DỤ NGÔN PHÚ HỘ VÀ LADARÔ.
“CON ĐÃ ĐƯỢC SỰ LÀNH, CÒN LADARÔ GẶP TOÀN SỰ KHỐN KHỔ”.
BÀI ĐỌC I: Gr 17, 5-10
“Khốn thay cho kẻ tin tưởng người đời; phúc thay cho người tin tưởng vào Thiên Chúa”.
Trích sách Tiên tri Giêrêmia.
Đây Chúa phán: “Khốn thay cho kẻ tin tưởng người đời, họ nương tựa vào sức mạnh con người, còn tâm hồn họ thì sống xa Chúa. Họ như cây cỏ trong hoang địa, không cảm thấy khi được hạnh phúc; họ ở những nơi khô cháy trong hoang địa, vùng đất mặn không người ở. Phúc thay cho người tin tưởng vào Thiên Chúa, và Chúa sẽ là niềm cậy trông của họ. Họ sẽ như cây trồng nơi bờ suối, cây đó đâm rễ vào nơi ẩm ướt, không sợ gì khi mùa hè đến, lá vẫn xanh tươi, không lo ngại gì khi nắng hạn mà vẫn sinh hoa kết quả luôn. Lòng người nham hiểm khôn dò, nào ai biết được? Còn Ta, Ta là Chúa, Ta thấu suốt tâm hồn và dò xét tâm can, trả công cho mỗi người tuỳ theo cách sống và hậu quả hành vi của họ”.
Đó là lời Chúa.
BÀI TIN MỪNG: Lc 16, 19-31
“Con đã được sự lành, còn Ladarô gặp toàn sự khốn khổ”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Luca.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng những người biệt phái rằng: “Có một nhà phú hộ kia vận toàn gấm vóc, lụa là, ngày ngày yến tiệc linh đình. Lại có một người hành khất tên là Ladarô, nằm bên cổng nhà ông đó, mình đầy ghẻ chốc, ước được những mụn bánh từ bàn ăn rớt xuống để ăn cho đỡ đói, nhưng không ai thèm cho. Những con chó đến liếm ghẻ chốc của người ấy. Nhưng xảy ra là người hành khất đó chết và được các thiên thần đem lên nơi lòng Abraham. Còn nhà phú hộ kia cũng chết và được đem chôn. Trong hoả ngục, phải chịu cực hình, nhà phú hộ ngước mắt lên thì thấy đằng xa có Abraham và Ladarô trong lòng Ngài, liền cất tiếng kêu la rằng:
“Lạy Cha Abraham, xin thương xót tôi và sai Ladarô nhúng đầu ngón tay vào nước để làm mát lưỡi tôi, vì tôi phải quằn quại trong ngọn lửa này. Abraham nói lại: “Hỡi con, suốt đời con, con được toàn sự lành, còn Ladarô gặp toàn sự khốn khổ. Vậy bây giờ Ladarô được an ủi ở chốn này, còn con thì chịu khốn khổ. Vả chăng, giữa các ngươi và chúng tôi đây đã có sẵn một vực thẳm, khiến những kẻ muốn tự đây qua đó, không thể qua được, cũng như không thể từ đó qua đây được”.
Người đó lại nói: “Đã vậy, tôi nài xin cha sai Ladarô đến nhà cha tôi, vì tôi còn năm người anh em nữa, để ông bảo họ, kẻo họ cũng phải sa vào chốn cực hình này”. Abraham đáp rằng: “Chúng đã có Môsê và các tiên tri, chúng hãy nghe các Ngài”. Người đó thưa: “Không đâu, lạy Cha Abraham! Nhưng nếu có ai trong kẻ chết về với họ, thì ắt họ sẽ hối cải”. Nhưng Abraham bảo người ấy: “Nếu chúng không chịu nghe Môsê và các tiên tri, thì cho dù kẻ chết sống lại đi nữa, chúng cũng chẳng chịu nghe đâu”.
Đó là lời Chúa.
_______________________
SUY NIỆM & CHIA SẺ:
LƯỚT QUA CÁC BÀI ĐỌC:
Giàu, nghèo không phải là một cái tội. Tội phúc là ở cách sống của mỗi người. Nghèo mà ăn ở thanh bần không oán than, không trộm cắp, không làm điều xấu, thì cũng đáng được tôn trọng. Còn giàu mà chỉ biết hưởng thụ cho mình, không biết dùng của cải trần gian để đổi lấy công đức, cứu giúp anh em đồng loại, làm ngơ trước sự thiếu thốn của người khác thì thật đáng trách, vì đã không biết chu toàn công việc quản lý của cải mà Thiên Chúa giao cho. Họ giống như những người chỉ biết hưởng mà không chịu làm việc để sinh lợi, để rồi thâm hụt vốn của chủ.
Các Bài Đọc hôm nay tập trung trong việc phải tin và cậy dựa vào Thiên Chúa.
TRONG BÀI ĐỌC I Trích sách Tiên tri Giêrêmia, tiên tri Giêrêmia đưa ra hai mẫu người với hai niềm tin khác nhau. Tiên tri nói: Phúc thay cho những ai cậy dựa vào Thiên Chúa. Họ như cây trồng bên suối nước, sẽ luôn sinh hoa kết quả và không bao giờ bị khô héo.
Nhưng khốn thay cho kẻ tin vào sức phàm nhân, hạnh phúc có đến cũng chẳng nhìn ra, và lúc nào cũng như đang sống trong đồng khô cỏ cháy.
