LỄ THÁNH PHAOLÔ TÔNG ĐỒ TRỞ LẠI – Lễ kính.
BÀI ĐỌC I: Cv 22, 3-16
“Kêu danh thánh Chúa, tôi chỗi dậy”.
Trích sách Tông đồ Công vụ.
Ngày ấy, Phaolô nói với dân chúng: “Tôi là người Do-thái, sinh tại Tarsê xứ Cilicia, đã được nuôi nấng trong thành này, đã được đào tạo theo chân lý lề luật cha ông dưới chân ông Gamaliêl. Tôi nhiệt thành với lề luật cũng như hết thảy quý vị hôm nay. Tôi đã bắt bớ giết chóc đạo này, xiềng xích và bỏ tù cả đàn ông lẫn đàn bà. Như thầy thượng tế và toàn thể hội đồng kỳ lão đã làm chứng điều đó. Các ngài đã trao cho tôi chứng minh thư để tôi đến kiếm anh em ở Đamas, bắt trói họ và điệu về Giêrusalem để trừng phạt.
Xảy đến lúc đó khoảng trưa, tôi đang trên đường gần đến Đa-mas, thình lình một luồng ánh sáng chan hoà từ trời chói rạng quanh tôi. Tôi ngã xuống đất và nghe tiếng phán bảo tôi: “Saolô, Saolô, sao ngươi bắt bớ Ta?” Tôi đáp: “Thưa Ngài, Ngài là ai?” Người trả lời: “Ta là Giêsu Nadarét mà ngươi đang bắt bớ”. Và những người cùng ở đó với tôi lúc ấy, cũng thấy ánh sáng, nhưng không nghe tiếng Đấng nói với tôi. Tôi hỏi: “Lạy Chúa, con phải làm gì?” Chúa liền nói với tôi: “Hãy chỗi dậy, vào thành Đamas, ở đó sẽ nói cho ngươi tất cả những gì ngươi phải làm”. Nhưng vì ánh sáng chói loà kia, tôi không còn thấy được, nên các bạn tôi cầm tay dẫn tôi vào thành Đamas. Có một người kia tên là Anania, người đạo đức, sống theo Lề luật, và được mọi người Do-thái ở đó kính phục, đến tìm tôi và đứng gần tôi mà nói: “Hỡi anh Saolô, anh hãy nhìn!” Ngay lúc đó tôi nhìn thấy ông.
Và ông nói: “Thiên Chúa cha ông chúng ta đã tiền định cho anh biết thánh ý Người, thấy Đấng Công Chính và nghe tiếng Người nói. Vậy anh phải làm chứng cho Người trước mặt mọi người về điều anh đã thấy và đã nghe. Và bây giờ, anh còn chần chừ gì nữa? Hãy chỗi dậy và cầu khẩn danh Người mà chịu thanh tẩy và gột rửa mình cho sạch tội lỗi”.
Đó là lời Chúa.
Hoặc: Cv 9, 1-22
“Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?”
Trích sách Tông đồ Công vụ.
Trong những ngày ấy, Saolô còn mải say mê hăm doạ giết các môn đồ Chúa. Ông đến thượng tế, xin chứng minh thư gởi đến hội đường ở Đamas, để nếu gặp ai theo đạo ấy, bất luận nam nữ, ông bắt trói đem về Giêrusalem.
Đang khi đi đường, lúc đến gần Đamas, bỗng nhiên một luồng ánh sáng từ trời chiếu xuống bao phủ lấy ông, ông ngã xuống đất và nghe tiếng phán rằng: “Saolô, Saolô, sao ngươi bắt bớ Ta?” Ông thưa: “Lạy Ngài, Ngài là ai?” Chúa đáp: “Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt bớ; giơ chân đạp mũi nhọn thì khổ cho ngươi”. Saolô run sợ và kinh hoàng hỏi rằng: “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?” Chúa phán: “Hãy chỗi dậy, vào thành, và ở đó người ta sẽ nói cho ngươi phải làm gì”. Những kẻ đồng hành với ông đứng lại, hoảng hốt; họ nghe rõ tiếng mà không thấy ai. Saolô chỗi dậy khỏi đất, mắt ông vẫn mở mà không trông thấy gì. Người ta cầm tay dẫn ông vào thành Đamas; ông ở lại đấy ba ngày mà không thấy, không ăn, cũng không uống.
