“TỘI BÀ RẤT NHIỀU MÀ ĐÃ ĐƯỢC THA RỒI, VÌ BÀ ĐÃ YÊU MẾN NHIỀU”.
BÀI ĐỌC I: 1 Cr 15, 1-11
“Chúa hiện ra với Giacôbê, rồi với tất cả các Tông đồ”.
Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.
Anh em thân mến, tôi xin nhắc lại cho anh em Tin Mừng mà tôi đã rao giảng cho anh em, và anh em đã lãnh nhận và đang tin theo, nhờ đó anh em được cứu độ, nếu anh em tuân giữ lời lẽ tôi đã rao giảng cho anh em, bằng không, anh em đã tin cách vô ích. Tôi đã rao truyền cho anh em trước tiên điều mà chính tôi đã nhận lãnh: đó là Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng theo như lời Thánh Kinh. Người được mai táng và ngày thứ ba Người đã sống lại đúng theo như lời Thánh Kinh. Người đã hiện ra với ông Kêpha, rồi với mười một vị. Sau đó, Người đã hiện ra với hơn năm trăm anh em trong một lúc; nhiều người trong số anh em đó hãy còn sống tới nay, nhưng có vài người đã chết. Thế rồi Người hiện ra với Giacôbê, rồi với tất cả các Tông đồ. Sau cùng, Người cũng hiện ra với chính tôi như đứa con sinh non.
Tôi vốn là kẻ hèn mọn nhất trong các tông đồ, và không xứng đáng được gọi là tông đồ, vì tôi đã bắt bớ Hội thánh của Thiên Chúa. Nhưng nay tôi là người thế nào là nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn của Người không vô ích nơi tôi, nhưng tôi đã chịu khó nhọc nhiều hơn tất cả các đấng: song không phải tôi, mà là ơn của Thiên Chúa ở với tôi. Dù tôi, dù là các đấng, chúng tôi đều rao giảng như thế cả, và anh em cũng đã tin như vậy.
Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 117, 1-2. 16ab-17. 28
Đáp: Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm (c. 1a).
Xướng:
1) Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở. Hỡi nhà Israel, hãy xướng lên: “Đức từ bi của Người muôn thuở”. – Đáp.
2) Tay hữu Chúa đã hành động mãnh liệt, tay hữu Chúa đã cất nhắc tôi lên. Tôi không chết, nhưng tôi sẽ sống và tôi sẽ loan truyền công cuộc của Chúa. – Đáp.
3) Chúa là Thiên Chúa của con và con cảm tạ Chúa, lạy Chúa con, con hoan hô chúc tụng Ngài. – Đáp.
ALLELUIA: Tv 118, 135
Alleluia, alleluia! – Xin tỏ cho tôi tớ Chúa thấy long nhan hiền hậu, và dạy bảo con những thánh chỉ của Chúa. – Alleluia.
PHÚC ÂM: Lc 7, 36-50
“Tội bà rất nhiều mà đã được tha rồi, vì bà đã yêu mến nhiều”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, có một người biệt phái kia mời Chúa Giêsu đến dùng bữa với mình; Người vào nhà người biệt phái và vào bàn ăn. Chợt có một người đàn bà tội lỗi trong thành, nghe biết Người đang dùng bữa trong nhà người biệt phái, liền mang đến một bình bạch ngọc đựng thuốc thơm. Bấy giờ bà đứng phía chân Người, khóc nức nở, nước mắt ướt đẫm chân Người, bà lấy tóc lau, rồi hôn chân và xức thuốc thơm. Thấy thế, người biệt phái đã mời Người, tự nghĩ rằng: “Nếu ông này là tiên tri thì phải biết người đàn bà đang động đến mình là ai, và thuộc hạng người nào chứ: là một đứa tội lỗi (mà)!” Nhưng Chúa Giêsu lên tiếng bảo ông rằng: “Hỡi Simon, Tôi có điều muốn nói với ông”. Simon thưa: “Xin Thầy cứ nói”.