Tiên tri Giêrêmia sống trong thời gian lịch sử mà đa số dân tộc Israel, vua cũng như dân, quay lưng lại với Thiên Chúa. Hezekiah, Vua Giuđa đã chọn tin tưởng nơi Vua Ai-cập hơn là tin tưởng nơi Thiên Chúa. Hậu quả là vương quốc bị rơi vào tay Vua Babylon và toàn dân bị lưu đày. Điều khờ dại nhất của con người là chọn những tạo vật của Thiên Chúa làm ra thay vì chọn chính Đấng đã tạo dựng nên mọi sự. Điều ma quỉ dùng để cám dỗ con người là làm cho con người chỉ chú trọng đến hậu quả hiện tại tạm thời, mà quên đi quá khứ và không cần nhìn đến tương lai.
TRONG BÀI TIN MỪNG theo thánh Luca
Sang đến Bài Tin mừng, Chúa Giêsu cũng đưa ra hai mẫu gương để dạy cho dân chúng một bài học: một người giàu có và Ladarô, người nghèo khó. Người giàu có dùng tiền bạc của mình để sống phung phí trên sự nghèo khó của Ladarô. Khi cả hai chết đi, cuộc sống hai người bị đảo ngược: Ladarô được ngồi trong lòng tổ-phụ Abraham trên trời; trong khi người giàu có phải chịu cực hình trong lửa đời đời.
___________________________
ĐI VÀO BÀI TIN MỪNG:
“KHI ẤY, CHÚA GIÊSU PHÁN CÙNG NHỮNG NGƯỜI BIỆT PHÁI RẰNG:”
Thánh sử Luca cho chúng ta biết: Chúa Giêsu đang muốn nói riêng với người Biệt phái một dụ ngôn. Dụ ngôn có tên là:
DỤ NGÔN ÔNG NHÀ GIÀU VÀ ANH LA-DA-RÔ NGHÈO KHÓ
Dụ ngôn này chỉ duy nhất một mình Thánh sử Luca tường thuật, trong khi các thánh sử khác thì không.
Như đã biết: Khi Bài Tin mừng nào chỉ được một thánh sử duy nhất tường thuật, thì Bài Tin mừng đó sẽ nói lên nét đặc trưng của Thánh sử đó. Luca là một y sĩ, ông rất nhạy cảm với Tình yêu, Lòng thương xót của Thiên Chúa đối với những con người tội lỗi, bất hạnh và nghèo khổ. Và ông cũng rất nhạy cảm với những sự bất công, sự chênh lệch giàu nghèo trong xã hội. Ông thường lên tiếng tố cáo người giàu có nhưng sống dửng dưng với những người nghèo khổ chung quanh, cụ thể là trong Dụ ngôn người Phú hộ hôm nay.
Luca không hề phủ nhận một điều: Cái lý do đẩy người nghèo vào cảnh cùng khốn chưa chắc là do người giàu tạo ra, người giàu không là nguyên nhân chính gây ra cái nghèo cho kẻ khác. Giàu hay nghèo còn do nhiều lý do khác nữa. Nhưng suy nghĩ cho cùng: Chính sự dửng dưng của người giàu có trước những cảnh đời bất hạnh, nó lại góp phần làm cho người nghèo rơi vào tình trạng cùng khổ, nếu họ biết thương cảm, biết giúp đỡ, biết chia sẻ, thì sự khốn khổ đó sẽ vơi đi rất nhiều. Chính sự dửng dưng đó, họ sẽ bị Thiên Chúa kết tội, chứ Ngài không kết tội vì họ có nhiều của cải.
Người Biệt Phái chắc phải bực mình vì Dụ ngôn này, vì Chúa Giêsu cũng đang muốn gửi đến họ một thông điệp:
Tại sao Đức Giêsu lại kể dụ ngôn này cho người Pharisêu? Họ có liên quan gì đến chuyện này? Thưa vì trước đó, cũng theo Luca, Đức Giêsu nói với các môn đệ: “Thầy bảo cho anh em biết: hãy dùng Tiền Của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu”. (Lc 16, 9) …. “Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được.” (Lc 16, 13)
Luca viết: “Người Pha-ri-sêu vốn ham hố tiền bạc, nên nghe các điều ấy, thì cười nhạo Đức Giê-su” (Lc 16, 14). Thái độ cười nhạo của người Pharisêu, họ muốn nói Ngài là con người dở hơi, sống không thực tế. Như vậy Đức Giêsu kể câu chuyện này cho người Pharisêu nghe, Ngài muốn đánh thẳng vào sự ham hố của họ.
Luca cho biết Đức Giêsu sắp kể dụ ngôn và đối tượng nghe Ngài là người Pharisêu (Biệt phái). Lẽ dĩ nhiên dụ ngôn là câu chuyện có tính ẩn dụ, không có thật, nhưng lại diễn tả điều gì đó sâu xa, một bài học hay một chân lý.
Độc giả đã nghe Bài tin mừng này nhiều lần, và cứ mỗi lần nghe lại, ta có cảm tưởng mới nghe lần đầu và chú ý cho đến khi nó kết thúc. Câu chuyện Đức Giêsu kể rất vắn, nhưng nó lại diễn ra trong thời gian rất dài, chưa có dụ ngôn nào trong Tin mừng lại dài như vậy, vì nó diễn ra từ đời này đến đời sau. Dụ ngôn cuốn hút ở chỗ: Có một sự đảo ngược đầy kịch tính giữa đời này, có tính tạm thời chóng qua và đời sau có tính vĩnh viễn. Ở đời này người giàu có ăn sung mặc sướng, còn người nghèo thì bất hạnh. Nhưng sang đến đời sau, sự đảo ngược thật thảm hại.
