“SỰ GÌ THIÊN CHÚA ĐÃ KẾT HỢP, LOÀI NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC PHÂN RẼ”.
BÀI ĐỌC I: Hc 6, 5-17
“Không gì sánh được với người bạn trung thành”.
Trích sách Huấn Ca.
Lời nói ngọt ngào gia tăng số bạn hữu và thoa dịu những kẻ thù; lưỡi êm dịu nơi người hiền tăng thêm hoà khí.
Ngươi nên có nhiều bạn hữu, nhưng chỉ nên chọn một trong ngàn người làm cố vấn.
Nếu ngươi có được người bạn hữu, hãy thử thách rồi hãy nhận, và đừng dễ dàng tin tưởng người đó. Vì có thứ bạn hữu chỉ thân trong lúc vận hên và không trung thành trong cơn khốn khó. Có thứ bạn hữu sau trở thành thù địch. Có thứ bạn hữu tiết lộ những chuyện oán thù, tranh chấp và ghen tương của ngươi. Có thứ bạn hữu chỉ thân lúc ở bàn ăn, gặp lúc gian truân không nhìn thấy bóng. Có thứ bạn hữu khi được thâu nhận sẽ trở thành bình đẳng với ngươi, vì tự do hành động trong những điều thuộc nội bộ nhà ngươi. Nếu ngươi bị người ta hạ nhục, hắn sẽ phản lại ngươi, và hắn sẽ xa tránh mặt ngươi. Ngươi hãy xa lánh kẻ thù và hãy đề phòng với bạn hữu.
Người bạn trung thành là chỗ dung thân vững chắc. Ai gặp được người bạn hữu như thế, là gặp được kho báu. Không có gì sánh được với người bạn trung thành, không số lượng vàng bạc nào có thể cân nặng hơn lòng trung tín tốt lành của người bạn đó. Người bạn hữu trung thành là liều thuốc trường sinh bất tử. Những ai kính sợ Chúa, sẽ gặp được người bạn đó. Ai kính sợ Chúa, người đó cũng có tình bạn tốt, vì người bạn hữu của người đó sẽ giống như người đó.
Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 118, 12. 16. 18. 27. 34. 35.
Đáp: Lạy Chúa, xin hướng dẫn con vào đường lối chỉ thị Ngài (c. 35a).
Xướng:
1) Thân lạy Chúa, Ngài muôn phúc đức, xin dạy con các thánh chỉ của Ngài. – Đáp.
2) Con lấy thánh chỉ Ngài làm hoan lạc, và lời Ngài dạy, con chẳng dám quên. – Đáp.
3) Xin mở rộng tầm con mắt của con, để quan chiêm những điều kỳ diệu trong luật Chúa. – Đáp.
4) Xin cho con am hiểu đường lối huấn lệnh của Chúa, để con suy gẫm các điều kỳ diệu của Ngài. – Đáp.
5) Xin dạy con, để con vâng theo luật pháp Ngài, và để con hết lòng tuân giữ luật đó. – Đáp.
6) Xin hướng dẫn con vào đường lối chỉ thị Ngài, vì chính trong đường lối này con sung sướng. – Đáp.
ALLELUIA: Tv 129, 5
Alleluia, alleluia! – Con hy vọng rất nhiều vào Chúa, linh hồn con trông cậy ở lời Chúa. – Alleluia.
PHÚC ÂM: Mc 10, 1-12
“Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân rẽ”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy, Chúa Giêsu đến địa hạt xứ Giuđêa và miền bên kia sông Giođan. Dân chúng lại tụ họp bên Người và Người lại dạy dỗ họ như thường lệ. Những người biệt phát đến gần và hỏi thử Người rằng: “Người ta có được phép ly dị vợ mình chăng?” Người đáp: “Môsê đã truyền cho các ông thế nào?” Họ thưa: “Môsê cho phép làm giấy ly dị và cho ly dị”. Bấy giờ Chúa Giêsu đáp lại: “Chính vì sự cứng lòng của các ông mà Môsê đã viết ra điều luật đó. Nhưng lúc khởi đầu cuộc sáng tạo, Thiên Chúa đã dựng nên một người nam và một người nữ. Bởi đó người nam sẽ lìa cha mẹ để luyến ái vợ mình, và hai người sẽ nên một huyết nhục. Vì thế, họ không còn là hai mà là một huyết nhục. Vậy sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không thể phân rẽ”.