– “Một người chủ nợ có hai con nợ, một người nợ năm trăm đồng, người kia nợ năm mươi. Vì cả hai không có gì trả, nên chủ nợ tha cho cả hai. Vậy trong hai người đó, người nào sẽ yêu chủ nợ nhiều hơn?” Simon đáp: “Tôi nghĩ là kẻ đã được tha nhiều hơn”. Chúa Giêsu bảo ông: “Ông đã xét đoán đúng”.
Và quay lại phía người đàn bà, Người bảo Simon: “Ông thấy người đàn bà này chứ? Tôi đã vào nhà ông, ông đã không đổ nước rửa chân Tôi, còn bà này đã lấy nước mắt rửa chân Tôi, rồi lấy tóc mình mà lau. Ông đã không hôn chào Tôi, còn bà này từ lúc vào không ngớt hôn chân Tôi. Ông đã không xức dầu trên đầu Tôi, còn bà này đã lấy thuốc thơm xức chân Tôi. Vì vậy, Tôi bảo ông, tội bà rất nhiều mà đã được tha rồi, vì bà đã yêu mến nhiều. Kẻ được tha ít, thì yêu mến ít”.
Rồi Người bảo người đàn bà: “Tội con đã được tha rồi”. Những người đồng bàn liền nghĩ trong lòng rằng: “Ông này là ai mà lại tha tội được?” Và Người nói với người đàn bà: “Đức tin con đã cứu con, con hãy về bình an”.
Đó là lời Chúa.
_____________________________________________
I/. VÀI NÉT VỀ THÁNH RÔBERTÔ BELLARMINÔ, Gmtsht (Giám mục Tiến sĩ Hội thánh), 17/9 – (1542-1621)
Thánh Rôbertô Bellarminô sinh năm 1542 tại Montepulciano, miền Bắc nước Ý, trong một gia đình nghèo nhưng đạo hạnh. Từ nhỏ, ngài đã được học với các cha Dòng Tên, nên ngài đã biết và yêu mến Dòng từ sớm. Sau đó, ngài phải trải qua nhiều thử thách của gia đình mới được vào Dòng. Những năm tháng ngài sống trong Dòng với đầy tràn niềm vui. Nhưng sau này, vì vâng phục Đức Thánh Cha, ngài làm hồng y và lo những công việc của giáo triều Rôma. Ngài lúc nào cũng mang một tình yêu sâu đậm và nỗi nhớ khôn nguôi đối với Dòng Tên mà ngài coi như người mẹ hiền.
Dáng người thấp bé, nhưng ngài rất thông minh, nhanh nhẹn và hài hước. Ngài học giỏi, giảng hay, lại hiền hòa và bao dung, nên ở đâu ngài cũng được thương mến, làm gì ngài cũng thành công. Trong thời gian làm linh mục, ngài làm việc lâu nhất tại Học viện Rôma của Dòng Tên, từ giáo sư thần học đến linh hướng, rồi Viện trưởng.
Năm 52 tuổi, ngài làm Giám tỉnh của Dòng Tên ở Napoli, miền Nam nước Ý. Dù ở cương vị nào, ngài cũng nhiệt tình và vui vẻ phục vụ. Năm 57 tuổi, sau 39 năm trong Dòng mà ngài thấy “không biết buồn là gì”, ngài được Đức Thánh Cha nâng lên hàng hồng y để phục vụ trong giáo triều Rôma cho tới chết, thời gian mà ngài cảm thấy “không biết vui là gì.”
Chúng ta biết là trong Dòng Tên, ngoài ba lời khấn như mọi dòng khác là khiết tịnh, thanh bần và tuân phục, còn có lời khấn thứ tư là tuân phục Đức Thánh Cha khi được trao một sứ mạng nhằm phục vụ Hội Thánh. Đồng thời trong Dòng cũng khấn không nhận các phẩm chức như giám mục hay hồng y, trừ khi Đức Thánh Cha buộc phải vâng lời.
