DỤ NGÔN KHÁCH ĐƯỢC MỜI XIN KIẾU
“ANH HÃY RA NGOÀI ĐƯỜNG NGOÀI NGÕ, VÀ CỐ ÉP NGƯỜI TA VÀO CHO ĐẦY NHÀ TÔI”.
BÀI ĐỌC I: Pl 2, 5-11
“Người đã tự hạ mình, vì thế Thiên Chúa đã tôn vinh Người”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Philipphê.
Anh em thân mến, anh em hãy cảm nghĩ trong anh em điều đã có trong Đức Giêsu Kitô: Người tuy là thân phận Thiên Chúa, đã không nghĩ phải giành cho được ngang hàng với Thiên Chúa; trái lại, Người huỷ bỏ chính mình mà nhận lấy thân phận tôi đòi, đã trở nên giống như loài người với cách thức bề ngoài như một người phàm.
Người đã tự hạ mình mà vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá. Vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Người, và ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu, để khi nghe tên Giêsu, mọi loài trên trời dưới đất và trong địa ngục phải quỳ gối xuống, và mọi miệng lưỡi phải tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Chúa để Thiên Chúa Cha được vinh quang.
Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 21, 26b-27. 28-30a. 31-32
A+B= Lạy Chúa, bởi Chúa mà lời con ca ngợi vang lên trong Đại hội (c. 26a).
Xướng:
1) Bởi Chúa mà lời con ca ngợi vang lên trong Đại hội. Con sẽ làm trọn những lời khấn hứa của con, trước mặt những người tôn sợ Chúa. Bạn cơ bần sẽ ăn và được no nê, những kẻ tìm kiếm Chúa sẽ ca khen Chúa: “Tâm hồn các bạn hãy vui sống tới muôn đời”. – Đáp.
2) Thiên hạ sẽ ghi lòng và trở về với Chúa, khắp cùng bờ cõi địa cầu; và toàn thể bá tánh chư dân sẽ phủ phục trước thiên nhan Chúa. Bao người ngủ trong lòng đất sẽ tôn thờ duy một Chúa. – Đáp.
3) Miêu duệ con sẽ phục vụ Ngài, sẽ tường thuật về Chúa cho thế hệ tương lai, và chúng kể cho dân hậu sinh biết đức công minh Chúa, rằng: “Điều đó Chúa đã làm”. – Đáp.
ALLELUIA: Tv 147, 12a và 15a
-Giêrusalem, hãy ngợi khen Chúa, Đấng đã sai lời Người xuống cõi trần ai. – Alleluia.
PHÚC ÂM: Lc 14, 15-24
“Anh hãy ra ngoài đường ngoài ngõ, và cố ép người ta vào cho đầy nhà tôi”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, một người đồng bàn thưa cùng Chúa Giêsu rằng: “Phúc cho kẻ sẽ được ăn tiệc trong nước Thiên Chúa”. Người phán cùng kẻ ấy rằng: “Có một người kia dọn tiệc linh đình, và đã mời nhiều thực khách. Tới giờ dự tiệc, ông sai đầy tớ đi báo cho những kẻ được mời để họ đến, vì mọi sự đã dọn sẵn sàng rồi. Nhưng mọi người đồng thanh xin kiếu. Người thứ nhất nói với ông rằng: ‘Tôi mới tậu một thửa ruộng, tôi cần phải đi xem đất, nên xin ông cho tôi kiếu’. Người thứ hai nói: ‘Tôi mới mua năm đôi bò, và tôi phải đi thử chúng, nên xin ông cho tôi kiếu’. Người khác lại rằng: ‘Tôi mới cưới vợ, bởi đó tôi không thể đến được’.
“Người đầy tớ trở về thuật lại những điều đó cho chủ mình. Bấy giờ chủ nhà liền nổi giận, bảo người đầy tớ rằng: ‘Anh hãy cấp tốc đi ra các công trường và các ngõ hẻm thành phố mà dẫn về đây những người hành khất, tàn tật, đui mù và què quặt’. Người đầy tớ trở về trình rằng: ‘Thưa ông, lệnh ông ban đã được thi hành, thế mà hãy còn dư chỗ’. Ông chủ lại bảo người đầy tớ rằng: ‘Anh hãy ra ngoài đường ngoài ngõ và cố ép người ta vào cho đầy nhà tôi. Vì tôi bảo cho các người biết: không một ai trong những kẻ đã được mời, sẽ được nếm bữa tiệc của tôi'”.
