“CHÚC TỤNG ĐẤNG NHÂN DANH CHÚA MÀ ĐẾN”.
I/. KIỆU LÁ
BÀI PHÚC ÂM: Lc 19, 28-40
“Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, Chúa Giêsu đi trước lên Giêrusalem. Và xảy ra là khi Người đến gần Bếtphaghê và Bêtania, giáp núi gọi là núi Cây Dầu, Người sai hai môn đệ đi và bảo rằng: “Các con hãy đến làng trước mặt kia, vừa vào làng, các con sẽ gặp con lừa con cột sẵn đó chưa ai cỡi bao giờ; các con hãy mở dây mà dẫn về. Và nếu có ai hỏi các con “Tại sao các ông mở dây?”, thì hãy nói thế này: “Vì Chúa cần dùng đến nó”. Hai người được sai ra đi, và gặp lừa con đứng đó như Chúa đã bảo. Hai ông đang mở dây lừa con, thì chủ nó hỏi rằng: “Sao các ông mở dây lừa con?” Hai ông đáp: “Vì Chúa cần đến nó”. Hai ông dắt lừa về cho Chúa Giêsu, trải áo lên mình lừa và đặt Chúa lên trên. Dọc đàng, người ta trải áo trên lối đi. Khi Người đến gần triền núi Cây Dầu, tất cả đoàn môn đệ hân hoan lớn tiếng ca ngợi Chúa về mọi phép lạ họ đã thấy mà rằng: “Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến! Bình an trên trời và vinh quang trên các tầng trời”. Một vài người biệt phái trong đám đông nói cùng Người rằng: “Thưa Thầy, xin hãy mắng các môn đệ Ngài đi”. Chúa Giêsu nói: “Tôi bảo cho các ông biết: nếu họ làm thinh, thì những viên đá sẽ la lên”.
Đó là lời Chúa.
________________________
II/. THÁNH LỄ
BÀI ĐỌC I: Is 50, 4-7
“Tôi đã không giấu mặt mũi tránh những lời nhạo cười, nhưng tôi biết tôi sẽ không phải hổ thẹn”.
(Bài ca thứ ba về Người Tôi Tớ Chúa)
Trích sách Tiên tri Isaia.
Chúa đã ban cho tôi miệng lưỡi đã được huấn luyện, để tôi biết dùng lời nói nâng đỡ kẻ nhọc nhằn. Mỗi sáng Người đánh thức tôi, Người thức tỉnh tai tôi, để nghe lời Người giáo huấn. Thiên Chúa đã mở tai tôi, mà tôi không cưỡng lại và cũng chẳng thối lui. Tôi đã đưa lưng cho kẻ đánh tôi, đã đưa má cho kẻ giật râu; tôi đã không che giấu mặt mũi, tránh những lời nhạo cười và những người phỉ nhổ tôi. Vì Chúa nâng đỡ tôi, nên tôi không phải hổ thẹn; nên tôi trơ mặt chai như đá, tôi biết tôi sẽ không phải hổ thẹn.
Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 21, 8-9. 17-18a. 19-20. 23-24
Đáp: Ôi Thiên Chúa! Ôi Thiên Chúa! sao Chúa đã bỏ con? (c. 2a)
Xướng:
1) Bao người thấy con đều mỉa mai con, họ bĩu môi, họ lắc đầu: “Hắn tin cậy Chúa, xin Ngài cứu hắn, xin Ngài giải gỡ hắn, nếu Ngài yêu thương”. – Đáp.
2) Đứng quanh con là đàn ưng khuyển, một lũ côn đồ bao bọc lấy con. Chân tay con chúng đều chọc thủng, con có thể đếm được mọi đốt xương con. – Đáp.
3) Phần chúng thì nhìn xem con và vui vẻ, đem y phục của con chia sẻ với nhau, còn tấm áo dài, thì chúng rút thăm. Phần Ngài, lạy Chúa, xin chớ đứng xa con, ôi Đấng phù trợ con, xin kíp ra tay nâng đỡ. – Đáp.
4) Con sẽ tường thuật danh Chúa cho các anh em, giữa nơi công hội, con sẽ ngợi khen Người. “Chư quân là người tôn sợ Chúa, xin hãy ca khen Chúa. Toàn thể miêu duệ nhà Giacóp, hãy chúc tụng Người, hãy tôn sợ Người, hết thảy dòng giống Israel!” – Đáp.