Về đến nhà, các môn đệ lại hỏi Người về điểm đó. Và Người bảo các ông: “Ai bỏ vợ mình và lấy vợ khác, thì phạm tội ngoại tình đối với người vợ trước. Và người nữ bỏ chồng mà lấy chồng khác, thì cũng phạm tội ngoại tình”.
Đó là lời Chúa.
__________________________________
I/. BÀI SUY NIỆM (Mc 10, 1-12)
“SỰ GÌ THIÊN CHÚA ĐÃ KẾT HỢP, LOÀI NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC PHÂN RẼ”.
Đây là lệnh truyền rõ ràng, mạnh mẽ của Chúa về đời sống hôn nhân. Và cũng là câu người ta thường in trên thiệp cưới như để khẳng định và nhắc nhở cho mọi người nhớ.
“SỰ GÌ THIÊN CHÚA ĐÃ KẾT HỢP”.
Chính ngay lúc đôi hôn phối nói lên lời cam kết tự nguyện chung sống với nhau trọn đời trước vị Thừa tác viên, đại diện của Chúa chứng kiến, thì Bí tích Hôn phối đã thành sự. Đó là lúc Thiên Chúa kết hợp cho đôi hôn phối thành một.
Họ cam kết chung thủy với nhau cả trong lúc thịnh vượng và lúc gian nan, cả khi ốm đau, mạnh khỏe.
“LOÀI NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC PHÂN RẼ”.
Không một ai, không một định chế nào có quyền hủy, tách rời đôi hôn phối này. Đây là lệnh truyền cương quyết, manh mẽ và dứt khoát. Lệnh truyền cho đến muôn đời.
Tại sao con người không được quyền phân rẽ ?
Chúa Giêsu đã trả lời rất rõ ràng:
“lúc khởi đầu cuộc sáng tạo, Thiên Chúa đã dựng nên một người nam và một người nữ. Bởi đó người nam sẽ lìa cha mẹ để luyến ái vợ mình, và hai người sẽ nên một huyết nhục. Vì thế, họ không còn là hai mà là một huyết nhục” (Mc 10, 6 – 9).
“HỌ KHÔNG CÒN LÀ HAI MÀ LÀ MỘT HUYẾT NHỤC”.
Đây là lý do chính, con người không được phân rẽ sự gì Thiên Chúa đã kết hợp.
Khi Khế ước hôn nhân thành sự, thì hai người không còn là hai nữa mà là một thân thể. Vậy ai có quyền và có thể tách một người ra làm hai? Chắc chắn là không.
Ta gọi đây là LUẬT BẤT KHẢ PHÂN LY TRONG HÔN NHÂN.
Khế ước Hôn nhân có giá trị mãi mãi, và chỉ hết hiệu lực khi một trong hai người chết, lúc đó người còn lại mới được phép lấy chồng hay vợ khác.
“HỌ KHÔNG CÒN LÀ HAI MÀ LÀ MỘT HUYẾT NHỤC”.
Điều đó đã diễn tả thật sống động mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Cả Ba Ngôi là MỘT, chỉ có một Chúa duy nhất, như lời Chúa Giêsu phán:
“Nếu Ta không làm những việc của Cha Ta, thì các ngươi đừng tin Ta. Nhưng nếu Ta làm những việc đó, thì dầu các ngươi không muốn tin Ta, cũng hãy tin vào các việc đó, để các ngươi biết và tin rằng: Cha ở trong Ta, và Ta ở trong Cha”. (Ga 10, 37).
“Cha ở trong Ta, và Ta ở trong Cha”. Hai quan hệ Ở TRONG đó chỉ có thể nếu TA và CHA TA LÀ MỘT
Bí tích Hôn phối cũng diễn tả Tình yêu của Chúa Giêsu với Hội Thánh, Chúa và Hội thánh cũng là Một.
Trong câu nói của Chúa Giêsu, thánh sử Marcô đã nhấn mạnh đến cụm từ
“LÚC KHỞI ĐẦU CUỘC SÁNG TẠO”.
Có nghĩa: LUẬT BẤT KHẢ PHÂN LY đã có ngay từ lúc Thiên Chúa dựng nên con người và vũ trụ, chứ không phải chỉ bây giờ.
Có nhiều người cho rằng Đạo Công Giáo cổ hũ, khắt khe, nghiêm khắc, độc đoán nghiêm cấm không cho LY DỊ.
