÌNH. VÀ AI CƯỚI NGƯỜI ĐÃ BỊ RẪY, CŨNG PHẠM TỘI NGOẠI TÌNH”
Có nghĩa Luật Chúa vẫn giữ nguyên không thay đổi, vì thế bất cứ ai rẫy vợ mà đi cưới người vợ khác “THÌ PHẠM TỘI NGOẠI TÌNH”.
Người đàn ông sau này lấy người phụ nữ đã bị rẫy “CŨNG PHẠM TỘI NGOẠI TÌNH”.
Cái TỘI NGOẠI TÌNH là tội rất nặng, ai mắc phải tội này phải chịu hình phạt ném đá cho đến chết.
“TRỪ NỐ GIAN DÂM”. Có nghĩa chỉ có lý do này mới được phép.
Bao lâu hai người có khế ước hôn nhân còn sống, thì họ LUÔN THÀNH MỘT và không được phép chia lìa, chỉ trừ khi một người chết đi (và phải được chứng minh rõ ràng), người còn lại mới được quyền lấy chồng khác, vợ khác.
Sau khi Chúa Giêsu trình bày quan điểm của Ngài cho người Biệt phái, các môn đệ của Ngài thật sửng sốt, họ đặt vấn đề với Chúa Giêsu:
“CÁC MÔN ĐỆ THƯA NGƯỜI RẰNG: “NẾU SỰ THỂ VIỆC VỢ CHỒNG LÀ NHƯ THẾ, THÌ TỐT HƠN ĐỪNG CƯỚI VỢ”
Trước quan điểm ly dị chặt chẽ của Chúa Giêsu, các môn đệ mới nghĩ ra giải pháp để không bị lỗi luật, không bị phạm tội ngoại tình, đó là đừng lấy vợ nữa hay hơn.
Các môn đệ đưa ra giải pháp này cũng lạ và khôi hài.
Vì trong sách Sáng thế ký, tác giả viết:
“ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa phán: “Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó” (Stk 2, 19).
Có lẽ, Thiên Chúa nhận ra rằng người đàn ông này (ông Ađam) cần một người bạn đời, vì thế Người đã quyết định lấy một trong những xương sườn của Adam và dựng nên một người khác như Adam, đó là bà Evà.
“Con người ở một mình thì không tốt”, Thiên Chúa đã tuyên bố một sự thật vĩnh cửu: chúng ta đã được tạo dựng cùng với nhau. Chúng ta đã được tạo dựng nên cho cộng đồng.
Thiên Chúa không muốn bất cứ ai trong chúng ta bước đi một mình. Người không chỉ đang bước đi ngay bên cạnh ta; nhưng Người cũng đã cử mọi người đi cùng ta. Chúa yêu ta quá nhiều đến nỗi không thể bỏ rơi ta được.
Đứng trước suy nghị lạ đời của các môn đệ, Chúa Giêsu phải lên tiếng:
“NGƯỜI ĐÁP: “KHÔNG PHẢI MỌI NGƯỜI HIỂU ĐƯỢC ĐIỀU ẤY, NHƯNG CHỈ NHỮNG AI ĐƯỢC BAN CHO HIỂU MÀ THÔI. VÌ CÓ NHỮNG HOẠN NHÂN TỪ LÒNG MẸ SINH RA, CÓ NHỮNG HOẠN NHÂN DO NGƯỜI TA LÀM NÊN, VÀ CÓ NHỮNG NGƯỜI VÌ NƯỚC TRỜI, TỰ TRỞ THÀNH HOẠN NHÂN. AI CÓ THỂ HIỂU ĐƯỢC THÌ HIỂU”
Chúa Giêsu lợi dụng cơ hội này hay do Matthêu sắp xếp, để đề cập tới những người sống trong ơn gọi Độc thân. Ngài đưa ra ba trường hợp:
1/. Thứ nhất, những người không có khả năng để sống ơn gọi gia đình ngay từ lúc mẹ sinh ra, tức bị khuyết tật bẩm sinh, không thể sinh hoạt việc vợ chồng.
2/. Kế đến những người không thể kết hôn vì bị người ta hoạn, như trường hợp các hoạn quan trong triều đình ngày xưa.