BÀI ĐỌC II: Pl 2, 6-11
“Người đã tự hạ mình; vì thế Thiên Chúa đã tôn vinh Người”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Philipphê.
Chúa Giêsu Kitô, tuy là thân phận Thiên Chúa, đã không nghĩ phải giành cho được ngang hàng với Thiên Chúa; trái lại, Người huỷ bỏ chính mình mà nhận lấy thân phận tôi đòi, đã trở nên giống như loài người, với cách thức bề ngoài như một người phàm. Người đã tự hạ mình mà vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá. Vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Người, và ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu, để khi nghe tên Giêsu, mọi loài trên trời dưới đất và trong địa ngục phải quỳ gối xuống, và mọi miệng lưỡi phải tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Chúa để Thiên Chúa Cha được vinh quang.
Đó là lời Chúa.
CÂU XƯỚNG TRƯỚC PHÚC ÂM: Pl 2, 8-9
Chúa Kitô vì chúng ta, đã vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá. Vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Người, và ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu.
BÀI THƯƠNG KHÓ: Lc 22, 14 – 23, 56 (bài dài)
“Sự Thương Khó Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”.
Các ký hiệu viết tắt:
LM: Linh mục
XV1:Xướng viên 1
XV2: Xướng viên 2
LM: Bài Thương Khó Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, theo Thánh Luca.
XV1: Đến giờ, Chúa Giêsu vào bàn ăn với mười hai tông đồ và bảo các ông:
LM: “Thầy đã tha thiết ước ao ăn Lễ Vượt Qua này với các con trước khi chịu khổ nạn. Thầy bảo các con, Thầy sẽ chẳng bao giờ ăn lễ này nữa, cho đến khi lễ này được thực hiện trong nước Thiên Chúa”.
XV1: Rồi Người cầm chén, tạ ơn và phán:
LM: “Các con hãy lãnh nhận chén này mà chia cho nhau: Thầy bảo cho các con biết: Thầy sẽ không uống thứ nho này nữa cho đến khi nước Thiên Chúa đến!”
XV1: Đoạn Người cầm bánh và tạ ơn, bẻ ra và trao cho các ông mà phán:
LM: “Này là Mình Ta hiến ban vì các con, các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta”.
XV1: Cùng một thể thức ấy, sau bữa ăn tối, Người cầm lấy chén mà phán:
LM: “Chén này là Tân ước trong Máu Ta sẽ đổ ra vì các con. Vả lại này tay kẻ nộp Ta đang ở gần Ta, ngay trên bàn này. Đành rằng Con Người sẽ ra đi như đã được ấn định, nhưng vô phúc cho kẻ nộp Người!”
XV1: Bấy giờ các ông bắt đầu hỏi nhau xem ai trong nhóm họ là kẻ làm điều đó. Giữa các ông cũng xảy ra một cuộc tranh giành xem ai trong họ được coi là cao trọng hơn hết. Nhưng Người bảo:
LM: “Vua chúa các dân ngoại thì thống trị dân, và những kẻ có quyền hành trên dân thì bắt dân gọi mình là ân nhân. Phần các con, thì không như thế, vì ai cao trọng hơn (trong) các con thì hãy trở thành như người nhỏ nhất, và kẻ làm đầu, hãy trở thành như người hầu hạ. Vì người ngồi ăn và kẻ hầu hạ, ai trọng hơn, nào chẳng phải là người ngồi ăn ư? Thế mà Thầy, Thầy ở giữa các con như người hầu hạ. Còn các con, các con đã kiên trì với Thầy trong các cơn gian nan của Thầy, và Thầy xếp đặt nước trời cho các con như Cha Thầy đã xếp đặt cho Thầy, để các con sẽ được ăn uống đồng bàn trong nước Thầy, và được ngồi trên toà xét xử mười hai chi tộc Israel!”
XV1: Rồi Chúa nói:
LM: “Simon, Simon, này ma quỷ đã đòi sàng các con như sàng gạo, nhưng Ta đã cầu nguyện để con khỏi mất đức tin. Và phần con, khi đã trở lại, con hãy làm cho anh em con vững tin”.