CÓ MỘT SỰ VÔ LÝ TRONG DỤ NGÔN:
Độc giả sẽ bất ngờ trước sự đảo ngược này và tự hỏi:
Chẳng lẽ giàu có ở đời này là một cái tội và sẽ bị phạt ở đời sau? Còn người nghèo ở đời này, lại được thưởng ở đời sau, trong khi dụ ngôn không nói gì về công đức của họ đã thực hiện. Thật vô lý, và chính sự vô lý này, nó cuốn hút ta phải tìm cho ra điều Đức Giêsu muốn nhắm đến.
NỘI DUNG DỤ NGÔN: MÀN GIỚI THIỆU:
“CÓ MỘT NHÀ PHÚ HỘ KIA VẬN TOÀN GẤM VÓC, LỤA LÀ, NGÀY NGÀY YẾN TIỆC LINH ĐÌNH.
LẠI CÓ MỘT NGƯỜI HÀNH KHẤT TÊN LÀ LADARÔ, NẰM BÊN CỔNG NHÀ ÔNG ĐÓ, MÌNH ĐẦY GHẺ CHỐC, ƯỚC ĐƯỢC NHỮNG MỤN BÁNH TỪ BÀN ĂN RỚT XUỐNG ĐỂ ĂN CHO ĐỠ ĐÓI, NHƯNG KHÔNG AI THÈM CHO. NHỮNG CON CHÓ ĐẾN LIẾM GHẺ CHỐC CỦA NGƯỜI ẤY.
NHƯNG XẢY RA LÀ NGƯỜI HÀNH KHẤT ĐÓ CHẾT VÀ ĐƯỢC CÁC THIÊN THẦN ĐEM LÊN NƠI LÒNG ABRAHAM. CÒN NHÀ PHÚ HỘ KIA CŨNG CHẾT VÀ ĐƯỢC ĐEM CHÔN.”
Dụ ngôn bắt đầu bằng màn giới thiệu, có tất cả 02 nhân vật, hai người này có cuộc sống tương phản nhau, tương phản đến mức gay gắt như bức tranh 02 màu: Trắng và đen, giàu và nghèo, sung sướng và bất hạnh, yến tiệc linh đình và đói rách…
1/. NHÂN VẬT THỨ NHẤT: ÔNG PHÚ HỘ:
Ông là người giàu có, sự giàu có của ông chắc không đến từ sự gian xảo lừa lọc, Luca không viết gì về chuyện này, ta cứ coi sự giàu có do mồ hôi nước mắt ông làm ra. Ông không làm bất cứ điều gì thất nhân thất đức, Luca cũng không nói gì, như vậy ta coi ông là người chẳng xấu và cũng chẳng tốt. Ông và người nghèo khó kia, nhân vật thứ hai, không có mối liên hệ với nhau, và sự giàu có của ông không là nguyên nhân dẫn đến cái nghèo của người này.
Luca mô tả sự giàu có của ông như sau: mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình. Như vậy ông phú hộ phải là người giao thiệp rộng, quen biết nhiều và dĩ nhiên với quan hệ rộng như vậy, ông ngày càng giàu thêm, vì cổ nhân đã nói: “Giàu vì bạn, sang vì vợ”. Nó sẽ kéo theo tiệc tùng liên miên, Luca dùng cụm từ “ngày ngày”, có nghĩa không ngày nào không có tiệc. Ông ăn mặc toàn lụa là gấm vóc là chuyện đương nhiên, vì cái thế của ông phải như vậy. Hình như có một định luật kéo theo như sau:
ĐỊNH LUẬT KÉO THEO:
“Giàu có” sẽ kéo theo nhiều “bạn bè”, nhiều “bạn bè” sẽ kéo theo nhiều tiệc tùng, nhiều tiệc tùng sẽ kéo theo nhiều tiền bạc vì nhiều hợp đồng béo bở sẽ xuất hiện, cuối cùng càng giàu hơn. Định luật đó sẽ đưa ông phú hộ giàu càng giàu hơn nữa, sung sướng tột đỉnh vì ông đã có tất cả những gì con người ham muốn. Đó là con đường đi lên của người giàu có.
Nhưng có hai chi tiết làm cho độc giả phải suy nghĩ, đó là:
+ ÔNG PHÚ HỘ KHÔNG CÓ TÊN GỌI.
Có người sẽ nói: Vì đây là một câu chuyện mang tính dụ ngôn, nên nhân vật của Chúa Giêsu có tính chung chung chứ không phải là cá biệt nên không cần có tên gọi.
Nhưng tại sao: Nhân vật thứ hai lại có tên: Ladarô. Tại sao Luca lại có sự phân biệt này? Tại sao Đức Giêsu không đặt cho ông phú hộ một cái tên, tên gì cũng được? thưa vì Luca muốn nói ông phú hộ là một người rất nghèo, ông giàu về của cải nhưng lại nghèo về tinh thần. và vì không có tên, cái cơ bản nhất của con người mà ông phú hộ cũng không có, nên ông sẽ đại diện cho tất cả người giàu có trên thế gian này.
+ ÔNG NGHÈO VÌ ĐÃ ĐÓNG RẤT CHẶT LÒNG MÌNH ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO.