Theo giáo luật, người thuộc một dòng tu khi làm giám mục hay hồng y sẽ trực thuộc Đức Giáo Hoàng, không còn thuộc quyền bề trên nhà dòng nữa. Điều này, cũng có nghĩa là về tinh thần thì còn thuộc nhà dòng, nhưng trong thực tế không chung sống với anh em nữa. Thánh Bellarminô rơi đúng vào trường hợp này. Khi nhận mũ áo hồng y, ngài khóc nức nở và chỉ xin được trở lại sống với anh em trong Dòng.
Ngoài một thời gian làm Tổng Giám mục tại Capua, hầu hết những năm tháng còn lại, trong khi làm hồng y, ngài phục vụ trong các thánh bộ của giáo triều. Ngài phải nghiên cứu và cho ý kiến về những vấn đề lớn trong đời sống Hội Thánh vào một giai đoạn khó khăn và phức tạp, thí dụ quyền của Đức Thánh Cha trong lãnh vực chính trị, vụ án Galileo thời danh, tín điều Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội, vấn đề giáo hội quốc gia tự trị. Đem hết tài năng và nghị lực để phục vụ Hội Thánh, với lòng tận tụy và khiêm tốn, với đời sống đơn sơ và khắc khổ, ngài được coi là ngọn đèn sáng cho giới trí thức, là tấm gương cho những người sống đời tận hiến.
Luôn ăn mặc và xử sự như một linh mục bình thường, khổ tâm trong dinh thự hồng y với những lễ nghi phiền phức, ngài chỉ thực sự thoải mái với bầu khí đơn sơ và ấm cúng trong Dòng.
Những ngày cuối đời, được Đức Thánh Cha cho phép trở về nhà Dòng, ngài đã chọn sống trong nhà tập với các tập sinh là những người nhỏ nhất trong Dòng. Ngài từ chối mọi ưu đãi dành cho người lớn tuổi và có phẩm chức.
Ngài qua đời tại Rôma ngày 17.9.1621. Theo di chúc, ngài xin được chôn cất trong lễ phục của linh mục, và tổ chức lễ an táng đơn sơ như một người bé nhất trong Dòng. Tuy nhiên Đức Thánh Cha bắt phải cho ngài mặc phẩm phục hồng y và tổ chức đám tang thật long trọng. Thế là dù đã chết, ngài vẫn phải vâng lời! Ngài cho thấy được cả hai mặt của Dòng Tên: vừa là môn đệ của Chúa Giê-su nghèo khó và khiêm tốn, vừa là người con tận tụy và vâng lời Hội Thánh.
Ngài được Đức Thánh Cha Piô XI tuyên thánh năm 1930 và ban danh hiệu Tiến sĩ Hội Thánh năm 1931.
(Nguồn: Conggiao.info)
__________________________________________
II/. BÀI SUY NIỆM (Lc 7, 36-50)
“TỘI BÀ RẤT NHIỀU MÀ ĐÃ ĐƯỢC THA RỒI, VÌ BÀ ĐÃ YÊU MẾN NHIỀU”
Hôm nay thứ Năm tuần XXIV Thường niên, chúng ta đi đến phần kết Chương 7 Phúc âm Luca để được chứng kiến một câu truyện hết sức cảm động:
NGƯỜI PHỤ NỮ TỘI LỖI ĐÃ ĐƯỢC THA THỨ VÌ ĐÃ YÊU MẾN CHÚA NHIỀU.
Nếu trong Chương 15 Phúc âm Luca, người Pharisiêu và kinh sư trách Chúa:
“Các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Giê-su để nghe Người giảng. Những người Pha-ri-sêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau: “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng.” Đức Giê-su mới kể cho họ dụ ngôn này” (Lc 15, 1 – 3).
Họ trách Chúa: “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng”.
Thì hôm nay, chính Chúa đến nhà vị thủ lãnh người Pharisiêu tên là Simon để dùng bữa do ông khoản đãi.