XV1: Ông thưa Người:
XV2: “Lạy Thầy, con sẵn sàng theo Thầy, dù vào tù hay đi chịu chết”.
XV1: Nhưng Người đáp:
LM: “Phêrô, Thầy bảo cho con biết: hôm nay khi gà chưa gáy, con đã ba lần chối rằng không biết Thầy”.
XV1: Và Người bảo các ông:
LM: “Khi Thầy sai các con đi không mang theo túi tiền, không bị, không giày dép, nào các con có thiếu thốn sự gì không?”
XV1: Các ông thưa:
XV2: “Không thiếu gì cả”.
XV1: Vậy Người nói:
LM: “Nhưng bây giờ ai có túi tiền, hãy cầm lấy, ai có bị, cũng hãy làm như vậy, và ai không có gươm, thì hãy bán áo choàng mình mà mua lấy gươm. Vì Thầy bảo các con hay: còn điều này chép về Thầy cũng cần phải được ứng nghiệm: ‘Người đã bị liệt vào số những kẻ gian ác’. Vì mọi điều đã chép về Thầy phải được hoàn tất”.
XV1: Các ông thưa Người:
XV2: “Thưa Thầy, này có hai thanh gươm đây”
.XV1: Và Người bảo:
LM: “Đủ rồi”.
XV1: Đoạn Người ra đi lên núi cây ôliu như thường lệ. Các môn đệ cũng đi theo Người. Đến nơi, Người bảo các ông:
LM: “Các con hãy cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ”.
XV1: Rồi Người đi xa các ông một quãng bằng ném một hòn đá và quỳ gối cầu nguyện rằng:
LM: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin Cha cất chén này xa con. Nhưng xin đừng theo ý con muốn, một theo ý Cha”.
XV1: Bấy giờ có thiên thần từ trời hiện ra an ủi Người. Và lâm cơn hấp hối, Người cầu nguyện thiết tha hơn, và mồ hôi Người chảy ra như những giọt máu rơi xuống đất. Cầu nguyện xong, Người đứng dậy, trở lại chỗ các môn đệ, và thấy các ông còn đang ngủ vì buồn sầu. Người liền bảo:
LM: “Các con ngủ ư? Hãy dậy và cầu nguyện, kẻo sa chước cám dỗ”.
XV1: Người còn đang nói, thì này đây (xuất hiện) một lũ đông, và một người trong nhóm Mười Hai là Giuđa dẫn đầu. Hắn lại gần Chúa Giêsu để hôn Người. Chúa Giêsu bảo hắn:
LM: “Giuđa, ngươi lấy cái hôn để nộp Con Người ư?”
XV1: Thấy các sự sắp xảy ra, những kẻ đứng chung quanh Người liền hỏi:
XV2: “Thưa Thầy, chúng con có nên dùng gươm mà chém không?”
XV1: Và một người trong các ông chém tên đầy tớ thầy thượng tế đứt tai phải. Nhưng Chúa Giêsu lên tiếng bảo:
LM: “Thôi, đủ rồi”.
XV1: Và Người sờ vào tai người đầy tớ ấy mà chữa cho y lành lại. Rồi Chúa Giêsu bảo các kẻ đến bắt Người gồm các thượng tế, trưởng vệ binh đền thờ và kỳ lão rằng:
LM: “Các ngươi cầm gươm giáo gậy gộc đi bắt Ta như bắt tên cướp ư? Hằng ngày Ta ngồi trong đền thờ giữa các ngươi mà các ngươi không bắt Ta. Nhưng đây là giờ của các ngươi và của quyền lực tối tăm”.
XV1: Chúng liền bắt Người và điệu tới nhà thầy thượng tế. Còn Phêrô đi theo xa xa. Họ đốt lửa ngay giữa sân và ngồi vòng quanh, Phêrô cũng ngồi lẫn với họ. Một đứa đầy tớ gái thấy ông ngồi gần lửa, thì nhìn kỹ ông và bảo:
XV2: “Cả ông này cũng theo hắn”.
XV1: Nhưng ông chối và nói:
XV2: “Này chị, tôi đâu quen biết người ấy”.