Bấy giờ ở Đamas, có một môn đồ tên là Anania; trong một thị kiến, Chúa gọi ông rằng: “Anania”. Ông thưa: “Lạy Chúa, này con đây”. Chúa phán: “Hãy chỗi dậy và đến phố kia gọi là phố “Thẳng”, và tìm tại nhà Giuđa một người tên Saolô, quê ở Tarsê; nó đang cầu nguyện”. (Saolô cũng thấy một người tên Anania bước vào, và đặt tay trên ông để ông được sáng mắt). Anania thưa: “Lạy Chúa, con đã nghe nhiều người nói về người này rằng: ông đã gây nhiều tai ác cho các thánh của Chúa tại Giêrusalem; tại đây, ông đã được các thượng tế cho phép bắt trói tất cả những ai kêu cầu danh Chúa”. Nhưng Chúa phán: “Cứ đi, vì người này là lợi khí Ta đã chọn, để mang danh Ta đến trước dân ngoại, vua quan và con cái Israel. Ta sẽ tỏ cho nó biết phải chịu nhiều đau khổ vì danh Ta”.
Anania ra đi, bước vào nhà, và đặt tay trên Saolô mà nói: “Anh Saolô, Chúa Giêsu, Đấng hiện ra với anh trên đường đi đến đây, sai tôi đến cùng anh, để anh được thấy và được tràn đầy Thánh Thần. Tức thì có thứ gì như những cái vảy rơi khỏi mắt ông, và ông được sáng mắt.
Ông chỗi dậy chịu phép rửa, và sau khi ăn uống, ông được lại sức, ông ở lại ít ngày cùng với các môn đồ thành Đamas. Và lập tức ông rao giảng trong các hội đường rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Mọi người nghe rao giảng đều kinh ngạc và nói rằng: “Há chẳng phải ông này đã bách hại những người đã cầu khẩn danh ấy tại Giêrusalem, và cũng đã tới đây mà truy nã họ để điệu họ về cho các thượng tế sao?”
Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 116, 1. 2
Đáp: Hãy đi rao giảng Tin Mừng khắp thế gian (Mc 16, 15).
Xướng: 1) Toàn thể chư dân, hãy ngợi khen Chúa! Hết thảy các nước, hãy chúc tụng Người! – Đáp.
2) Vì tình thương Chúa dành cho chúng ta thực là mãnh liệt. và lòng trung thành của Chúa tồn tại muôn đời. – Đáp.
ALLELUIA: Ga 15, 16
Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Ta đã chọn các con giữa thế gian, hầu để các con đi và mang lại hoa trái, để hoa trái các con tồn tại”. – Alleluia.
PHÚC ÂM: Mc 16, 15-18
“Các con hãy đi rao giảng Tin Mừng khắp thế gian”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy, Chúa Giêsu (hiện ra với mười một môn đệ và) nói: “Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng cho mọi tạo vật. Ai tin và chịu phép rửa, thì sẽ được cứu độ; ai không tin, sẽ bị luận phạt. Và đây là những dấu lạ đi theo những người đã tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ quỷ, nói các thứ tiếng lạ, cầm rắn trong tay, và nếu uống phải chất độc thì cũng không bị hại; họ đặt tay trên những người bệnh, và bệnh nhân được lành mạnh”.
Đó là lời Chúa.
_______________________________
I/. BÀI SUY NIỆM:
SAO LÔ – PHAOLÔ: CÚ NGÃ NGỰA ĐỊNH MỆNH.
Saolô và Phaolô là 2 tên gọi của cùng một người. Nhưng chính biến cố ngã ngựa định mệnh đã tách con người đó ra làm 2 tương phản nhau:
Trước ngã ngựa là SAOLÔ, một kẻ hăng say bách hại Đạo Chúa, lùng bắt các Kitô hữu trong các hang cùng ngõ hẻm. Và ông đã bị té ngựa, bị mù trên đường đi Damas bách hại các Kitô hữu.
Sau ngã ngựa là PHAOLÔ, một người nhiệt tình không biết mệt mỏi loan báo Tin mừng, giới thiệu Chúa Kitô cho mọi người, nhất là vùng dân ngoại và Phaolô mới có danh hiệu: TÔNG ĐỒ DÂN NGOẠI.
Như vậy chính biến cố ngã ngựa định mệnh này đã phân chia con người ra làm hai đi theo 2 hướng ngược nhau.