Với Bài Tin mừng này ta có thể khẳng định: LUẬT BẤT KHẢ PHÂN LY là lệnh truyền của Chúa ngay từ lúc ban đầu chứ không phải của Đạo Công Giáo. Giáo hội chỉ tuân giữ luật Chúa khi ngăn cấm con cái mình ly dị.
Vì ta thấy rõ ràng, Ngay từ lúc ban đầu làm gì có Đạo Công giáo, Đạo Công giáo chỉ có sau này khi các Tông đồ lãnh Sứ mệnh loan báo Tin mừng sau khi Chúa Giêsu về trời.
Như vậy Luật Bất khả phân ly, cấm ly dị, là luật Chúa chứ không phải của đạo Công giáo.
Và chính vì ““LÚC KHỞI ĐẦU CUỘC SÁNG TẠO”, nên Luật BẤT KHẢ PHÂN LY cũng áp dụng cho hết mọi người sống trong trần gian này.
Có nghĩa ngay cả người không Công giáo, tức theo các đạo khác cũng không được phép ly dị, cho dù tòa án đời có cho phép.
TRƯỜNG HỢP PHỔ BIẾN:
Cụ thể, người Công giáo không được phép kết hôn với người không Công giáo đã ly dị, vì trước mặt Chúa, hôn phối trước đây của họ vẫn có giá trị.
Có người cho rằng: Khi hai người không Công giáo lấy nhau, họ đâu có đến nhà thờ, đâu thề hứa nên họ không buộc phải giữ Luật Bất khả phân ly, có nghĩa họ có quyền ly dị theo tòa án đời và có quyền lấy chồng, vợ khác.
Như vậy Người Công giáo có thể kểt hôn với người không Công giáo đã ly dị..
Suy nghĩ như vậy thật nhầm lẫn.
Vì khi hai người đưa nhau đến nhà thờ cam kết trước mặt vị Thừa tác viên (linh mục, Phó tế), đại diện cho Chúa, thì vị Thừa tác viên này CHỈ LÀ NGƯỜI CHỨNG KIẾN THÔI CHỨ KHÔNG PHẢI LÀ NGƯỜI BAN BÍ TÍCH HÔN PHỐI.
CHÍNH ĐÔI TÂN HÔN MỚI LÀ NGƯỜI LÀM CHO BÍ TÍCH HÔN PHỐI THÀNH SỰ.
Như vậy khi hai người không Công giáo kết hôn, tuy họ không đến nhà thờ, nhưng hôn phối của họ vẫn thành sự trước mặt Chúa, ngay khi họ cam kết với nhau trước bàn thờ Phật….
Như vậy người Công giáo không được kết hôn với người không Công giáo đã ly dị. Chỉ khi nào 1 trong 2 người không Công giáo chết đi thì người Công giáo mới có thể lấy người không Công giáo còn lại.
Ta phải nhấn mạnh luật Bất khả phân ly đã có từ “LÚC KHỞI ĐẦU CUỘC SÁNG TẠO”, chứ không phải chỉ bây giờ và của Đạo Công giáo. Như vậy Luật này áp dụng cho hết mọi người và qua mọi thời.
TÌNH TRẠNG LY DỊ HIỆN NAY:
Ta có thể kết luận: LUẬT BẤT KHẢ PHÂN LY CÓ GÍA TRỊ BỀN VỮNG TRONG ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN.
Mặc dù nó bền vững như vậy, nhưng trong thực tế đã xảy ra vô số sự ly dị. Người ta đã làm một bản thống kê:
Cứ 5 đôi hôn phối thì lại xảy ra một đôi ly dị. Thật đáng báo động!
Người ta đưa ra cả trăm ngàn lý do để biện minh cho sự ly dị, nào là không hợp tuổi, không hợp tính hơp tình, xung khắc, kinh tế khó khăn, trào lưu xã hội, cám dỗ trần tục, chiến tranh gây ra sự ngăn cách,…
Tất cả chỉ là ngụy biện.
Nếu vì những lý do đó thì tại sao có vô số cặp hôn phối kia còn gặp vô vàn khó khăn nhưng họ vẫn sống với nhau cho đến hết cuộc đời.
Như vậy tất cả những lý do vừa kể trên không phải là lý do chính đáng.
Vậy đâu là lý do chính ?