Mở đầu Bài Tin mừng, Luca viết:
“KHI ẤY, CÓ MỘT NGƯỜI BIỆT PHÁI KIA MỜI CHÚA GIÊSU ĐẾN DÙNG BỮA VỚI MÌNH; NGƯỜI VÀO NHÀ NGƯỜI BIỆT PHÁI VÀ VÀO BÀN ĂN”.
“CÓ MỘT NGƯỜI BIỆT PHÁI KIA”.
Nếu theo dõi Bài Tin mừng, thì ta biết đây là một trong số những vị thủ lãnh người Biệt phái, có tên là Simon.
Bài Tin mừng được Luca cố ý đặt ngay sau đoạn tin mừng người Biệt phái phê phán Chúa Giêsu và Gioan Tảy Giả. Cụ thể họ nói như sau:
“Thật vậy, ông Gio-an Tẩy Giả đến, không ăn bánh, không uống rượu, thì các ông bảo: “Ông ta bị quỷ ám. Con Người đến, cũng ăn cũng uống như ai, thì các ông lại bảo: “Đây là tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi. Nhưng Đức Khôn Ngoan đã được tất cả con cái mình biện minh cho.” (Lc 7, 33 – 35).
“Đây là tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi”.
Thì bây giờ chính vị thủ lãnh người Biệt phái mời Chúa đến nhà dùng bữa. Vậy họ còn nói gì được nữa ! Như vậy những lời họ phê phán Chúa chỉ là những lời vu vơ.
Chúa không chỉ đón tiếp và ăn uống với người thu thuế và tội lỗi mà Ngài còn dùng bữa cả với những người tự cho mình là công chính như Pharisiêu. Ngài tỏ lòng thương xót với hết mọi người, vì tất cả mọi người đều là đối tượng của lòng thương xót, vì tất cả mọi người đều là tội nhân trước mặt Chúa.
Đang khi dùng bữa, chợt xảy ra một sự kiện, Luca viết:
“CHỢT CÓ MỘT NGƯỜI ĐÀN BÀ TỘI LỖI TRONG THÀNH, NGHE BIẾT NGƯỜI ĐANG DÙNG BỮA TRONG NHÀ NGƯỜI BIỆT PHÁI, LIỀN MANG ĐẾN MỘT BÌNH BẠCH NGỌC ĐỰNG THUỐC THƠM. BẤY GIỜ BÀ ĐỨNG PHÍA CHÂN NGƯỜI, KHÓC NỨC NỞ, NƯỚC MẮT ƯỚT ĐẪM CHÂN NGƯỜI, BÀ LẤY TÓC LAU, RỒI HÔN CHÂN VÀ XỨC THUỐC THƠM”.
“BẤY GIỜ BÀ ĐỨNG PHÍA CHÂN NGƯỜI”.
Theo phong tục người Do Thái, khi dùng bữa, họ không ngồi vào bàn tiệc như phong tục các quốc gia khác mà là nằm sấp, mặt hướng vào bàn tiệc,còn chân duỗi ra ngoài. Như vậy người đàn bà này mới đứng phía chân Chúa.
Sự xuất hiện của người đàn bà là sự kiện quá bất ngờ mà không ai tiên liệu trước. Chính chủ nhà cũng không ngờ tới.
Nhưng sự kiện bất ngờ này của Bài Tin mừng đã mở ra cho ta thấy 3 thái độ:
1/. Thái độ của ông Pharisiêu, chủ nhà.
Ông tỏ thái độ coi thường Chúa Giêsu, khi ông nghĩ thầm “”NẾU ÔNG NÀY LÀ TIÊN TRI THÌ PHẢI BIẾT NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐANG ĐỘNG ĐẾN MÌNH LÀ AI, VÀ THUỘC HẠNG NGƯỜI NÀO CHỨ: LÀ MỘT ĐỨA TỘI LỖI (MÀ)!”.