Luca cho biết luôn có một người nghèo nằm ở trước cổng nhà ông. Hẳn ông và bạn bè ông biết rõ điều này, vì ngày ngày họ phải đi qua cái cổng này và phải qua cổng mới vào được nhà, nhưng không có lấy một người biết dừng lại hỏi thăm và bố thí. Hình như có cái gì đó nói lên đặc tính của người giàu, có lẽ người ta càng giàu về của cải vật chất, họ càng nghèo về tinh thần, dửng dưng trước sự đau khổ, khốn khó của người chung quanh.
CÁI CỔNG NHÀ ÔNG PHÚ HỘ:
Cái cổng nhà ông phú hộ vô tình trở thành một ranh giới phân thế giới này ra làm hai, một bên là người giàu có, sang trọng còn bên kia là thế giới của người nghèo, bị xã hội bỏ rơi. Một thế giới phân biệt đầy kịch tính, phân làm hai: sáng và tối, giàu và nghèo, sung sướng và bất hạnh.
NẰM BÊN CỔNG NHÀ ÔNG ĐÓ:
Người nghèo không thể vượt qua cái cổng này để đến với người giàu, vì dù gì họ vẫn là con người, vẫn còn lòng tự trọng và danh dự của mình, vả lại không ai cho họ làm như thế. Còn người giàu không thể vượt qua cái cổng này vì họ đã đóng chặt lòng mình lại, sự giàu có của họ quá lớn, đã che mắt không cho họ nhìn thấy ai hết ngoại trừ thấy họ.
“NHỮNG CON CHÓ ĐẾN LIẾM GHẺ CHỐC CỦA NGƯỜI ẤY”
Cho dù người nghèo kia không còn cái gì, nhưng họ vẫn còn một thứ mà con chó cần, đó là những ghẻ chốc trên người của họ. Một hình ảnh rất ghê tởm và đáng sợ, không ai muốn nhìn đến, nhưng đó lại là hình ảnh của những con người sống theo tinh thần nghèo khó của Phúc Âm.
Họ nghèo thật đấy, nhưng có phải vì vậy mà họ không còn gì để cho người khác không? Thưa không, họ vẫn có nhiều thứ gắn liền con người của họ, họ còn nụ cười, họ còn lời nói để biết thông cảm và chia sẻ với người bất hạnh chung quanh họ, mà những thứ ấy không thể mua bằng tiền bạc. Họ mới chính là người giàu có trong Nước Thiên Chúa.
VẬY AI SẼ ĐI QUA CÁI CỔNG NHÀ ÔNG PHÚ HỘ? ?
Thưa: không có ai hết, ngoại trừ CON CHÓ.
Vì con chó không có trí khôn nên nó mới qua cổng này dễ dàng. Người ta nói: “Con người hơn con vật vì có trí khôn”. Nhưng hình như vì không có trí khôn nên con chó mới hơn người giàu có trong dụ ngôn này.
Do không có trí khôn, nó không biết so đo tính toán, không biết cân nhắc hơn thiệt, chỉ có con người có trí khôn nên mới biết tính toán, biết cân nhắc, biết lợi hại và biết phân biệt. Khi biết như vậy, họ mới biết ai là người cần tiếp xúc, ai là người cần gần gũi và ai là người phải xa lánh. Thật mỉa mai cho con người, là hình ảnh của Thiên Chúa. Thưở ban đầu Thiên Chúa đâu có dựng con người như vậy, nhưng chính món quà quý giá mà Ngài ban tặng: trí khôn, mà con người mới đi ngược lại ý hướng của Đấng Sáng tạo.
2/. NHÂN VẬT THỨ HAI: LADARÔ:
Nhân vật thứ hai trong dụ ngôn, đó là một người nghèo và bất hạnh. Luca mô tả: “Lại có một người nghèo khó tên là La-da-rô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu, thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no. Lại thêm mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta.”
Anh ta dù nghèo thế nào đi nữa, anh vẫn có một thứ mà người phú hộ kia không có, đó là tên gọi. Anh ta có tên là LADARÔ. Ladarô có nghĩa “Thiên Chúa giúp đỡ”. Đức Giêsu đặt cho anh cái tên, như thể Ngài muốn nhắn với thế giới con người là, cái cảnh giàu nghèo, sự phân biệt đối xử là do con người tạo ra chứ không do Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa sẽ hành động để cứu vớt người nghèo khó, không ở đời này cũng có sự đền bù ở đời sau, vì Ngài đã khắc tên từng người trong tâm trí Ngài, vì họ có tên gọi, đó là Ladarô, “Thiên Chúa giúp đỡ”.
Ladarô ở đây là một nhân vật hư cấu trong dụ ngôn, không có thật, không phải Ladarô em của bà Matta và Maria đã được Đức Giêsu cho sống lại sau khi chết trong mộ được 04 ngày.
Ladarô nghèo khó lại mụn nhọt đầy mình. Phải chăng Thiên Chúa sẽ giúp đỡ Ladarô qua trung gian ông nhà giàu? Anh không thể đi lang thang đây đó mà xin ăn. Ladarô cần có bạn bè để giúp anh tìm được thức ăn. Họ đã bỏ anh nằm trước cổng ông nhà giàu, một vị trí mà một người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù, người không được mời, có thể ở gần chủ nhà nhất.
“ƯỚC ĐƯỢC NHỮNG MỤN BÁNH TỪ BÀN ĂN RỚT XUỐNG ĐỂ ĂN CHO ĐỠ ĐÓI, NHƯNG KHÔNG AI THÈM CHO”.