Chỉ có một lý do duy nhất, đó là HỌ KHÔNG CÓ CHÚA TRONG GIA ĐÌNH.
Họ không đón Chúa vào trong nhà để Ngài gìn giữ nâng đỡ họ trong cuộc sống, và như vậy họ không thể đứng vững trước những sóng gió cuộc đời và đi đến chỗ hạnh phúc gia đình tan vỡ.
Thật là trùng hợp, hôm nay là ngày 01/3/2019, chúng ta bắt đầu bước vào THÁNG KÍNH THÁNH GIUSE.
Thánh Giuse là mẫu gương và Bổn mạng cho các Gia trưởng.
Chúng ta hãy chạy đến với Thánh Cả Giuse trong tháng này và cho đến hết cuộc đời, cầu xin ngài gìn giữ cho gia đình chúng ta.
Với một vài suy niệm ngắn ngủi trên, chúng ta cùng nhau bước vào Bài Tin mừng:
________________________________________
II/. BÀI CHIA SẺ (Mc 10, 1-12)
“KHI ẤY, CHÚA GIÊSU ĐẾN ĐỊA HẠT XỨ GIUĐÊA VÀ MIỀN BÊN KIA SÔNG GIOĐAN. DÂN CHÚNG LẠI TỤ HỌP BÊN NGƯỜI VÀ NGƯỜI LẠI DẠY DỖ HỌ NHƯ THƯỜNG LỆ”.
Như vậy, Chúa Giêsu đã đến miền Giuđêa, tức chuẩn bị vào Giêrusalem. Marcô có nhắc đến SÔNG GIOĐAN nơi Gioan Tảy giả làm phép rửa.
Như vậy Chúa Giêsu và các môn đệ đang tiến gần đến Giêrusalem, nơi đó Ngài sẽ chịu khổ nạn và kết thúc bằng một cái chết nhục nhã trên thập giá. Ngài đã tiến đến rất gần rồi. Các người Biệt phái vẫn đang dồn tất cả mọi sức lực, nguồn lực để tấn công, gài bẫy Ngài, để đưa Ngài đến cái chết.
Nhưng Chúa Giêsu rất bình thản không hề nao núng, sợ hãi vì “DÂN CHÚNG LẠI TỤ HỌP BÊN NGƯỜI VÀ NGƯỜI LẠI DẠY DỖ HỌ NHƯ THƯỜNG LỆ”.
Cụm từ “NHƯ THƯỜNG LỆ”, ám chỉ công việc hằng ngày, Chúa Giêsu thường làm, ngay cả sắp đối diện với cái chết, Ngài vẫn giảng dạy, vẫn loan báo Tin mừng như không hề có chuyện gì xảy ra.
Thái độ ung dung tự tại của Chúa Giêsu đáng cho ta suy nghĩ, việc rao giảng Tin mừng phải là ưu tiên số một, bất chấp hoàn cảnh thuận lợi hay không thuận lợi.
“NHỮNG NGƯỜI BIỆT PHÁT ĐẾN GẦN VÀ HỎI THỬ NGƯỜI RẰNG: “NGƯỜI TA CÓ ĐƯỢC PHÉP LY DỊ VỢ MÌNH CHĂNG?”
Ta lại thấy bóng dáng “NGƯỜI BIỆT PHÁT” xuất hiện, họ đã theo sát chúa Giêsu tại Galilê, thì bây giờ đến miền kinh đô Do Thái Giáo, sự xuất hiện của họ càng dày đặc hơn và tấn công dồn dập hơn.
“HỎI THỬ NGƯỜI RẰNG”:
Tại sao lại hỏi thử?
Người Biệt phái vẫn có thói quen như vậy. Trước mỗi cuộc tranh luận, họ thường HỎI THỬ Chúa Giêsu về một vấn đề gì đó mà họ đã có sẵn câu trả lời trong sách Luật.
Hỏi thử để xem Chúa Giêsu có đi ngoài Luật Môsê không.
Có tác giả còn cho rằng có lẽ người Pharisiêu nhắm mục đích:
Đẩy Chúa Giêsu vào thế xung đột với đại gia đình Hêrôđê đầy những vụ ly dị. Nhưng hợp lý hơn thì cho rằng ngưòi Pharisêu muốn gài Đức Giêsu vào thế phải nói ra quan điểm nghiêm nhặt của Người, và như thế Người trở thành đáng ghét trước mắt người ta do Ngài giới hạn “tự do” của họ.