XV1: Một lát sau, có người khác nhìn ông và nói:
XV2: “Chính ông cũng là người trong bọn đó”.
XV1: Nhưng Phêrô đáp:
XV2: “Này anh, đâu có phải tôi”.
XV1: Chừng một giờ sau, một người khác lại quả quyết rằng:
XV2: “Đúng ông này cũng theo người ấy: vì ông ta cũng là người xứ Galilêa”.
XV1: Phêrô đáp:
XV2: “Này anh, tôi không biết anh muốn nói gì?”
XV1: Khi ông còn đang nói, thì lập tức gà liền gáy. Chúa Giêsu quay lại nhìn Phêrô. Bấy giờ Phêrô mới sực nhớ lời Chúa đã bảo ông trước: Khi gà gáy, con đã chối Thầy ba lần. Phêrô liền ra ngoài và khóc lóc thảm thiết.
Những kẻ canh giữ người, nhạo cười và đánh đập Người. Chúng che mặt Người, vả mặt mà hỏi Người rằng:
XV2: “Hãy đoán xem ai đánh ngươi đó”.
XV1: Và chúng còn thốt ra nhiều lời khác nhục mạ Người. Vừa sáng ngày, các kỳ lão trong dân, các thượng tế và các luật sĩ hội lại và cho điệu Người ra trước công nghị mà nói:
XV2: “Nếu ông là Đấng Kitô, hãy nói cho chúng tôi hay”.
XV1: Người trả lời:
LM: “Tôi có nói, các ông cũng chẳng tin tôi, và nếu tôi có hỏi, các ông cũng chẳng trả lời và cũng chẳng tha tôi. Nhưng từ giờ đây, Con Người sẽ ngự bên hữu Thiên Chúa toàn năng”.
XV1: Mọi người đều hỏi lại:
XV2: “Vậy ông là Con Thiên Chúa ư?”
XV1: Người đáp:
LM: “Các ông nói đúng, Ta là Con Thiên Chúa”.
XV1: Bấy giờ họ nói:
XV2: “Chúng ta còn cần chứng cớ chi nữa? Vì chính chúng ta cũng nghe y nói”.
XV1: Đoạn tất cả bọn họ đứng dậy và giải Người đến Philatô. Họ bắt đầu tố cáo Người rằng:
XV2: “Chúng tôi đã thấy người này xúi giục dân nổi loạn, ngăn cản nộp thuế cho Cêsarê, và còn tự xưng là Kitô Vua”.
XV1: Philatô bảo các thượng tế và đám đông rằng:
XV2: “Ta không thấy người này có tội gì”.
XV1: Nhưng họ cố nài rằng:
XV2: “Người này đã làm náo động dân chúng, giảng dạy khắp xứ Giuđêa, bắt đầu từ Galilêa đến đây”.
XV1: Philatô vừa nghe nói đến Galilêa, liền hỏi cho biết có phải đương sự là người xứ Galilêa không. Và khi đã biết Người thuộc thẩm quyền Hêrôđê, quan liền sai giải Người cho Hêrôđê cũng có mặt tại Giêrusalem trong những ngày ấy. Hêrôđê thấy Chúa Giêsu thì mừng rỡ lắm, vì từ lâu ông ao ước thấy Người, bởi đã nghe nói về Người rất nhiều, và hy vọng xem Người làm một vài phép lạ. Nhà vua hỏi Người rất nhiều lời, nhưng Người không đáp gì hết. Trong khi ấy, các thượng tế và luật sĩ ở đó tố cáo Người dữ dội. Còn Hêrôđê cùng các quan lính thì khinh dể và nhạo báng Người, đoạn khoác cho Người một cái áo choàng trắng và gởi trả Người cho Philatô. Chính ngày đó, Hêrôđê và Philatô trở thành bạn hữu, vì trước kia họ là thù địch với nhau. Bấy giờ Philatô triệu tập các thượng tế, các thủ lãnh và dân chúng lại, rồi bảo họ:
XV2: “Các ngươi đã nộp cho ta người này như một kẻ xúi giục dân làm loạn, nhưng đây ta đã tra xét trước mặt các ngươi, và ta không thấy người này phạm tội nào trong những tội các ngươi tố cáo. Cả vua Hêrôđê cũng thấy như vậy, vì ta đã cử các ngươi đến nhà vua và nhà vua cũng không thấy có chi đáng tội chết cả. Vậy ta sẽ cho sửa phạt, rồi tha đi”.