“NẾU ÔNG NÀY LÀ TIÊN TRI THÌ PHẢI BIẾT”.
Theo ông chủ nhà: chắc ông Giêsu này không phải là vị tiên tri
Đó cũng là thái độ ông muốn loại trừ người phụ nữ, vì bà là một người tội lỗi mà cả thành đều biết, vì Luca viết:
“CÓ MỘT NGƯỜI ĐÀN BÀ TỘI LỖI TRONG THÀNH”
“NGƯỜI ĐÀN BÀ TỘI LỖI TRONG THÀNH” là cụm từ mà Luca dùng để mô tả người phụ nữ này, Luca không nói tên của bà, có thể vì ông không biết. Nhưng chính cụm từ ““NGƯỜI ĐÀN BÀ TỘI LỖI TRONG THÀNH” đã nói lên tất cả rồi.
Bà quá nổi tiếng, nổi tiếng về tội lỗi nên được Luca tặng cho cái biệt hiệu: “NGƯỜI ĐÀN BÀ TỘI LỖI CỦA THÀNH PHỐ”.
Một phụ nữ mà cả thành phố đều biết thì chứng tỏ bà này không ra gì và bị mọi người khinh miệt.
2/. Thái độ của người đàn bà:
Bà tỏ lòng sám hối ăn năn về tội lỗi của mình qua cử chỉ “KHÓC NỨC NỞ, NƯỚC MẮT ƯỚT ĐẪM CHÂN NGƯỜI, BÀ LẤY TÓC LAU, RỒI HÔN CHÂN VÀ XỨC THUỐC THƠM”.
Hành động của bà rất khác thường và hơi chướng mắt trong một bữa tiệc. Nhưng bà đã thắng vượt các mặc cảm để đến với Chúa Giêsu tỏ lòng thống hối dưới chân Chúa, vì bà Tin Chúa là Đấng giàu lòng thương xót, và bà tin Chúa là Đấng có thể tha tội cho bà, bà muốn Chúa giải thoát tội lỗi cho bà và mở ra cho bà một tia hy vọng và con đường sống để bà can đảm dứt khoát với cuộc đời đen tối, tội lỗi và bắt đầu một cuộc sống mới trong hy vọng và bình an.
Các hành động của bà đã bộc lộ ra một tâm tình thống hối thật sâu thẳm và Chúa đã nhìn thấy.
3/. Thái độ của Chúa Giêsu:
Ngài không tỏ bất kỳ phản ứng nào, Ngài không xua đuổi bà, trái lại Ngài còn đón nhận qua thái độ cứ để bà muốn làm gì thì làm để tỏ lòng thống hối, mặc kệ ông chủ nhà muốn nghĩ gì thì nghĩ..
Những hành động của người phụ nữ đối với Đức Giêsu đã được đánh giá khác nhau. Theo quan điểm của Đức Giêsu, đó là hành động yêu mến, có giá trị chứng tỏ người phụ nữ đã được trải nghiệm lòng xót thương của Thiên Chúa và mong muốn được ơn tha thứ. Nhưng trong cách nhìn phiến diện của ông Simon, thì đó lại là những hành động làm cho Đức Giêsu bị nhiễm uế.
Như vậy cả 3 thái độ mở đầu cho bài Tin mừng hôm nay đã dẫn đến một dụ ngôn nhỏ (Hai con nợ) rất hay. Chúa đã nói với ông Biệt phái chủ nhà như sau:
“Chúa Giêsu lên tiếng bảo ông rằng: “HỠI SIMON, TÔI CÓ ĐIỀU MUỐN NÓI VỚI ÔNG”. SIMON THƯA: “XIN THẦY CỨ NÓI”
“”Một người chủ nợ có hai con nợ, một người nợ năm trăm đồng, người kia nợ năm mươi. Vì cả hai không có gì trả, nên chủ nợ tha cho cả hai. Vậy trong hai người đó, người nào sẽ yêu chủ nợ nhiều hơn?” Simon đáp: “Tôi nghĩ là kẻ đã được tha nhiều hơn”. Chúa Giêsu bảo ông: “Ông đã xét đoán đúng”.