Không có lấy một người chú ý đến anh, có lẽ trong cảnh nghèo hèn này, anh không thể mơ ước cao xa, vì giấc mơ cao xa chỉ dành cho người giàu có, nó không dành cho anh, ngay cả trong giấc mơ mà người ta nói, mọi sự đều có thể xảy ra, nhưng anh vẫn không có quyền này, anh chỉ có niềm mơ ước: “thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no”.
Đó là tất cả những gì anh có thể thêu dệt trong giấc mơ của mình. Khi người ta bị đẩy xuống đáy vực thẳm đói nghèo, người ta sẽ mơ một giấc mơ vĩ đại nhất, đó là mẫu bánh mì lót dạ. Một giấc mơ quá tầm thường nó không phải giấc mơ của con người bình thường.
CẢM GIÁC KHI ĐỌC DỤ NGÔN: RẤT BỰC BỘI:
Độc giả sẽ thấy bực bội khi Đức Giêsu vẽ nên bức tranh như vậy, độc giả sẽ khó chịu khi đọc dụ ngôn này, vì Ngài đã đặt ra 02 thái cực mà không có gì ở giữa, một bên quá sung sướng và một bên quá bất hạnh, cứ y như chúng đối nhau. Nhưng nếu nhìn vào cuộc sống hôm nay, ta sẽ hết sức bỡ ngỡ trước hố sâu ngăn cách giàu nghèo mà nó đang tồn tại. Vâng đó là điều có thật, cứ nhìn vào xã hội Việt Nam hôm nay đi sẽ thấy rõ điều đó, cảnh các quan chức ăn nhậu thừa mứa, cảnh những người nghèo trong những chương trình” Ngôi nhà mơ ước”, “Nhà tình thương”, “Lá lành đùm lá rách”chiếu trên tivi…….
MÀN THỨ HAI: CẢ HAI CÙNG CHẾT.
“THẾ RỒI NGƯỜI NGHÈO NÀY CHẾT, VÀ ĐƯỢC THIÊN THẦN ĐEM VÀO LÒNG ÔNG ÁP-RA-HAM. ÔNG NHÀ GIÀU CŨNG CHẾT, VÀ NGƯỜI TA ĐEM CHÔN.”
Phần mở màn của dụ ngôn được kết thúc bằng cái chết của cả hai người. Hai người được đưa sang thế giới bên kia. Có gì thay đổi ở thế giới bên kia không? Chắc chắn phải có, Thánh sử Luca mô tả sự thay đổi bằng cuộc lật ngược ngoạn mục và khốc liệt.
Trong Lịch sử của thế giới và của loài người đã nổ ra bao cuộc Cách mạnh nhằm san bằng các bất công, và san bằng hố sâu ngăn cách giàu nghèo trong xã hội, người ta hô hào rất nhiềukhẩu hiệu. Những chủ thuyết này có vẻ rất ăn khách và đã làm nên làn sóng cách mạng kinh hồn ở thế kỷ thứ 19, nhưng xem ra chúng đã thất bại, vì nguyên nhân chính, là người ta đã sử dụng phương thức bạo lực thay vì dùng tình thương. Bạo lực sẽ đẻ ra bạo lực, khi cuộc cách mạng này thành công thì y như như rằng bất công càng tăng lên và lại xuất hiện một cuộc cách mạng mới.
Ta có thể khẳng định: Không thể có công bằng, không thể san bằng giàu nghèo ngay khi còn sống đời này. Mục tiêu đó chỉ đạt được cuộc sống đời sau, vì ở đó Thiên Chúa là Đấng Công bằng vô cùng mới trả lại cho con người sự công bằng đích thực. Những khẩu hiệu như : “Kiên định theo chủ nghĩa này nọ”, chỉ là những khẩu hiệu rỗng tuếch, nhằm ru ngủ người nghèo, bần cố nông để họ đứng lên làm cách mạng. Ta còn nghe khẩu hiệu rất kêu: “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Xã hội chủ nghĩa”, nhưng thử hỏi những người Cộng sản gạo cội: “Bây giờ chúng ta đã tiến tới đâu rồi?” Còn bao lâu nữa chúng ta mới tới đích”. Chắc chịu thua thôi, chẳng ai dám trả lời.
CUỘC LẬT ĐỔ NGOẠN MỤC VÀ KỊCH TÍNH:
Luca mô tả: Người nghèo (Ladarô) chết, được thiên thần đem vào lòng Abraham, tức ở trên thiên đàng, đó là sự đi lên, đi lên mãi cho tới đỉnh hạnh phúc. Còn ông nhà giàu chết thì bị đem chôn. Đem chôn, có nghĩa vùi ông xuống lòng đất, ý muốn nói, ông sẽ bị hạ sâu xuống, sâu nữa, sâu cho đến tận đáy âm phủ.
ĐỘC GIẢ SẼ THẮC MẮC:
Nguyên nhân nào tạo lên cuộc lật ngược ngoạn mục này, anh nhà nghèo có làm gì phúc đức đâu mà được hưởng hạnh phúc? Còn ông phú hộ có làm gì độc ác đâu mà bị đày xuống đáy địa ngục?
CHÌA KHÓA GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
Thiên Chúa dựng nên mọi sự trong trời đất cho mọi người hưởng dùng. Con người không phải là chủ nhân, mà chỉ là những người quản lý của cải của Thiên Chúa. Vì thế, con người không được quyền phung phí của cải trong khi những người nghèo không có của ăn. Ông phú hộ không làm gì độc ác nhưng thực chất ông còn quá độc ác khi phung phí của cải, tiền bạc trong những yến tiệc linh đình nhưng lại dửng dưng trước con người nghèo và khốn khổ là Ladarô.