Đó là lời Chúa.
_______________________________________
I/. VÀI NÉT VỀ THÁNH MARTINÔ PORRES, tu sĩ.
Ngày 06 tháng 5 năm 1962, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã long trọng suy tôn lên đài vinh quang một vị thánh “da đen” trước mắt 30 Hồng y, rất đông Giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ và gần 70 ngàn giáo dân. Trong ngày lịch sử này, mọi người đều cảm thấy một niềm vui vô tận, khi nhận thấy trong vườn thiêng của Giáo hội trổ sinh nhiều bông hoa đủ màu sắc: một trong những đóa hoa thơm tho đó chính là Thánh Martinô Porres, trợ sĩ dòng Đaminh, một vị thánh trước con mắt người trần không có địa vị ngôi thứ, hơn nữa, còn thuộc về hạng nô lệ “da đen” hèn hạ. Nhưng trước mắt Thiên Chúa, ngài là một vị thánh đáng cho toàn thể nhân loại kính yêu tôn phục, vì lúc bình sinh, ngài đã triệt để thi thố lòng quảng đại bác ái vô biên đối với tha nhân… Ngài đã bắt chước thánh Phaolô hòa mình với những nạn nhân xấu số để thu hút họ về với Chúa Giêsu.
Thân phụ thánh Martinô Porres là một nhà quí phái nước Tây Ban Nha, về sau làm quan trấn thủ xứ Panama; nhưng thân mẫu ngài là một người nô lệ da đen. Khi sinh ra tất nhiên ngài có nước da “bánh mật”, thế nên người cha không muốn nhận ngài là con. Trong sổ rửa tội, Martinô Porres được ghi là “con một người vô danh”.
Thực vậy, vì không được sinh ra do một cuộc hôn nhân chính thức, nên ngay từ nhỏ Martinô đã phải mang tiếng xấu ô nhục là con “ngoại tình”. Mang tiếng tai ác đó, ngài không thể nào tiến thân trong xã hội. Nhưng thay vì bị thất thế trong tự ti mặc cảm, ngài đã chọn ngay lấy đức khiêm nhường để tiến đức và luyện tập cho mình có một bản lĩnh rất đặc biệt là: đơn sơ, dịu hiền, quảng đại, vị tha v.v…
Để sinh nhai, ngài đã học nghề hớt tóc, là nghề thời đó không nguyên gồm việc cắt tóc, cạo râu, nhưng gồm cả việc mổ xẻ và chữa bệnh. Ngài làm rất giỏi, lại sẵn tình thương người và am hiểu nỗi đau khổ của giới nghèo, nên không mấy chốc ngài đã được dân chúng, bạn hữu tuôn đến rất đông và khiến nghề hớt tóc của ngài dần dà trở thành nghề từ thiện bác ái.
Năm 22 tuổi, ngài vào dòng Đaminh. Thoạt tiên với tư cách là người dòng ba giúp việc, sau vì nhân đức nổi bật, ngài đã được nhận làm thầy trợ sĩ và được khấn trọn đời. Từ đó ngài chuyên lo giúp những người nghèo khổ, ốm đau, nhất là những người da đen. Ngài còn giáo hóa họ và giúp họ hiểu rằng họ cũng là con cái Thiên Chúa và đáng hưởng quyền bình đẳng như mọi người khác.
Như để tưởng thưởng nhân đức của thánh Martinô, ngay từ bình sinh, Chúa đã ban cho thánh nhân được nhiều ơn lạ, như nói tiên tri, làm phép lạ và ngất trí.
Một đêm cả thành phố Lima bị động đất, nhà cửa rung chuyển dữ dội. Một thầy sợ hãi chạy đến phòng thầy Martinô tìm chỗ trú ẩn. Thầy gõ cửa nhiều lần mà không thấy trả lời. Thầy lấy tay đẩy mạnh, cửa mở toang, một cảnh tượng kinh khủng hiện ra trước mắt, thầy Martinô nằm dưới đất, hai tay dang ra, tay cầm tràng hạt, mắt lờ đờ. Thầy nọ liền đến bên kêu hoài mà thánh nhân không thưa. Thầy níu áo kéo lôi, thánh nhân cũng không động cựa. Trong phòng thì sáng rực như ban ngày, nên thầy tưởng thánh Martinô đã chết liền bỏ trốn. Lại một đêm khác Juan Vasquez, người giúp việc thánh nhân, vừa bước vào phòng liền thấy ngài quỳ lơ lửng trên không, hai tay giang ra, mắt nhìn thẳng lên tượng Thánh giá, Vasquez khiếp sợ bỏ chạy đi tìm thầy giữ cửa nhà dòng và kể lại cho thầy nghe. Biết câu chuyện, thầy này chỉ mỉm cười nói:
– Em đừng lấy làm lạ, không phải lần thứ nhất người ta thấy như thế đâu? Em sẽ còn thấy thánh Martinô ngất trí như thế nhiều lần nữa.