Như ta biết: Vua Hêrôđê vừa chém đầu Gioan Tảy giả vì Gioan đã ngăn cản vua không được lấy vợ của anh mình. Sự việc đó còn đang nóng hổi, và cụm từ “LY DỊ” đang là cụm từ nhạy cảm không ai muốn nói đến để tránh khó khăn xảy đến với mình.
Người Biệt Phái muốn Chúa Giêsu nói ra quan điểm của Ngài về vấn đề LY DỊ. Chắc chắn Ngài sẽ rơi vào thế đối đầu với Hêrôđê.
“NGƯỜI TA CÓ ĐƯỢC PHÉP LY DỊ VỢ MÌNH CHĂNG?”
Đó là câu hỏi đầy ác ý. Họ đặt ra để bắt bí Đức Giêsu, một câu hỏi nhằm gài bẫy. Dù Chúa có trả lời như thế nào đi nữa, thì Người cũng phải lãnh chịu một phần công luận, vì đây là vấn đề nóng bỏng và chạm đến những gì thâm sâu nhất của con người.
Câu hỏi do người Pharisêu nêu lên đáng ngạc nhiên, vì giải đáp đã do luật đưa ra rồi. “Một người nào lấy vợ và đã cưới hỏi rồi, nếu xảy ra là vợ không được vừa mắt chồng nữa, vì chồng gặp thấy nơi nó có điều gì thô bỉ, vậy chồng đã viết cho nó lá thư, mà trao tay nó và đã thải hồi khỏi nhà mình” (Đnl 24).
Câu trả lời của luật pháp thật rõ ràng: Sự ly dị là hoàn toàn hợp luật, vào thời Đức Giêsu, cũng như thời nay (theo luật pháp). Chúng ta cũng ngạc nhiên về sự giống nhau giữa những tình huống của các Kitô hữu đầu tiên và tình huống ngày nay mà chúng ta biết: Trong hầu hết các nước trên thế giới đều có luật ly dị và tái giá.
“NGƯỜI ĐÁP: “MÔSÊ ĐÃ TRUYỀN CHO CÁC ÔNG THẾ NÀO?” HỌ THƯA: “MÔSÊ CHO PHÉP LÀM GIẤY LY DỊ VÀ CHO LY Dị”.
Sách Đệ Nhị Luật Đnl 24,1-4 viết:
“Nếu một người đàn ông đã lấy vợ và đã ăn ở với nàng rồi, mà sau đó nàng không đẹp lòng người ấy nữa, vì người ấy thấy nơi nàng có điều gì chướng, thì sẽ viết cho nàng một chứng thư ly dị, trao tận tay và đuổi ra khỏi nhà.
Ra khỏi nhà người ấy, nếu nàng đi lấy chồng khác, mà người chồng sau lại ghét bỏ nàng, viết cho nàng một chứng thư ly dị, trao tận tay và đuổi ra khỏi nhà, hoặc nếu người chồng sau đã lấy nàng làm vợ mà chết, thì người chồng đầu tiên đã đuổi nàng đi không thể lấy nàng làm vợ một lần nữa, sau khi nàng đã ra ô uế. Đó là điều ghê tởm trước nhan ĐỨC CHÚA; anh (em) không được làm cho miền đất mà ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em) làm gia nghiệp, phải mang tội”.
Như vậy, đoạn văn trên chỉ đề cập đến thủ tục phải theo khi một người chồng đã quyết định ly dị vợ mình, và lệnh cấm tái kết hôn sau khi cuộc hôn nhân thứ hai của người phụ nữ này đã chấm dứt.
Cái lý do để ly dị được diễn tả rất mơ hồ: “THẤY NƠI NÀNG CÓ ĐIỀU GÌ CHƯỚNG”. Thế nào là chướng? Và từ đó suy diễn rất tuỳ tiện.
Có cả 1001 lý do giải thích, vì người phụ nữ trước khi lấy chồng, nàng như một bông hoa mà ai cũng muốn nâng niu, nhưng khi có con và sau một thời gian chung sống, lam lũ vất vả, dung nhan trở nên tàn tạ, thì ai nhìn cũng thấy “chướng”, vì thế các ông chồng có thói xấu “ thích phở, chán cơm”. Phụ nữ Do Thái trong thời Chúa Giêsu thường bị rẻ rúng và có thể bị đẩy ra ngoài đường bất cứ lúc nào.