MÀN THỨ BA: CUỘC SỐNG ĐỜI SAU
XUẤT HIỆN NHÂN VẬT ABRAHAM:
“DƯỚI ÂM PHỦ, ĐANG KHI CHỊU CỰC HÌNH, ÔNG TA NGƯỚC MẮT LÊN, THẤY TỔ PHỤ ÁP-RA-HAM Ở TẬN ĐÀNG XA, VÀ THẤY ANH LA-DA-RÔ TRONG LÒNG TỔ PHỤ.
Phần giữa của Dụ ngôn, Đức Giêsu giới thiệu thêm một nhân vật, đó là Tổ phụ Abraham. Kinh thánh mô tả Abraham là cha của những người tin vào Thiên Chúa.
“Dưới âm phủ, đang khi chịu cực hình, ông ta (ông phú hộ) ngước mắt lên, thấy tổ phụ Áp-ra-ham ở tận đàng xa, và thấy anh La-da-rô trong lòng tổ phụ.”
Đức Giêsu dùng hình ảnh này không phải để nói về cuộc sống đời sau, ta không nên căn cứ vào đó để nói đời sau nó sẽ như vậy. Ở đây ta phải hiểu đó là biểu tượng mà Ngài muốn diễn tả các điều sau đây:
+ HỎA NGỤC, LUYỆN NGỤC, THIÊN ĐÀNG
Đó là những thực tại, có nghĩa chúng là những điều có thật chứ không phải tưởng tượng. Đó là niềm tin của người Công giáo chúng ta. Chỉ khi nào kết thúc cuộc đời này, ta mới bước vào thực tại đó. Nhưng hiểu theo nghĩa sâu xa, không phải chỉ khi kết thúc cuộc đời này ta mới biết nó, nhưng ta đã được cảm nghiệm ngay cuộc đời này rồi. Khi ta sống trong yêu thương, tha thứ, bao dung, ta đã nếm được hạnh phúc Nước Trời, còn ngược lại cuộc sống của ta như hỏa ngục vậy ngay khi ta còn đang sống. Đã có bao con người được nếm mùi Hoả ngục ngay khi còn ở đời này
Hỏa ngục là nơi dành cho những người khi sống ở đời này đã từ chối Thiên Chúa một cách quyết liệt, từ chối cho đến chết. Đó là nơi chỉ có khóc lóc và nghiến răng. Còn Thiên đàng là nơi dành cho những ai biết đón nhận Thiên Chúa và anh em mình khi còn sống ở đời này. Đó là nơi chỉ có hạnh phúc và hạnh phúc đó không bao giờ biết nhàm chán, vì hạnh phúc của họ chính là Thiên Chúa. Còn Luyện ngục cũng là nơi dành cho những ai biết đón nhận Thiên Chúa và anh em khi còn sống ở đời này, nhưng họ cần một thời gian để thanh luyện trước khi bước vào hưởng hạnh phúc Nước Trời.
Ở TẬN ĐÀNG XA:
Ông phú hộ đã bị đày xuống âm phủ (hỏa ngục), còn Ladarô được đưa vào lòng Tổ phụ Abraham (Thiên đàng). Kinh thánh dùng từ “ở tận đàng xa” để mô tả có một khoảng cách giữa Thiên đàng và hỏa ngục. Vâng ở đây vẫn có một vách ngăn, vách ngăn này khốc liệt hơn nhiều so với cái cổng nhà ông phú hộ. Một khoảng cách thăm thẳm, ngăn cách vĩnh viễn giữa Thiên đàng và hỏa ngục.
Khi còn sống, cái cổng của nhà ông mặc dù nó mong manh, nhưng đã không cho ông thấy Ladarô, còn bây giờ với khoảng cách thăm thẳm ông vẫn thấy Ladarô rõ ràng. Tại sao bây giờ ông mới thấy Ladarô? Vì bây giờ ông mới là người cần đến Ladarô để xin giúp đỡ. Giá lúc còn sống, ông biết nhìn đến Ladarô thì ông đâu chịu cảnh này, cũng chỉ vì ông quá vô tâm, quá lãnh đạm với người nghèo nên ông mới phải ở đây.
“BẤY GIỜ ÔNG TA KÊU LÊN: ‘LẠY TỔ PHỤ ÁP-RA-HAM, XIN THƯƠNG XÓT CON, VÀ SAI ANH LA-DA-RÔ NHÚNG ĐẦU NGÓN TAY VÀO NƯỚC, NHỎ TRÊN LƯỠI CON CHO MÁT; VÌ Ở ĐÂY CON BỊ LỬA THIÊU ĐỐT KHỔ LẮM!”
LỬA HOẢ NGỤC – LỬA TRẦN GIAN:
Kinh thánh mô tả đôi nét về hỏa ngục, ông phú hộ bị lửa thiêu đốt vô cùng khổ sở. Người ta có thể nói gì về lửa trong hỏa ngục? Ta không biết phải nói gì nữa vì ta chưa cảm nghiệm về nó khi còn sống ở đời này, lửa đó như thế nào? Có giống lửa ở trần gian không? thưa: KHÔNG.
Các nhà đạo đức đã đưa ra một hình ảnh để so sánh giữa lửa trần gian và lửa hỏa ngục, lửa trần gian được ví như ngọn lửa vẽ trong tờ giấy, còn lửa hỏa ngục mới là lửa thật. Ai cũng biết lửa trần gian nó nóng thế nào, thế mà chỉ coi như lửa vẽ trong tờ giấy còn lửa trong hỏa ngục mới là lửa thật. Một so sánh phiếm diện như vậy cũng cho ta thấy lửa hỏa ngục nó khủng khiếp dường nào.