Ngài còn được ơn điều khiển các loài vật. Ngày kia, một đàn chuột lớn nhỏ không biết từ đâu kéo đến tu viện Santo Rosario cắn quần áo, đồ đạc, làm thiệt hại rất nhiều. Các tu sĩ tìm hết cách đối phó và bỏ thuốc độc thủ tiêu chúng. Thấy vậy, động tình thương, muốn giải thoát cho chúng, ngài gọi một chú chuột nhắt đến mà bảo:
– Này chuột, đã đến lúc nguy khốn cho bay rồi, vì các thầy đang sắp sửa bẫy để tiêu diệt chúng bay, mày hãy chạy đi tìm các bạn đồng loại tập trung ở cuối vườn, ta sẽ nuôi sống chúng bay, nếu chúng bay không làm hại tu viện nữa. Nghe tin ấy, chuột nhắt chạy đi tìm các bạn đồng loại. Trong chốc lát, tất cả chuột lớn chuột nhỏ từng đàn theo sát chân tường bò về phía cuối vườn. Giữ lời hứa với chúng, hằng ngày ngài đem cơm cho chúng ăn và từ ấy tu viện không còn bị nạn chuột phá hoại nữa.
Do tích đó mà xưa nay dân chúng thường cầu xin ngài che chở cho khỏi nạn chuột bọ tàn phá. Một họa sĩ Ý còn để lại một bức họa vẽ thánh nhân đang mở cửa phòng thánh để lùa tất các lũ chuột vào một cái thùng, đưa ra đồng và nuôi cho chúng ăn uống đàng hoàng.
Thánh Martinô chẳng những trổi vượt về bác ái, nhưng còn nổi bật về lòng tôn sùng Chúa chịu đóng đinh, phép Thánh Thể và Đức Mẹ Mân côi. Ngài còn đặc biệt cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục và tìm giúp đỡ các linh mục túng thiếu. Khi ở nhà dòng, ngài có làm bạn với một thầy rất khiêm nhường. Hiện thầy ấy cũng được phong chân phước, đó là thầy Gioan Massias. Tiếng nhân đức ngài vượt qua bốn bức tường viện tu, do đó lôi kéo đến tận giường bệnh của ngài nằm, từ bậc vua chúa cho đến thứ dân.
Vừa nhân đức, thánh Martinô lại rất thông minh. Dù không bao giờ được học bộ Tổng luận thần học của thánh Tôma, nhưng ngài luôn luôn dẫn giải nó cho các giáo sư, sinh viên và trích dẫn những phần đoạn phân minh. Dù không bao giờ học Thánh kinh, nhưng ngài đã am tường mọi chi tiết, lời lẽ của Kinh thánh.
Ngay trên giường bệnh, và chắc là một cách vô ý thức, ngài còn dạy một bài học cho một vị giáo sư thần học. Vị này, thấy ngài run rẩy, nghiến răng và chảy mồ hôi lạnh trên trán. Tưởng rằng ngài đang phải chiến đấu rất mạnh với ma quỷ đến cám dỗ ngài về đức tin, đức cậy, liền khuyên ngài rằng: “Thầy đừng tranh luận với ma quỷ, vì thầy biết nó quỷ quyệt lắm”. Thánh nhân trả lời: “Thật, các nhà thần học cần sợ việc tranh luận với ma quỷ, vì ma quỷ có thể dùng sự khôn ngoan của thiên thần để lừa lọc họ. Còn tôi, tôi tưởng nó cần gì phải dùng đến hết ngón xảo quyệt để làm bối rối và đánh quỵ một người nô lệ da đen khốn nạn này. Điều đó thật bất xứng cho tôi quá!”.
Thật là những lời lẽ đầy khiêm nhường, tuy nhiên không kém phần sâu sắc và giá trị!