Độc giả có thể thắc mắc:
Cuộc đời Thánh Phaolô có nhiều hình ảnh đẹp.
Chẳng hạn khi ngài xuất thần được đưa lên tầng trời thứ ba; hoặc khi ngài ứng khẩu rao giảng Tin Mừng nơi Nghị viện Hy-lạp; thậm chí khi Ngài lênh đênh trên biển đi tìm vùng đất mới đem về cho Chúa bao nhiêu linh hồn; và còn rất nhiều hình ảnh đẹp khác nữa.
Nhưng tại sao Giáo Hội không chọn trong số những hình ảnh đẹp ấy, mà lại lấy HÌNH ẢNH NGÃ NGỰA để mừng kính trong một ngày lễ?
Thưa vì đó là một biến cố quan trọng phân chia cuộc đời Phaolô ra làm hai nửa, theo hai hướng đối nghịch nhau, nhưng cùng làm nên một cuộc đời có tội lỗi và ân sủng, có yếu đuối và sức mạnh, đồng thời cũng có thất bại và thành công.
CÚ NGÃ NGỰA CŨNG LÀ NGÃ RẼ CUỘC ĐỜI.
Có rất nhiều cuộc trở lại trong lịch sử Giáo hội được tường thuật như của Phêrô, Mattheu, Maria Madalena, Augustine… , cũng như không được tường thuật như của đa số người khác;
Nhưng chỉ có một cuộc trở lại được Giáo Hội mừng kính, đó là cuộc trở lại của thánh Phaolô.
Cuộc trở lại của Phaolô được tường thuật ít nhất là 3 lần trong Sách Công vụ Tông đồ CVTĐ (9:1-19; 22:3-16; 26:12-18), và rất nhiều lần được ám chỉ tới cách vắn gọn bởi chính Phaolô trong các Thư của ngài.
VỀ DANH XƯNG:
Nửa đời trước Phaolô là Saolô với một câu hỏi “tại sao?” đang cưỡi ngựa vút lao đi tìm giải đáp cho cuộc đời; còn nửa đời sau là “Phaolô” đã trở thành chiếc phao cứu tử cho cả lô linh hồn ngài gặp trên đường truyền giáo.
VỀ VỊ THẾ:
Nửa đời trước là một người Biệt phái chính cống, được giáo dục đường hoàng bởi ông thầy trứ danh Gamaliel, nhiệt thành với truyền thống cha ông; còn nửa đời sau là một vị Tông đồ thông minh uyên bác, vô cùng nhiệt thành với tình yêu Thiên Chúa, như ngài thú nhận “tình yêu Chúa Kitô thúc bách chúng tôi”
VỀ HOẠT ĐỘNG:
Nửa đời trước là một chàng thanh niên tin tưởng cuồng nhiệt vào luật lệ Do Thái, tự tay vấy máu trong những cuộc bách hại Kitô hữu, cụ thể là cộng tác vào việc ném đá Stêphanô và tự ý đến xin các Thượng tế cấp giấy phép cho mình được quyền bắt bớ bất cứ ai tin vào Chúa Kitô nơi Hội đường Do Thái;
Thế mà nửa đời sau lại trở thành một người hăng say can đảm tuyên xưng niềm tin của mình vào Chúa Kitô mà ông đã bách hại trước đó, bất kể ánh nhìn e dè nghi ngại của các Kitô hữu và bất kể sự nguy hại tính mạng do những người Biệt phái cũ của ông.
BIẾN CỐ NGÃ NGỰA TRONG ĐỜI TA:
Nhìn vào biến cố “ngã ngựa” của Thánh Phaolô để rồi nhìn lại cuộc đời mình, biết đâu ta cũng gặp nhan nhản những cú “ngã ngựa” như vậy.
Có những cú ngã ngựa trong đời sống thiêng liêng liên hệ với Chúa; có những cú “ngã ngựa” trong đời sống tình cảm liên hệ với tha nhân; có những cú ngã ngựa trong đời sống chiến đấu nội tâm; và có những cú ngã ngựa trong đời sống như: công ăn việc làm, học hành, danh dự, tình yêu, tương lai, hạnh phúc, sức khỏe…
Nhưng điều quan trọng là đừng nhìn “ngã ngựa” như một thất bại để rồi cuốn theo thất vọng quỵ ngã không gượng dậy được.