“GIÊSU ĐÁP LẠI: “CHÍNH VÌ SỰ CỨNG LÒNG CỦA CÁC ÔNG, MÀ MÔSÊ ĐÃ VIẾT RA ĐIỀU LUẬT ĐÓ. NHƯNG LÚC KHỞI ĐẦU CUỘC SÁNG TẠO, THIÊN CHÚA ĐÃ DỰNG NÊN MỘT NGƯỜI NAM VÀ MỘT NGƯỜI NỮ. BỞI ĐÓ NGƯỜI NAM SẼ LÌA CHA MẸ ĐỂ LUYẾN ÁI VỢ MÌNH, VÀ HAI NGƯỜI SẼ NÊN MỘT HUYẾT NHỤC. NHƯ THẾ, HỌ KHÔNG CÒN LÀ HAI MÀ LÀ MỘT HUYẾT NHỤC. VẬY SỰ GÌ THIÊN CHÚA ĐÃ KẾT HỢP, LOÀI NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC PHÂN RẼ.
“CHÍNH VÌ SỰ CỨNG LÒNG CỦA CÁC ÔNG, MÀ MÔSÊ ĐÃ VIẾT RA ĐIỀU LUẬT ĐÓ”
Chúa Giêsu coi lời dạy của Đnl 24,1-4 như là một sự nhượng bộ cho sự yếu đuối của con người và một sự miễn chuẩn cho Chương trình nguyên thủy của Thiên Chúa về hôn nhân.
NHƯNG LÚC KHỞI ĐẦU CUỘC SÁNG TẠO
Đức Giêsu cho thấy Ngài phản đối ly dị dựa vào Kinh Thánh, sách Sáng Thế: (St 1,27; 2,24). Người khẳng định rằng trong chương trình nguyên thủy của Thiên Chúa, những người kết hôn thì “HỌ KHÔNG CÒN LÀ HAI MÀ LÀ MỘT HUYẾT NHỤC”, nên không được ly dị. Đnl 24,1-14 cho phép ly dị là một cách nhượng bộ cho sự yếu đuối của con người.
Lời giáo huấn của Đức Giêsu nhằm tái lập lại chương trình của Thiên Chúa khi tạo dựng, nên không hề đối lập với Kinh Thánh.
ĐỊNH CHẾ HÔN NHÂN – LUẬT BẤT KHẢ PHÂN LY
“Từ lúc khởi đầu cuộc Sáng tạo”, có nghĩa từ khi có con người xuất hiện, Thiên Chúa đã thiết lập Định chế hôn nhân: “họ không còn là hai mà là một huyết nhục. Vậy sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân rẽ”.
Ngày nay có nhiều người nghĩ rằng, câu: “sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân rẽ”, chỉ áp dụng cho người Công giáo, Kitô hữu.
Suy nghĩ như vậy hoàn toàn sai lầm, vì Đạo Công giáo chỉ xuất hiện sau khi Chúa Giêsu về trời, các môn đệ rao giảng Tin mừng và hình thành Giáo hội.
Nhưng ở đây Chúa Giêsu nhấn mạnh: ĐỊNH CHẾ HÔN NHÂN – LUẬT BẤT KHẢ PHÂN LY đã được thiết lập từ khi có con người (lúc ấy làm gì đã có Đạo Công giáo!). Như vậy Định chế hôn nhân áp dụng cho mọi người chứ không riêng gì người Công giáo.
Trong khi Luật pháp lại cho phép cho ly dị sau khi mọi nỗ lực hoà giải đã thất bại, thì cũng giống trường hợp ông Môsê đã cho phép ly dị vì sự chai cứng của con người.
Qua phân tích này, chúng ta có thể kết luận rằng:
“TẤT CẢ NHỮNG GÌ HỢP PHÁP, KHÔNG HẲN LÀ HỢP LUÂN LÝ”.
Người Kitô hữu sống trong một thế giới đa dạng. Họ phải chủ động để sống theo lương tâm của mình, dù điều đó có thể đưa tới một thái độ anh hùng theo Tin Mừng nào đó, đi ngược lại đa số.