Để rút lấy một bài học mà thánh Martinô đã để lại, chúng ta hãy đọc những lời lẽ sau đây mà Đức Thánh Cha Gioan XXIII đã tuyên bố trong buổi tiếp các phái đoàn dự lễ phong thánh, tới yết kiến ngài ngày mồng 07 tháng 5 năm 1962:
– “Trong đời sống của Martinô có ba tình yêu: Tình yêu Chúa Giêsu chịu đóng đinh – Yêu Đức Mẹ mân côi – và yêu Thánh Đaminh. Ngài hằng bốc cháy ba mối đam mê: Ham mê yêu mến người nghèo khó, ốm đau – Ham mê đền tội hãm mình một cách rất nhiệm nhặt mà ngài cho là “Gia đình yêu”- Ham mê khiêm nhường, như để ban ơn sức cho những nhân đức trên. Các con hãy để Ta chú ý riêng đến điểm thứ ba này đôi chút, để được vui sướng chiêm ngưỡng nhân đức đó qua tâm hồn trong suốt của thày Martinô”. Đức khiêm nhường đưa người ta nhìn về những giới hạn đích thực của mình, dõi theo đường lối của lý trí. Trên căn bản ấy, linh hồn được hoàn thiện do ơn kính sợ Chúa. Nhờ ơn ấy, người công giáo khi ý thức rằng chỉ nơi Chúa mới là sự thiện và là sự cao cả của chính mình, sẽ tuyệt đối và tôn thờ Người, xa lánh tội lỗi là sự dữ độc ác nhất làm cho người ta xa cách Chúa vĩnh viễn. Đó là bí quyết của đức khôn ngoan thực hành, nó sẽ điều hành sự sống của những con người sáng suốt và kín đáo. Sách thánh nói: “Sự kính sợ Chúa là trường dạy sự khôn ngoan” (Proz 15,35).
Thánh Martinô được Đức Giáo Hoàng Grêgôriô XVI phong Chân phước năm 1836 và Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII phong thánh năm 1962.
(Nguồn: Hạnh Các thánh)
_________________________________________
II/. BÀI SUY NIỆM (Lc 14, 15-24)
“ANH HÃY RA NGOÀI ĐƯỜNG NGOÀI NGÕ, VÀ CỐ ÉP NGƯỜI TA VÀO CHO ĐẦY NHÀ TÔI”
Hôm nay thứ Ba tuần XXXI Thường niên, chúng ta tiếp tục Chương 14 Phúc âm Luca.
Bối cảnh Bài Tin mừng hôm nay vẫn là bữa tiệc trong nhà một vị Thủ lãnh Biệt phái đã mời Chúa.
Mở đầu Bài Tin mừng, Luca viết:
“KHI ẤY, MỘT NGƯỜI ĐỒNG BÀN THƯA CÙNG CHÚA GIÊSU RẰNG: “PHÚC CHO KẺ SẼ ĐƯỢC ĂN TIỆC TRONG NƯỚC THIÊN CHÚA”.
“NGƯỜI ĐỒNG BÀN” này là ai ? Luca không xác định, nhưng ta có thể hiểu là một người có vai vế trong nhóm Biệt phái (Pharisiêu) vì thế mới được đồng bàn với chúa..
Tại sao ông ta lại nói: “PHÚC CHO KẺ SẼ ĐƯỢC ĂN TIỆC TRONG NƯỚC THIÊN CHÚA” ?
Ông đã nói đên một mối phúc. Đó là mối phúc “ĐƯỢC ĂN TIỆC TRONG NƯỚC THIÊN CHÚA”.
Ông nói đến mối phúc này là do câu nói cuối cùng của Chúa trong đoạn Tin mừng ngay trước đó, Chúa với ông Thủ lĩnh Biệt Phái chủ tiệc. Luca viết:
“khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc: vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại.” (Lc 14, 13 – 14).
Chúa đã đề cập đến mối phúc trong ngày các kẻ lành sống lại, nếu ta biết mời “những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù”.
Mối phúc đó rất to lớn, vì mối phúc đó không đến từ con người, mà là từ Chúa.
Vì nếu ta chỉ mời những người giàu có, danh giá, thì họ sẽ đáp lễ lại ta. Nhưng đây là mời những người không có gì đáp lễ. Vậy nếu được đáp lễ, thì ta phải hiểu đáp lễ ở đây là từ Chúa. Đó mới là mối phúc to lớn.