Hãy nhìn “ngã ngựa” như một thất bại cho một thành công lớn hơn trong ơn thánh.
Ăn trái cấm là một thất bại của Ađam Evà trong quyền làm chủ, nhưng lại là một điều kiện bật mở chương trình cứu độ với việc Ngôi Hai Thiên Chúa làm người. “Tội hồng phúc” là thế.
Cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá là một thất bại đau đớn trước mặt trần thế, lại là một thành công trong chiến thắng cứu độ vinh quang.
Và cú “ngã ngựa” của Thánh Phaolô hôm nay là một thất bại chấm dứt cuộc đời săn bắt Kitô hữu, nhưng lại là một thành công mở đầu cuộc sống lên đường truyền giáo của vị tông đồ.
Như vậy người ngã ngựa không chỉ nhìn vào mình để cay cú, để than trời trách đất, mà là nhìn vào Chúa để tìm sức mạnh đứng lên trong ánh sánh niềm tin.
Nếu “ngã ngựa” là điều không thể tránh được, thì điều quan trọng là luôn sẵn sàng để biết đứng dậy.
Không phải khi ngã, người ta trở nên mạnh mẽ mà là khi biết đứng dậy người ta mới chứng minh được bản lĩnh mạnh mẽ của mình.
TRONG BÀI ĐỌC I Trích sách Tông đồ Công vụ, có thể coi là lời tự thú đầy đủ nhất của Phaolô.
Trong trình thuật này, một người có thể nhìn thấy động cơ chính của cuộc trở lại là do ơn thánh của Thiên Chúa. Phaolô thay đổi hoàn toàn lề lối suy nghĩ và cách cư xử của ông bằng cách Chúa để ông ngã ngựa và bị mù, cho ông nghe thấy tiếng của Đức Kitô để chứng tỏ Ngài vẫn sống, và truyền cho ông đến gặp ông Hananiah để được chữa lành và nhận sứ vụ rao giảng Tin Mừng và làm chứng nhân cho Dân Ngoại.
TRONG BÀI TIN MỪNG theo thánh Marcô, tuy Phaolô không được liệt vào Nhóm Mười Hai, nhưng thánh nhân cũng được coi như một Tông-đồ, vì ông đã nhìn thấy Chúa Giêsu Phục Sinh và được chính Ngài trao cho sứ vụ làm Tông-đồ Dân Ngoại.
_______________________
II/. BÀI CHIA SẺ: (Mc 16, 15-18):
“KHI ẤY, CHÚA GIÊSU (HIỆN RA VỚI MƯỜI MỘT MÔN ĐỆ VÀ) NÓI: “CÁC CON HÃY ĐI KHẮP THẾ GIAN, RAO GIẢNG TIN MỪNG CHO MỌI TẠO VẬT. AI TIN VÀ CHỊU PHÉP RỬA, THÌ SẼ ĐƯỢC CỨU ĐỘ; AI KHÔNG TIN, SẼ BỊ LUẬN PHẠT”.
“CÁC CON HÃY ĐI KHẮP THẾ GIAN, RAO GIẢNG TIN MỪNG CHO MỌI TẠO VẬT”
Đó là câu trả lời của Chúa Giêsu trước câu hỏi của Phaolô sau khi bị ngã ngựa mà trong Bài đọc I (Cv 9, 1-22) đã mô tả:
“”LẠY CHÚA ! CHÚA MUỐN CON LÀM GÌ ?
Chỉ có điều câu hỏi của Phaolô được nói ra sau khi Chúa Giêsu đã về trời, còn câu nói của Chúa đã xãy ra trước đó khá lâu.
Có lẽ ngày nay mỗi Kitô hữu trong cuộc đời cũng hãy tự hỏi như Phaolô:
“LẠY CHÚA ! CHÚA MUỐN CON LÀM GÌ ?
“RAO GIẢNG TIN MỪNG CHO MỌI TẠO VẬT”:
Nghĩa là loan báo Tin mừng cho mọi dân mọi nước (x. Mt 28,19), Chúa sẽ biến đổi mọi tạo vật nên Trời Mới Đất Mới vào ngày tận thế (x. Kh 21,1).
Có lẽ độc giả sẽ thắc mắc cụm từ: “MỌI TẠO VẬT” được dùng ở đây.