3/. Sau cùng là những người tự ý không kết hôn vì Nước Trời, những người hy sinh tất cả để hoàn toàn hiến thân cho việc rao giảng Tin Mừng và cứu rỗi linh hồn tha nhân.
Đối với hạng người sau cùng này, Thiên Chúa ban ơn thánh để họ có thể trung thành với ơn gọi tu trì.
Trào lưu tôn thờ bản năng tính dục cùng với sự thờ ơ nơi mỗi người đang làm đảo lộn giá trị đạo đức của nhiều cá nhân và gia đình, gây nên mọi thứ vi phạm luân lý và khinh thường đời sống độc thân.
Trong bối cảnh này, đời sống độc thân của các linh mục tu sĩ thật quý giá, vì đời sống đó minh chứng họ muốn bước theo sát Chúa Kitô và cho thấy trước cuộc sống mai sau.
Như Đức Giêsu, Đấng tự nguyện sống đời độc thân để trọn vẹn cho sứ mạng loan báo Tin Mừng giữa một xã hội xem đời sống độc thân, son sẻ là điều đáng hổ thẹn, các linh mục tu sĩ cũng tự nguyện sống độc thân để nên giống Thầy mình dành trọn cuộc đời phục vụ Tin Mừng.
“AI CÓ THỂ HIỂU ĐƯỢC THÌ HIỂU
Trong cuộc sống mai sau người ta sẽ không lấy vợ lấy chồng (Mc 12,25), những người sống đời thánh hiến đã tiên báo cho cuộc sống mai sau đó bằng đời sống độc thân ngay ở đời này. Một cuộc sống như thế không phải dễ hiểu, nhưng chỉ dành cho những ai được ơn để hiểu.
TRONG BÀI ĐỌC I Trích sách Tiên tri Êdêkiel, ngôn sứ Ezekiel dùng hình ảnh một cô gái để nói lên tình yêu và sự trung thành của Thiên Chúa dành cho nhà Israel.
Ngài yêu họ khi họ chưa là một quốc gia, khi họ vẫn còn bị đối xử tàn nhẫn như nô lệ bên Ai-cập. Ngài đã giải thoát họ khỏi đất nô lệ và đồng hành với họ suốt 40 năm trường trong sa mạc. Ngài đuổi dân bản xứ đi và cho họ vào sở hữu một vùng đất chảy sữa và mật… Nhưng khi họ đã trở thành một dân tộc, họ đã bội nghĩa quên thề để chạy theo thờ phượng các thần của ngoại bang. Ngài có thể bỏ mặc họ cho quân thù giày xéo, nhưng Ngài chọn con đường yêu thương họ đến cùng.
Với Bài Tin mừng hôm nay, chúng ta hãy dâng lên Chúa lời cầu nguyện sau đây:
Lạy Chúa, xin Chúa chúc phúc cho chúng con, dù con sống bậc hôn nhân, hay tu trì tận hiến.
Xin Chúa gìn giữ các gia đình, để mỗi người luôn trung thành với những gì mình đã cam kết trước bàn thờ Chúa. Nhất là trong thời đại hôm nay, có bao cám dỗ luôn rình rập, và cả những khó khặn, dịch bệnh, đói kém đang bủa vây các gia đình, dễ đưa con người đến chỗ ly thân, ly dị, gây đổ vỡ cho biết bao gia đình, mà hậu quả là các em nhỏ phải gánh chiu.
Xin Chúa ở trong mỗi gia đình và gìn giữ các cặp vợ chồng để họ chung thủy với nhau suốt đời.
Amen.
_____________________________
Giuse Vĩnh Tâm.
LỜI CHÚA THỨ SÁU TUẦN XIX THƯỜNG NIÊN NĂM CHẴN 2020 (14/8/2020) – (Mt 19, 3-12) – VẤN ĐỀ LY DỊ THÁNH MAXIMILIEN KOLBÊ, Linh mục tử Đạo – Lễ nhớ
Trang Chủ » Bài Giảng - Suy Niệm Tin Mừng » LỜI CHÚA THỨ SÁU TUẦN XIX THƯỜNG NIÊN NĂM CHẴN 2020 (14/8/2020) – (Mt 19, 3-12) – VẤN ĐỀ LY DỊ THÁNH MAXIMILIEN KOLBÊ, Linh mục tử Đạo – Lễ nhớ