“ÔNG SẼ ĐƯỢC ĐÁP LỄ TRONG NGÀY CÁC KẺ LÀNH SỐNG LẠI”
Lời Chúa giáo huấn cho các Kitô hữu ý thức rằng: các việc lành phúc đức ta thực hiện cho người bất hạnh, người cơ nhỡ, người nghèo đói, nạn nhân của các thảm họa thiên nhiên,… ví dụ những món tiền và quà cứu trợ trong mùa lũ lượt đang diễn ra, cho dù món quà giúp đỡ đó nhỏ nhặt, sẽ không bao giờ bị quên lãng. Thiên Chúa sẽ ghi nhớ trong ký ức của Ngài, và đến ngày “CÁC KẺ LÀNH SỐNG LẠI”, ý ám chỉ TẬN THẾ, chúng ta sẽ được Thiên Chúa thưởng công xứng đáng
Người đồng bàn thưa với Chúa cho rằng, không những người mời mà tất cả những ai được mời trong bữa tiệc Nước trời đều là người có phúc.
Như vậy, nhân cơ hội bàn tiệc đang diễn ra, Chúa đã mời gọi mọi người hướng về BỮA TIỆC NƯỚC TRỜI và người đồng bàn này đã cảm nhận được. “PHÚC CHO KẺ SẼ ĐƯỢC ĂN TIỆC TRONG NƯỚC THIÊN CHÚA”
Nhưng vấn đề đặt ra là KHÔNG PHẢI TẤT CẢ MỌI NGƯỜI ĐƯỢC MỜI ĐỀU CÓ PHÚC.
Vì thế Bài Tin mừng hôm nay, Chúa đã đưa ra một dụ ngôn rất hay:
Dụ ngôn có tên: “KHÁCH ĐƯỢC MỜI XIN KIẾU”.
Dụ ngôn này Chúa muốn nhắm thẳng vào người Do Thái.
Như ta biết: Một trong những hình ảnh Kinh Thánh dùng để nói về Nước Thiên Chúa, đó là bữa tiệc. Sách Cách Ngôn đã mô tả bữa tiệc của Ðấng Khôn Ngoan như một giá trị cứu rỗi. Ngôn sứ Isaia nói đến bữa tiệc Thiên Chúa dọn ra cho dân khi thời Cứu thế đến, tất cả mọi người đều được mời đến dự, không phân biệt ai. Ðó cũng là bữa tiệc mà Chúa Giêsu dùng để nói về Vương Quốc của Ngài.
Phần đầu dụ ngôn “KHÁCH DỰ TIỆC XIN KIẾU”, Luca viết như sau:
“Người phán cùng kẻ ấy rằng: “Có một người kia dọn tiệc linh đình, và đã mời nhiều thực khách. Tới giờ dự tiệc, ông sai đầy tớ đi báo cho những kẻ được mời để họ đến, vì mọi sự đã dọn sẵn sàng rồi.
Nhưng mọi người đồng thanh xin kiếu.
Người thứ nhất nói với ông rằng: ‘Tôi mới tậu một thửa ruộng, tôi cần phải đi xem đất, nên xin ông cho tôi kiếu’.
Người thứ hai nói: ‘Tôi mới mua năm đôi bò, và tôi phải đi thử chúng, nên xin ông cho tôi kiếu’.
Người khác lại rằng: ‘Tôi mới cưới vợ, bởi đó tôi không thể đến được’
“CÓ MỘT NGƯỜI KIA DỌN TIỆC LINH ĐÌNH, VÀ ĐÃ MỜI NHIỀU THỰC KHÁCH. TỚI GIỜ DỰ TIỆC, ÔNG SAI ĐẦY TỚ ĐI BÁO CHO NHỮNG KẺ ĐƯỢC MỜI ĐỂ HỌ ĐẾN, VÌ MỌI SỰ ĐÃ DỌN SẴN SÀNG RỒI”.
Để hiểu được câu Tin mừng này, ta hãy nói đến phong tục của nước Palestina thời Chúa Giêsu.
Tại Palestina, mỗi khi tổ chức một bữa tiệc lớn, khách luôn được mời trước, và người chủ tiệc cũng nhận được câu trả lời của khách trước.
ÔNG SAI ĐẦY TỚ ĐI BÁO CHO NHỮNG KẺ ĐƯỢC MỜI ĐỂ HỌ ĐẾN
Khi tiệc rượu đã sẵn, ông chủ sai các đầy tớ đi báo cho người được mời để họ đến dự. Lần nảy chỉ đi báo chứ không mời nữa, vì đã mời trước rồi.