“Mọi tạo vật”,
ám chỉ mọi loài thụ tạo được Thiên Chúa dựng nên, trong đó có con người, chóp đỉnh của Công trình sáng tạo, tiếp đến là những vật vô tri vô giác như cây cối, sông núi, các con vật,… vì không có gì đang hiện hữu mà không do Thiên Chúa tạo thành.
Độc giả sẽ đặt câu hỏi:
Vậy con chó, con mèo, con gà, con vịt, cây cối,…. chúng biết gì mà phải loan báo Tin mừng cho nó?
Liệu chúng có thể hiểu được những gì ta nói với chúng không? Chắc chắn là không và Chúa Giêsu cũng không nói ta phải làm như thế.
Để hiểu được Lời Chúa Giêsu nói, chúng ta phải trở về khởi thuỷ của vũ trụ:
Khi ấy Thiên Chúa dựng nên vạn vật và con người, mọi vật được Thiên Chúa dựng nên đều tốt đẹp và sống với mối dây thân tình với Thiên Chúa trong vườn địa đàng. Thiên Chúa đã giao cho con người quyền cai quản vạn vật vũ trụ
Nhưng khi Ông bà Nguyên tổ phạm tội, đã cắt đứt nguồn ân sủng của Thiên Chúa, mọi tạo vật không còn ngoan ngoãn phục vụ con người nữa. Công trình Sáng tạo đã bị sụp đổ.
Như vậy, có một mối giây liên kết mật thiết giữa con người và vạn vật. Khi con người ra hư đốn thì kéo theo mọi thụ tạo cũng hư đốn.
Chúa Giêsu lệnh truyền cho các môn đệ: “rao giảng Tin Mừng cho mọi tạo vật”, có nghĩa loan báo Tin mừng cho con người thôi, chứ không phải loan báo Tin mừng cho các vật vô tri vô giác.
Một khi con người được thánh hoá và cứu chuộc, thì cũng với mối giây liên kết đó mà mọi loài thụ tạo cũng được cứu chuộc và được kéo lên cùng với con người.
Như vậy, Một trời mới, đất mới được hình thành và thế là có cuộc sáng tạo mới.
AI TIN VÀ CHỊU PHÉP RỬA, THÌ SẼ ĐƯỢC CỨU ĐỘ; AI KHÔNG TIN, SẼ BỊ LUẬN PHẠT
AI TIN VÀ CHỊU PHÉP RỬA, THÌ SẼ ĐƯỢC CỨU ĐỘ:
Tin là mở lòng đón nhận Đức Giê-su là Đấng Cứu Thế Con Thiên Chúa. Chịu phép rửa là nhận ơn tha tội và ơn tái sinh để nên người mới, dưỡng tử của Thiên Chúa. Nhờ đó họ sẽ được sống đời đời.
Như lời Chúa Giêsu đã khẳng định với ông Nicôđêmô:
“Thật, tôi bảo thật ông: không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí. Cái bởi xác thịt sinh ra là xác thịt; cái bởi Thần Khí sinh ra là thần khí. Ông đừng ngạc nhiên vì tôi đã nói: các ông cần phải được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên” (Ga 3. 5 – 7).
“sinh ra bởi nước và Thần Khí”, đó chính là Phép Rửa mà Chúa đang nói đến, hay còn gọi là BÍ TÍCH RỬA TỘI.
AI KHÔNG TIN, SẼ BỊ LUẬN PHẠT:
Thực ra, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian không phải để lên án, nhưng để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ (Ga 3,17). Nhưng kẻ không tin thì đã bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh Con Một Thiên Chúa. Họ giống như cành nho bị tách lìa khỏi thân cây là Đức Giê-su, nên sẽ bị khô héo và bị quăng vào lửa hỏa ngục đời đời (Ga 15,5-6).
VẤN ĐỀ ĐẶT RA:
Còn những người không tin Đức Giê-su nhưng không do lỗi của họ, như chưa bao giờ được nghe nói đến, thì có được cứu độ không?:
Những ai tuy không biết Đức Ki-tô, nhưng theo lương tâm ăn ở ngay lành, thì Chúa sẽ lo liệu cho họ có đủ phương tiện cần thiết để được rỗi linh hồn.
Chỉ những kẻ cố tình làm tay sai cho ma quỷ, làm điều gian ác và không chịu hồi tâm sám hối thì chắc chắn sẽ phải xuống hỏa ngục. Vì hỏa ngục được lập ra “dành cho ma quỷ và những kẻ đi theo chúng”.