“VẬY TRONG HAI NGƯỜI ĐÓ, NGƯỜI NÀO SẼ YÊU CHỦ NỢ NHIỀU HƠN?
Dụ ngôn tuy ngắn nhưng lại cho ta rất nhiều bài học:
1/. TẤT CẢ CHÚNG TA ĐỀU LÀ CON NỢ TRƯỚC MẶT CHÚA, CHÚNG TA ĐỀU LÀ NGƯỜI TỘI LỖI, MÀ KHÔNG CÓ GÌ TRẢ ĐƯỢC.
Chỉ có điều: Người nợ nhiều (500 đồng), kẻ nợ ít (50 đồng). Nhưng cả hai đều không có gì trả, nên chủ nợ tha cho cả hai.
Dụ ngôn đặt ra câu hỏi: “VẬY TRONG HAI NGƯỜI ĐÓ, NGƯỜI NÀO SẼ YÊU CHỦ NỢ NHIỀU HƠN?”.
Một câu hỏi quá dễ ai cũng có thể trả lời được, và ông Simon chủ nhà đã trả lời đúng: “TÔI NGHĨ LÀ KẺ ĐÃ ĐƯỢC THA NHIỀU HƠN”.
Một câu hỏi quá dễ và một câu trả lời quá đơn giản nhưng lại diễn tả rất sâu sắc chân lý: LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA, được diễn tả qua câu Chúa nói:
“TỘI BÀ RẤT NHIỀU MÀ ĐÃ ĐƯỢC THA RỒI, VÌ BÀ ĐÃ YÊU MẾN NHIỀU”
Chính câu nói của Chúa mà ngày nay đã nảy ra một cuộc tranh luận
LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA và TÌNH YÊU CỦA NGƯỜI TỘI LỖI ĐƯỢC THA THỨ, cái gì đi trước, cái gì đi sau.
Chúng ta cần phải cẩn thận khi suy nghĩ câu Chúa nói:
“TỘI BÀ RẤT NHIỀU MÀ ĐÃ ĐƯỢC THA RỒI, VÌ BÀ ĐÃ YÊU MẾN NHIỀU”.
Điều này dễ đưa đến ngộ nhận: vì bà đã yêu mến nhiều nên đã được tha nhiều, tức tình yêu của người tội lỗi đi trước, mới làm nảy sinh tình yêu tha thứ của Thiên Chúa.
Nhưng có một số người lập luận:
Vì người đàn bà được tha thứ nên mới phát sinh ra tình yêu mến. Yêu mến nhiều hơn. Có nghĩa Lòng thương xót Chúa đi trước.
+ Nếu “vì yêu mến nhiều mới được tha thứ nhiều hơn” thì tình yêu của người tội lỗi đi trước, sau đó mới phát sinh lòng thương xót Chúa.
Điều này hoàn toàn không đúng, vì khi chúng ta còn là tội nhân, chúng ta chẳng có công trạng gì để được Thiên Chúa tha thứ.
Nên câu Chúa nói ta cần phải hiểu: Chính lòng Thương xót Chúa đi bước trước, nên mới làm phát sinh tình yêu của người tội lỗi.
Ngay như trong dụ ngôn ta cũng thấy rõ: “Vì cả hai không có gì trả, nên chủ nợ tha cho cả hai. Vậy trong hai người đó, người nào sẽ yêu chủ nợ nhiều hơn?”.
Rõ ràng Lòng thương xót của người chủ đã đi trước và tha nợ, sau đó ai được tha nhiều hơn sẽ yêu mến chủ nhiều nơn.
TƯƠNG QUAN GIỮA TÌNH YÊU VÀ ƠN THA THỨ.
Thiên Chúa tha thứ tội lỗi cho chúng ta vì Đức Giêsu đã chết và phục sinh, chứ không phải vì chúng ta làm được điều gì tốt lành. Tình yêu và nhân đức của chúng ta là hiệu quả và dấu chỉ của tình yêu đi bước trước của Thiên Chúa.