Có nghĩa, CHỦ TIỆC PHẢI BIẾT ĐƯỢC CÓ BAO NHIÊU NGƯỜI ĐẾN DỰ TIỆC, trước khi làm bữa tiệc.
Việc này nhắm tránh xảy ra tình trạng khách được mời không đến, hoặc không được mời mà lại đến, tức không xảy ra tình trạng hoang phí hoặc thiếu hụt.
Còn ngày nay, người ta cứ phát thiệp mời trước, rồi sau đó làm tiệc dựa trên số thiệp đã mời, và có phòng xa, họ sẽ làm thêm một hai mâm nữa nhằm đáp ứng số khách phát sinh bất ngờ.
Và trong một xã hội văn minh, thường người nhận được thiệp sẽ đến dự tiệc, cho nên nếu có bị “ế” thường là do yếu tố khách quan phát sinh như do trời mưa bão,…còn đa số thì sẽ vừa vặn và người chủ tiệc thường không bị “lỗ”, cả chủ lẫn khách đều vui vẻ.
Nhưng ở thời Chúa Giêsu, tổ chức tiệc có phần “chắc ăn” hơn, chủ tiệc sẽ biết trước số người đến dự tiệc nên làm tiệc rất vừa vặn, không thừa, không thiếu.
Oái ăm thay dụ ngôn Chúa đưa ra là một trường hợp đặc biệt xưa nay hiếm, Luca viết: “NHƯNG MỌI NGƯỜI ĐỒNG THANH XIN KIẾU”.
Có thể nói trên thế gian này, từ xưa đến nay không có bữa tiệc nào mà mọi người đồng thanh xin kiếu, nếu có xin kiếu chỉ một vài người thôi. Nhưng ở đây dụ ngôn nói: “mọi người đồng thanh xin kiếu”, vậy phải nói là “quá đen đủi”.
Có nghĩa những người đã đồng ý đến dự tiệc rồi, đến giờ phút chót lại đồng loạt xin kiếu. Mà lý do họ đưa ra rất tầm thường không xứng với bữa tiệc. Luca viết:
“Người thứ nhất nói với ông rằng: ‘Tôi mới tậu một thửa ruộng, tôi cần phải đi xem đất, nên xin ông cho tôi kiếu’.
Người thứ hai nói: ‘Tôi mới mua năm đôi bò, và tôi phải đi thử chúng, nên xin ông cho tôi kiếu’.
Người khác lại rằng: ‘Tôi mới cưới vợ, bởi đó tôi không thể đến được’.
Các lý do đưa ra đó là: “mới tậu một thửa ruộng cần phải đi xem đất” – “mới mua năm đôi bò, và phải đi thử chúng” – “mới cưới vợ”.
Thưở ruộng, năm đôi bò, nó vẫn còn đó chứ có mất đi đâu, tại sao họ không để ngày hôm sau mà phải thử trong ngày hôm nay, trong khi họ đã trả lời nhận dự tiệc.
Ngay cả chuyện cưới vợ, chuyện vợ chồng là chuyện cả đời, không hôm nay thì ngày mai, làm gì mà “nóng sốt” vậy, cứ như sợ bị mất vợ không bằng
Chỉ có lý do, mẹ mất hay cha mất thì còn có thể nghe dược, nhưng đây cũng là lý do rất hiếm, không lẽ mọi người xin kiếu đều có mẹ mất hay bố mất hay sao !
Như vậy ta có thể nói những khách dự tiệc này là những con người VÔ TRÁCH NHIỆM VÀ KHÔNG CÓ MỘT CHÚT UY TÍN TRÊN LỜI NÓI CỦA MÌNH.
“MỌI NGƯỜI ĐỒNG THANH XIN KIẾU” chứ không riêng người nào. Đây có thể nói là “một cú sốc lớn” đối với chủ tiệc, làm cho ÔNG BỊ MẤT MẶT, chỉ có nước “độn thổ” mới đỡ nhục.
Trong ý nghĩa là BỮA TIỆC NƯỚC TRỜI
Thiên Chúa là ông chủ của bữa tiệc Nước Trời cũng đã chuẩn bị một bữa tiệc lớn cho dân Israel. Các Tiên tri được sai đi mời, và khách được mời cũng sống trong tâm tình chờ đợi. Ngoài sách Tiên tri ra cũng còn có các Thánh vịnh nói lên tâm tình tin tưởng và đợi chờ Thiên Chúa. Thế nhưng, khi giờ đến, lúc tiệc rượu đã chuẩn bị sẵn sàng thì khách được mời lại từ chối.