“VÀ ĐÂY LÀ NHỮNG PHÉP LẠ ĐI THEO NHỮNG NGƯỜI ĐÃ TIN: NHÂN DANH THÀY, HỌ SẼ TRỪ QUỶ, NÓI CÁC THỨ TIẾNG MỚI LẠ, CẦM RẮN TRONG TAY, VÀ NẾU UỐNG PHẢI CHẤT ĐỘC, THÌ KHÔNG BỊ HẠI; HỌ ĐẶT TAY TRÊN NHỮNG NGƯỜI BỆNH, VÀ BỆNH NHÂN SẼ ĐƯỢC LÀNH MẠNH”.
NHÂN DANH THẦY:
Chúa Giêsu đã ban cho các môn đệ quyền năng để yểm trợ lời các ông rao giảng, họ sẽ làm được những việc mà Chúa Giêsu đã làm. Nhưng vấn đề ở đây quyền năng đó phải được phát xuất từ chính Đức Giêsu chứ không không do bản thân các ông, vì các ông cũng chỉ là những con người bình thường.
Như vậy, khi đặt tay chữa lành cho các người bệnh, các môn đệ phải làm điều đó vì Danh Chúa Giêsu, có nghĩa chính Chúa Giêsu làm qua tay các ông và để cho Danh Chúa Giêsu được cả sáng hầu cho mọi người tin theo.
Khi viết Tin Mừng (khoảng năm 65), thánh Mác-cô đã nghe biết các phép lạ do các Tông Đồ thực hiện nhân danh Chúa Giêsu.
Chẳng hạn: vào lễ Ngũ Tuần, các ông đã được đầy ơn Thánh Thần, bắt đầu nói các thứ tiếng khác lạ (x. Cv 2,4). Thánh Thần cũng ngự xuống trên gia đình Co-nê-li-ô và cho họ nói các thứ tiếng lạ (x. Cv 10,44-46). Nhiều dấu lạ điềm thiêng được thực hiện trong dân nhờ bàn tay các Tông Đồ (x. Cv 5,12). Tông Đồ Phê-rô đặt tay trên bệnh nhân hoặc chỉ cần bóng của ông phớt qua đã đủ để họ được lành bệnh, và thần ô uế cũng phải xuất ra (x. Cv 5,15-16)
Còn Tông Đồ Phao-lô thì chữa lành một người bị bại chân tại Ly-tra (x. Cv 14,8-10) ; Tại đảo Man-ta, Phao-lô đã bị rắn độc bám vào tay cắn mà không hề hấn gì (x. Cv 28,1-6); Ông cũng đã cầu nguyện và đặt tay chữa lành nhiều bệnh nhân (x. Cv 28,8-9); Ngay cả chiếc áo ông mặc qua cũng có năng lực làm cho cơn bệnh biến đi và tà thần phải xuất ra (x. Cv 19,11; 20,9-12).
Lạy Chúa ! Chúa thường làm con ngạc nhiên ngỡ ngàng. Mỗi trang Tin Mừng đều đưa con đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Người ta đánh mất sự ngạc nhiên khi quen coi thường những điều nghiêm chỉnh.
Thực sự con cảm thấy ngỡ ngàng và thật bất ngờ khi được Chúa sai đi làm sứ giả Tin Mừng cho Chúa, để con loan báo Tin mừng trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời đại hôm nay. Tin mừng phải được loan báo ngay trong chính một xã hội đầy giả dối, xảo trá, thủ đoạn và bạo lực.
Cũng như thánh Phaolô. Không ai ngờ thánh Phaolô, kẻ bách hại đạo Chúa, lại trở nên vị tông đồ thừa sai số một của Hội Thánh. Lạy Chúa, chính ơn Chúa đã làm cho ngài hoán cải và hiến thân trọn vẹn cho Chúa.
Phần con, con cũng không ngờ, con chỉ biết cảm tạ tình thương Chúa dành cho con. Xin Chúa giúp con dám lãnh trách nhiệm. Xin giúp con không ngừng hoán cải mỗi ngày để con có thể theo Chúa sát hơn và hiến thân nhiều hơn. Con đặt trọn niềm tin tưởng vào ơn thánh Chúa.
Amen.
_________________________
Giuse Nguyễn Viết Tâm.