Nhưng rất nhiều khi chúng ta lại đảo lộn cái thứ tự đó, tưởng rằng mình có thể được cứu độ nhờ những việc lành mình đã làm.
Điều này hoàn toàn sai lầm, vì khi ta đang là tội nhận, thì các công việc ta làm chẳng có công trạng gì trước mặt Chúa, nó không thể phát sinh ơn cứu độ cho ta.
Ta không thể dùng nó như để mặc cả, níu kéo ơn cứu độ của Chúa.
Mà chính là Tình yêu Thiên Chúa, Lòng thương xót Chúa, và cái chết của Chúa trên thánh giá mới đem lại cho ta ơn cứu độ.
Như vậy Tình yêu Thiên Chúa luôn đi bước trước và khêu gợi tình yêu của kẻ tội lỗi.
Chúng ta được mời gọi yêu mến vì đã được tha thứ chứ không phải yêu mến để được tha thứ. Lời Đức Giêsu: “Tôi nói cho ông hay: tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít”.
RỒI ĐỨC GIÊSU NÓI VỚI NGƯỜI PHỤ NỮ: “TỘI CỦA CHỊ ĐÃ ĐƯỢC THA RỒI.”
BẤY GIỜ NHỮNG NGƯỜI ĐỒNG BÀN LIỀN NGHĨ BỤNG: “ÔNG NÀY LÀ AI MÀ LẠI THA ĐƯỢC TỘI? ” NHƯNG ĐỨC GIÊSU NÓI VỚI NGƯỜI PHỤ NỮ: “LÒNG TIN CỦA CHỊ ĐÃ CỨU CHỊ. CHỊ HÃY ĐI BÌNH AN”.
Đức Giêsu ngỏ lời trực tiếp với người phụ nữ. Người nói với chị lời quan trọng.
Lời xác nhận và bảo đảm cho chị về ơn tha thứ của Thiên Chúa dành cho chị: “Tội của chị đã được tha rồi”.
“TỘI CỦA CHỊ ĐÃ ĐƯỢC THA RỒI”.
Câu nói này sẽ là cái cớ, là nguyên nhân để nổ ra cuộc tranh luận gay gắt. Nhưng hôm nay Luca không bàn tới cuộc tranh luận này.
Vì đối với người Pharisiêu, họ sẽ kết tội Chúa là người nói lộng ngôn, như trong trường hợp Chúa chữa cho người bất toại được thòng xuống từ mái nhà.
Thánh sử Marcô viết:
“Đức Giê-su bảo người bại liệt: “Này con, con đã được tha tội rồi.” Nhưng có mấy kinh sư đang ngồi đó, họ nghĩ thầm trong bụng rằng: “Sao ông này lại dám nói như vậy? Ông ta nói phạm thượng! Ai có quyền tha tội, ngoài một mình Thiên Chúa? ” (Mc 2, 5 – 7)
Trong Bài Tin mừng hôm nay, Luca chỉ chú trọng đến Lòng Thương xót Chúa đối với người tội lỗi, ông đã bỏ qua cuộc tranh luận: Chúa Giêsu là ai mà có quyền tha tội.
Vì hoàn cảnh ở đây là bữa tiệc của nhà ông Simon, thủ lãnh người Pharisiêu, tranh luận sẽ dẫn đến mất vui, làm hỏng bữa tiệc.
Câu kết của Bài Tin mừng:
“LÒNG TIN CỦA CHỊ ĐÃ CỨU CHỊ. CHỊ HÃY ĐI BÌNH AN”.
Cũng như mọi bệnh nhân trong Kinh thánh được chữa lành là nhờ họ biểu lộ lòng tin vào Con Thiên Chúa. Thì hôm nay, chính niềm tin của người đàn bà tội lỗi đã cứu bà khỏi căn bệnh thiêng liêng, cho bà có cơ hội được làm lại cuộc đời.