SAI ANH LA-DA-RÔ NHÚNG ĐẦU NGÓN TAY VÀO NƯỚC, NHỎ TRÊN LƯỠI CON CHO MÁT
Ông phú hộ xin Tổ phụ Abraham thương ông, sai Ladarô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con mát. Chỉ cần xin giọt nước nhỏ xuống cho mát thôi, một giọt nước có nghĩa gì, thế mà trong cảnh khốn cùng này đó là điều ông ao ước.
Lúc còn sống ông đã uống bao nhiêu rượu, bao nhiêu bia, toàn bia rượu ngoại hảo hạng, suốt ngày nhậu nhẹt, uống rượu như uống nước, uống như suối, thế mà bây giờ lại đi xin một giọt nước, thật quá vô lý! Nếu ông đừng tiệc tùng linh đình bên cạnh nỗi khổ của người nghèo thì ông đâu phải chịu như vậy. Bây giờ đã trễ rồi, khi ngộ ra chân lý cuộc đời thì mọi sự đã kết thúc, không còn cơ hội nữa. Ladarô khi còn sống, ao ước được ăn những mảnh vụn dư thừa trên bàn tiệc, cũng không ai cho, thế mà bây giờ ông phú hộ lại đi xin mình một giọt nước. Thật không ngờ cuộc đảo ngược lại khốc liệt đến vậy.
“ÔNG ÁP-RA-HAM ĐÁP: ‘CON ƠI, HÃY NHỚ LẠI: SUỐT ĐỜI CON, CON ĐÃ NHẬN PHẦN PHƯỚC CỦA CON RỒI; CÒN LA-DA-RÔ SUỐT MỘTT ĐỜI CHỊU TOÀN NHỮNG BẤT HẠNH. BÂY GIỜ, LA-DA-RÔ ĐƯỢC AN ỦI NƠI ĐÂY, CÒN CON THÌ PHẢI CHỊU KHỐN KHỔ.
Chúng ta ghi nhận không phải Ladarô đã lập luận để trả lời cho ông nhà giàu, mà là Tổ phụ Abraham, tức Nguồn Mạch của Do Thái giáo. Rất hợp lý là cha của tất cả mọi con dân Israel giải thích cho hiểu vì sao Ladarô không thể giúp gì cho ông nhà giàu.
SUỐT ĐỜI CON:
Abraham không nói: ông phú hộ phải đau khổ vì ông quá giàu, còn Ladarô được hạnh phúc vì quá nghèo. Giàu nghèo không phải là lý do đưa đến tình trạng này. Abraham muốn nhấn mạnh, khi người phú hộ còn sống, ông đã nhận biết bao phước lành, được biết bao tiền bạc và của cải, nhưng ông vô cùng dửng dưng, vô cảm trước nỗi thống khổ của người khác, cụ thể là Ladarô. Cho nên của cải, tiền bạc nó không theo ông vào đời sau, bây giờ ông sẽ không có gì hết. Còn Ladarô thì ngược lại, Như vậy, có một cuộc đảo ngược so với cuộc sống trên trần gian. Sự công bằng nằm ở chỗ đó, suốt đời con, con đã được hưởng bao điều sung sướng, nhưng con đã không biết tận dụng, thì bây giờ con khổ là phải rồi, còn kêu ca gì nữa.
“HƠN NỮA, GIỮA CHÚNG TA ĐÂY VÀ CÁC CON ĐÃ CÓ MỘT VỰC THẲM LỚN, ĐẾN NỖI BÊN NÀY MUỐN QUA BÊN CÁC CON CŨNG KHÔNG ĐƯỢC, MÀ BÊN ĐÓ CÓ QUA BÊN CHÚNG TA ĐÂY CŨNG KHÔNG ĐƯỢC.”
Tổ phụ Abraham cũng xác nhận có một vực thẳm ngăn cách vĩnh viễn giữa hai nơi. Vực thẳm này do Thiên Chúa dựng nên, ngay cả Abraham cũng chẳng làm gì được. Kinh thánh mô tả cuộc đối thoại này, làm cho người ta nghĩ rằng vẫn có sự liên lạc giữa hai bên, tức có vấn đề hiệp thông thì làm gì có sự ngăn cách vĩnh viễn. Sự thật không phải như vậy, khi Abraham xác nhận có một vực thẳm lớn đến nỗi bên này có sang bên kia cũng không được, người ta mới hiểu mọi sự đã được an bài, không thể làm gì được, chấm dứt mọi cuộc tranh luận, đối thoại. Còn cuộc nói chuyện chỉ là cách diễn tả tượng trưng để cho thấy hỏa ngục đau đớn như thế nào, người ta khao khát điều gì mà thôi.
“ÔNG NHÀ GIÀU NÓI: ‘LẠY TỔ PHỤ, VẬY THÌ CON XIN TỔ PHỤ SAI ANH LA-DA-RÔ ĐẾN NHÀ CHA CON, VÌ CON HIỆN CÒN NĂM NGƯỜI ANH EM NỮA. XIN SAI ANH ĐẾN CẢNH CÁO HỌ, KẺO HỌ LẠI CŨNG SA VÀO CHỐN CỰC HÌNH NÀY!”