“BỞI ĐÓ NGƯỜI NAM SẼ LÌA CHA MẸ ĐỂ LUYẾN ÁI VỢ MÌNH, VÀ HAI NGƯỜI SẼ NÊN MỘT HUYẾT NHỤC”
“VẬY SỰ GÌ THIÊN CHÚA ĐÃ KẾT HỢP, LOÀI NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC PHÂN RẼ”.
Sau khi trưng dẫn Sách Sáng Thế, Chúa Giêsu đã đưa ra khẳng định mạnh mẽ, có tính pháp chế: Con người không có quyền phân rẽ những gì Thiên Chúa đã kết hợp.
Khi người nam và người nữ lên Bàn thờ Chúa và thề hứa với nhau trước sự chứng kiến của vị Linh mục. Chính Thiên Chúa đã tác hợp cho họ nên một. Không phải vị Linh mục tác hợp mà là chính Chúa.
Như vậy, không có quyền lực nào phân rẽ họ thành hai, cho dù đó là Luật pháp của quốc gia độc tài.
Cả Giáo quyền và thế quyền đều ra sức bảo vệ hôn nhân: MỘT VỢ – MỘT CHỒNG, vì đó là nền tảng cho cả Giáo hội lẫn xã hội.
Chỉ có cái chết mới làm cho sợi dây hôn phối đó hết hiệu lực. Ngoài lý do đó, không còn lý do nào khác có thể huỷ được mối dây hôn phối đó, vì đây là phán quyết của chính Chúa Giêsu.
Lạy Chúa, Chúa đã cho chúng con vinh quang của Chúa. Chúa đã tạo người nam và người nữ theo hình ảnh của Chúa. Oi, một giao ước mầu nhiệm thay! Lạy Chúa, là tình yêu chia sẻ, xin cho dân của Người nghị lực yêu thương.
“VỀ ĐẾN NHÀ, CÁC MÔN ĐỆ LẠI HỎI NGƯỜI VỀ ĐIỂM ĐÓ. VÀ NGƯỜI BẢO CÁC ÔNG: “AI BỎ VỢ MÌNH VÀ LẤY VỢ KHÁC, THÌ PHẠM TỘI NGOẠI TÌNH ĐỐI VỚI NGƯỜI VỢ TRƯỚC. VÀ NGƯỜI NỮ BỎ CHỒNG MÀ LẤY CHỒNG KHÁC, THÌ CŨNG PHẠM TỘI NGOẠI TÌNH”.
Đây là giáo huấn tuyệt đối của Chúa : “AI BỎ VỢ MÌNH VÀ LẤY VỢ KHÁC, THÌ PHẠM TỘI NGOẠI TÌNH ĐỐI VỚI NGƯỜI VỢ TRƯỚC”
Đối với Đức Giêsu, sự hỗ tương cần trọn vẹn: Người nam và Người nữ đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau. Có nghĩa cả người chồng và người vợ bỏ người phối ngẫu của mình mà đi lấy người khác đều pham tội ngoại tình chứ không riêng gì người đàn ông hay đàn bà.
Thánh sử Luca còn thêm chi tiết này. Luca viết: “Bất cứ ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình; và ai cưới người đàn bà bị chồng rẫy, thì cũng phạm tội ngoại tình” (Lc 16, 18).
Có nghĩa bất cứ ai lấy người đàn bà hay người đàn ông đã bị chồng bỏ, vợ bỏ cũng phạm tội ngoại tình luôn.
Có nghĩa một khi đã bước vào đời sống hôn nhân, sợi dây hôn phối đó sẽ ràng buộc cả hai người cho đến lúc chết. Chỉ có cái chết mới làm cho sợi dây hôn phối đó chấm dứt và người còn sống được tự do mà không bị ràng buộc.
Trong thế giới mà các tương quan thống trị đang thắng thế như hiện nay, Đức Giêsu yêu cầu chúng ta phải biết yêu thương người phối ngẫu. Và Người cho chúng ta “sức mạnh” để yêu thương như thế, dù có gặp khó khăn.
Sự hiệp nhất đời sống lứa đôi là do Chúa muốn, không phải chỉ từ “lúc đầu”, không phải “một thiên đường đã mất” trong quá khứ. Đây là đường đi hằng ngày mà nơi đó “Thiên đàng đã tìm lại” đang xây dựng, nơi cuối cùng chúng ta sẽ trở nên hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi, tuy là “Ba” nhưng là “Một”.
Amen.
_____________________________
Giuse Nguyễn Viết Tâm.