Bàn tiệc Nước Trời vẫn được dọn ra và khách được mời hôm nay không ai khác hơn là mỗi Kitô hữu chúng ta.
Bí tích Rửa tội là tấm thiệp cho phép chúng ta tham dự bàn tiệc này. Nhưng khi giờ đến, chúng ta lại để mình bị lôi cuốn bởi của cải vật chất, bởi công việc, bởi lo toan sự đời, bởi thú vui trần thế, mà bỏ qua lời mời gọi đến tham dự bàn tiệc thánh.
Thiên Chúa vẫn mời gọi và chờ đợi chúng ta. Ước gì chúng ta hiểu đúng giá trị của bữa tiệc Ngài dọn sẵn cho chúng ta mỗi ngày, để với tất cả lòng yêu mến biết ơn, chúng ta tham dự, ngõ hầu chúng ta được mạnh sức tiến tới bàn tiệc vĩnh cửu trên Thiên quốc.
Ông chủ rất bực mình, và Luca đã ghi lại phản ứng của ông như sau:
“”Người đầy tớ trở về thuật lại những điều đó cho chủ mình. Bấy giờ chủ nhà liền nổi giận, bảo người đầy tớ rằng: ‘Anh hãy cấp tốc đi ra các công trường và các ngõ hẻm thành phố mà dẫn về đây những người hành khất, tàn tật, đui mù và què quặt’
“’ANH HÃY CẤP TỐC ĐI RA CÁC CÔNG TRƯỜNG VÀ CÁC NGÕ HẺM THÀNH PHỐ MÀ DẪN VỀ ĐÂY NHỮNG NGƯỜI HÀNH KHẤT, TÀN TẬT, ĐUI MÙ VÀ QUÈ QUẶT’
Tiệc đã mở ra không thể thu hồi lại, và để làm đầy phòng tiệc thì bây giờ sẽ được điền đầy bởi các khách thập phương ở “CÁC CÔNG TRƯỜNG VÀ CÁC NGÕ HẺM THÀNH PHỐ”. Ông chủ ra lệnh: “DẪN VỀ ĐÂY”, có nghĩa không cần phải có thiệp mời, và cố nài ép họ.
Bây giờ chỗ của những người tử tế, danh gia vọng tộc, người có chức tước và địa vị sẽ được thay thế bởi “NHỮNG NGƯỜI HÀNH KHẤT, TÀN TẬT, ĐUI MÙ VÀ QUÈ QUẶT”.
Đây cũng là 4 loại người, mà Bài Tin mừng trước đó, Chúa nói với ông Thủ lĩnh Biệt Phái khi mở tiệc nên mời những người đó.
Ông chủ trong dụ ngôn đã phản ứng mạnh mẽ như một cách “dằn mặt” những người đã phản bội ông. Ở đây ông không cần mời mà là “DẪN VỀ ĐÂY”.
Tất cả mọi người Ít-ra-en đều được Thiên Chúa mời dự tiệc Nước trời. Bây giờ, Đức Giêsu đến mời lần chót. Cần phải ăn năn sám hối trở về vì đây là ngày cứu độ. Biệt phái từ chối lời mời của Người vì họ lo việc riêng của họ, quay mặt đi chỗ khác không lưu tâm đến Thiên Chúa. Họ phỉ báng và kiêu ngạo từ chối quà tặng vinh quang của Thiên Chúa.
Cho dù các đầy tớ đã thực hành lệnh của chủ thì số người đến dự tiệc vẫn chưa đủ, còn nhiều chỗ trống. Chủ lại ra lệnh lần thứ hai:
“’ANH HÃY RA NGOÀI ĐƯỜNG NGOÀI NGÕ VÀ CỐ ÉP NGƯỜI TA VÀO CHO ĐẦY NHÀ TÔI”.
Bảy giờ không còn là công trường hay thành phố nữa mà là “NGOÀI ĐƯỜNG NGOÀI NGÕ”, có nghĩa đến với những kẻ lang thang đầu đường xó chợ”, người ăn xin, hành khất,…
Bây giờ không còn “DẪN VỀ ĐÂY” nữa mà là “CỐ ÉP”, có nghĩa lần đầu có nhiều người được mời quá bất ngờ nên họ tỏ ra ngần ngại, nên số khách đến dự tiệc vẫn chưa đủ, lần này thì đầy tớ cố ép cho bằng được.