Khi ông nhà giàu thưa Abraham điều này, người ta nghĩ, ông nhà giàu vẫn quan tâm, vẫn yêu thương những người thân của mình, như vậy trong hỏa ngục vẫn còn tình yêu sao? Nếu hỏa ngục có tình yêu thì sao gọi là hỏa ngục, vì như ta biết: hỏa ngục là nơi chỉ có khóc lóc và nghiến răng, họ căm hờn chính mình và căm hờn Thiên Chúa đến tột cùng.
Chỉ cần một chút tình yêu thôi, nó sẽ không còn là hỏa ngục nữa, nhưng ở đây Kinh thánh muốn dàn dựng cuộc đối thoại này để nhắm đến những điều to lớn. Đó là về số phận của những người còn sống, cần phải xem những gương đó để sống cho đàng hoàng, đừng đi vết xe đổ của người đi trước.
Lời yêu cầu của ông Phú hộ xem ra có vẻ hợp lý vì nó nại đến tình liên đới giữa anh em ruột thịt, ông ta đang muốn cứu họ. Nhưng thực ra lời yêu cầu này rất vô lý và bị Tổ phụ từ chối thẳng thừng như sau đây:
“ÔNG ÁP-RA-HAM ĐÁP: ‘CHÚNG ĐÃ CÓ MÔ-SÊ VÀ CÁC NGÔN SỨ, THÌ CHÚNG CỨ NGHE LỜI CÁC VỊ ĐÓ.”
“Môsê và các Ngôn sứ” là cụm từ gọi đến toàn bộ Kinh Thánh. Như vậy, nếu muốn tránh lộ trình đưa đến số phận đau đớn thì hãy lắng nghe Lời Chúa. Từ đó, chúng ta hiểu rằng khi còn sống, ông nhà giàu đã không lắng nghe, tức không vâng theo “Môsê và các Ngôn sứ”, Lời Chúa, với luật căn bản là mến Chúa yêu người.
Thiên Chúa vẫn cảnh tỉnh chúng ta đấy sao! Ngài vẫn cảnh tỉnh chúng ta bằng những gương sống trước mắt, bằng Lời Chúa hằng ngày. Nhất là mỗi dịp Mùa Chay về, Giáo hội vẫn luôn nhắc nhở con cái mình: “Hãy ăn năn sám hối”. Nhưng nào chúng ta có chịu nghe đâu.
“ÔNG NHÀ GIÀU NÓI: ‘THƯA TỔ PHỤ ÁP-RA-HAM, HỌ KHÔNG CHỊU NGHE ĐÂU, NHƯNG NẾU CÓ NGƯỜI TỪ CÕI CHẾT ĐẾN VỚI HỌ, THÌ HỌ SẼ ĂN NĂN SÁM HỐI.’
ÔNG ÁP-RA-HAM ĐÁP: ‘MÔ-SÊ VÀ CÁC NGÔN SỨ MÀ HỌ CÒN CHẲNG CHỊU NGHE, THÌ NGƯỜI CHẾT CÓ SỐNG LẠI, HỌ CŨNG CHẲNG CHỊU TIN’.”
Lập luận của ông Phú hộ xem ra rất có lý, vì khi người chết hiện về báo mộng thì người còn sống ắt phải tin. Nhưng lập luận này cũng bị Tổ phụ Abraham bác bỏ.
Ông nhà giàu không phủ nhận tính đúng đắn của lời tổ phụ Abraham nói, chúng đã có Môsê và các Ngôn sứ, nhưng ông nghĩ rằng anh em ông sẽ vâng theo hơn, nếu có người, như Ladarô, từ cõi chết trở về truyền đạt sứ điệp Môsê.
Chắc chắn Ladarô không thể hơn Môsê; giá trị của anh nằm ở chỗ, anh có thể làm chứng về thế giới âm phủ. Nhưng câu trả lời của tổ phụ Abraham là một lời bình luận về trái tim con người. Nếu người ta không muốn vâng nghe Môsê và các ngôn sứ, thì người từ cõi chết trở về cũng chẳng lay chuyển được lòng dạ của họ.
Lời tổ phụ Abraham phân tích một con tim sống trong tội rất có giá trị: bài dụ ngôn nhắm điều này, nên đã kết thúc ở đây với nhận xét của tổ phụ Abraham. Thật khó mà đưa trái tim con người đến chỗ hoán cải! Sự hoán cải không phải dựa vào một cảm tính nhất thời, nhưng là công việc của ý chí và nghị lực, người ta phải có sự quyết tâm làm lại cuộc đời. Tình cảm luôn hời hợt và bất định, nó có thể thay đổi bất cứ lúc nào, còn lý trí, nghị lực đó mới là sự quyết tâm của con người.
Độc giả để ý trong câu: “Mô-sê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin”
Câu trên có 02 mệnh đề: “Mô-sê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe” – “thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin”. Mệnh đề trước dùng từ “NGHE”, mệnh đề sau dùng từ “TIN”.
Có nghĩa là, nếu người chết có sống lại về báo cho họ, có thể họ nghe, họ nghe vì họ sợ. Nhưng họ không tin, vì tin đó là cái gì sâu xa của con người, đó phải là hồng ân Thiên Chúa ban và có sự cộng tác của con người, nó đòi hỏi con người phải thay đổi tận căn. Họ nghe vì sợ, nhưng họ không tin, có nghĩa sự kiện người chết hiện về chỉ mang lại cảm xúc nhất thời, chứ không biến đổi cuộc đời họ.
Amen.
__________________________
Giuse Nguyễn Viết Tâm.