Khi Chúa Giêsu nói với chị ta điều này, Ngài cũng mặc nhiên cho biết Ngài là Con Thiên Chúa nên có quyền tha tội.
Nếu tội của người phụ nữ chưa được tha, thì làm sao chị ta có thể phấn khởi để bước đi? Và Ngài cũng cho biết: LÒNG TIN của chị đã cứu chị, tức phải có sự cộng tác, phải có sự thống hối mới là điều kiện để được Thiên Chúa tha thứ
TẤT CẢ ĐƯỢC KHỞI ĐI TỪ NIỀM TIN VÀ LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA.
Ta còn nhớ trong Phúc âm Gioan (Ga 12, 1 – 11) cũng có một sự kiện tương tự, Gioan thuật lại sự kiện: trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Chúa và các môn đệ đã đến làng Bêtania thăm ba chị em Matta lần cuối.
Và trong bữa tiệc này, cô em Maria cũng lấy dầu thơm xức chân Chúa, mà Gioan mô tả như sau:
“Cô Ma-ri-a lấy một cân dầu thơm cam tùng nguyên chất và quý giá xức chân Đức Giê-su, rồi lấy tóc mà lau. Cả nhà sực mùi thơm” (Ga 12, 3). Những hành động này giống hoàn toàn hành động của người phụ nữ trong Bài Tin mừng Luca hôm nay
Nhưng xét về ý nghĩa: hai hành động của hai phụ nữ này hoàn toàn khác nhau:
+ Trong Luca: Hành động của người phụ nữ đã nói lên sự ăn năn sám hối và được tha tội. Sự kiện xảy ra tại miền Galilê.
+ Trong Gioan: Hành động của Maria, báo trước cái chết và cuộc táng xác Chúa Giêsu: “Hãy để cô ấy yên. Cô đã giữ dầu thơm này là có ý dành cho ngày mai táng Thầy” (Ga 12, 7).Sự kiện xảy ra tại miền Giuđêa.
Cả hai việc làm của hai người phụ nữ đều cao đẹp đáng cho chúng suy ngắm.
TRONG BÀI ĐỌC I Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô, thánh Phaolô chỉ cho các tín hữu của ngài về sự quan trọng và những điều chính yếu của Tin Mừng, đó là Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng theo như lời Thánh Kinh. Người được mai táng và ngày thứ ba Người đã sống lại đúng theo như lời Thánh Kinh.
Với Bài Tin mừng hôm nay, chúng ta cùng dâng lên Chúa lời cầu nguyện sau đây:
Lạy Chúa !xin cho con luôn biết ý thức về tình trạng tội lỗi của con, và xin cho con luôn nhớ rằng: Con không thể làm gì để được Chúa thứ tha, con chẳng có công trạng gì, mà sự tha thứ và ơn cứu độ phải được xuất phát từ nơi Chúa. Để từ sự tha thứ của Chúa mà con yêu Chúa nhiều hơn trong suốt cuộc đời này.
Amen.
______________________________
Giuse Vĩnh Tâm.
LỜI CHÚA THỨ NĂM TUẦN XXIV THƯỜNG NIÊN NĂM CHẴN 2020 (17/9/2020) – (Lc 7, 36 – 50) – DỤ NGÔN HAI CON NỢ THÁNH RÔBERTÔ BELLARMINÔ, Gmtsht (Giám mục Tiến sĩ Hội thánh), Lễ nhớ
Trang Chủ » Bài Giảng - Suy Niệm Tin Mừng » LỜI CHÚA THỨ NĂM TUẦN XXIV THƯỜNG NIÊN NĂM CHẴN 2020 (17/9/2020) – (Lc 7, 36 – 50) – DỤ NGÔN HAI CON NỢ THÁNH RÔBERTÔ BELLARMINÔ, Gmtsht (Giám mục Tiến sĩ Hội thánh), Lễ nhớ