“Nói nhẹ không nghe thì phải dùng biện pháp mạnh”.
Ông chủ lúc đó sai đi mời vào dự đại tiệc tất cả mọi người đã bị cộng đồng dân thánh Ít-ra-en loại bỏ. Vẫn còn nhiều chỗ trống trong đại tiệc, đầy tớ lại đi mời tất cả dân ngoại một cách tha thiết, khẩn khoản dù họ luôn bị coi là thứ ô uế như cộng đồng Ít-ra-en khinh bỉ họ. Họ được thuyết phục để họ thấy mình thật sự được mời dự đại tiệc.
Trước sự chai đá của biệt phái đã từ chối tin vào Đức Giêsu, Ngài muốn nhấn mạnh để họ suy nghĩ rằng: Họ đã tự ý tách khỏi nước trời, trong khi Thiên Chúa vô cùng thương yêu đã kêu gọi những người nghèo khó và tội lỗi, dù họ cảm thấy họ là kẻ bất xứng nhất, thì bây giờ Thiên Chúa sẽ ưu ái đến những người mà người Do Thái đã loại bỏ.
Kết thúc dụ ngôn, Chúa phán:
“VÌ TÔI BẢO CHO CÁC NGƯỜI BIẾT: KHÔNG MỘT AI TRONG NHỮNG KẺ ĐÃ ĐƯỢC MỜI, SẼ ĐƯỢC NẾM BỮA TIỆC CỦA TÔI”.
Đây là một quyết định mạnh mẽ và dứt khoát dành cho những khách được mời nhưng xin kiếu vào giờ phút chót.
Họ khộng xứng đáng được “NẾM BỮA TIỆC” chứ đừng nói gì “ĂN BỮA TIỆC”.
Câu nói của Chúa có ý nghĩa, họ sẽ BỊ LOẠI RA KHỎI BỮA TIỆC NƯỚC TRỜI = LOẠI RA KHỎI NƯỚC THIÊN CHÚA.
Người Do Thái có suy nghĩ gì trước dụ ngôn này ?
TRONG BÀI ĐỌC I trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Philipphê.
Thánh Phaolô đã viết về Chúa Giêsu như sau:
“”Người đã tự hạ mình, vì thế Thiên Chúa đã tôn vinh Người”.
Sự tự hạ của Chúa Giêsu thật sâu thẳm, vì như Thánh Phaolô viết:
“Người tuy là thân phận Thiên Chúa, đã không nghĩ phải giành cho được ngang hàng với Thiên Chúa; trái lại, Người huỷ bỏ chính mình mà nhận lấy thân phận tôi đòi, đã trở nên giống như loài người với cách thức bề ngoài như một người phàm”.
Tự hạ đến nỗi không còn ai nhận ra Ngài là Con Thiên Chúa nữa.
Không những tự hạ, Chúa Giêsu còn vâng theo Thánh ý Cha cách triệt để, chính vì thế mà Ngài đã được Chúa Cha tôn vinh:
“Người đã tự hạ mình mà vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá. Vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Người, và ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu”.
Với Bài Tin mừng hôm nay, chúng ta hãy dâng lên Chúa lời cầu nguyện sau đây:
“Lạy Chúa, Chúa đã mời gọi chúng con vào dự tiệc Nước Trời. Xin Chúa cũng giúp chúng con biết đặt đúng bậc thang giá trị của hạnh phúc đời này và hạnh phúc đời đời.
Amen.
________________________
Giuse Vĩnh Tâm.
LỜI CHÚA THỨ BA TUẦN XXXI THƯỜNG NIÊN NĂM CHẴN 2020 (03/11/2020) – (Lc 14, 15-24) – THÁNG CẤU CHO CÁC LINH HỒN THÁNH MARTINÔ PORRES, tu sĩ – Lễ nhớ.
Trang Chủ » Bài Giảng - Suy Niệm Tin Mừng » LỜI CHÚA THỨ BA TUẦN XXXI THƯỜNG NIÊN NĂM CHẴN 2020 (03/11/2020) – (Lc 14, 15-24) – THÁNG CẤU CHO CÁC LINH HỒN THÁNH MARTINÔ PORRES, tu sĩ – Lễ nhớ.