XV1: Mỗi dịp lễ, quan tổng trấn phải phóng thích cho họ một người tù. Vậy toàn dân đồng thanh kêu lên:
XV2: “Hãy giết người này, và tha Baraba cho chúng tôi”.
XV1: Tên này vì dấy loạn trong thành và giết người, nên đã bị tống ngục. Nhưng Philatô muốn tha Chúa Giêsu, nên lại nói với dân chúng. Nhưng chúng càng la to hơn và nói:
XV2: “Hãy đóng đinh nó, hãy đóng đinh nó vào thập giá!”
XV1: Lần thứ ba, quan lại nói với dân chúng:
XV2: “Người này đã làm gì xấu? Ta không thấy nơi ông ấy có lý do để lên án tử hình. Vậy ta sẽ trừng phạt, rồi tha đi”.
XV1: Chúng lại la lớn tiếng, nhất định đòi đóng đinh Người vào thập giá, và tiếng la hét của chúng càng dữ dội hơn. Philatô liền tuyên án theo lời chúng yêu cầu. Vậy quan phóng thích tên đã bị cầm tù vì dấy loạn và giết người, là kẻ mà chúng đã xin tha, còn Chúa Giêsu thì quan trao phó để mặc ý chúng. Khi điệu Người đi, chúng bắt một người xứ Xyrênê, tên Simon, ở ngoài đồng về, chúng bắt ông vác thập giá theo sau Chúa Giêsu. Đám đông dân chúng theo Người, có cả mấy người phụ nữ khóc thương Người. Nhưng Chúa Giêsu ngoảnh mặt lại bảo họ rằng:
LM: “Hỡi con gái Giêrusalem, đừng khóc thương Ta, hãy khóc thương chính các ngươi và con cái các ngươi. Vì này, sắp đến ngày người ta sẽ than rằng: “Phúc cho người son sẻ, phúc cho những lòng không sinh nở và những vú không nuôi con”. Bấy giờ người ta sẽ lên tiếng với núi non rằng: “Hãy đổ xuống đè chúng tôi”, và nói với các gò nổng rằng: “Hãy che lấp chúng tôi đi”. Vì nếu cây tươi còn bị xử như vậy, thì gỗ khô sẽ ra sao?”
XV1: Cùng với Người, chúng còn điệu hai tên gian ác nữa đi xử tử. Khi đã đến nơi gọi là Núi Sọ, chúng đóng đinh Người vào thập giá cùng với hai tên trộm cướp, một đứa bên hữu và một đứa bên tả Người. Bấy giờ Chúa Giêsu than thở rằng:
LM: “Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm”.
XV1: Rồi chúng rút thăm mà chia nhau áo Người. Dân chúng đứng đó nhìn xem, và các thủ lãnh thì cười nhạo Người mà rằng:
XV2: “Nó đã cứu được kẻ khác, thì hãy tự cứu mình đi nếu nó thật là Đấng Kitô, người Thiên Chúa tuyển chọn”.
XV1: Quân lính đều chế diễu Người và đưa dấm cho Người uống và nói:
XV2: “Nếu ông là vua dân Do-thái, ông hãy tự cứu mình đi”.
XV1: Phía trên đầu Người có tấm bảng đề chữ Hy-lạp, La-tinh và Do-thái như sau: “Người này là vua dân Do-thái”. Một trong hai kẻ trộm bị đóng đinh trên thập giá cũng sỉ nhục Người rằng:
XV2: “Nếu ông là Đấng Kitô, ông hãy tự cứu ông và cứu chúng tôi nữa”.
XV1: Đối lại, tên kia mắng nó rằng:
XV2: “Mi cũng chịu đồng một án mà mi chẳng sợ Thiên Chúa sao. Phần chúng ta, như thế này là đích đáng, vì chúng ta chịu xứng với việc chúng ta đã làm, còn Ông này, Ông có làm gì xấu đâu?”
XV1: Và anh ta thưa Chúa Giêsu rằng:
XV2: “Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi”.
XV1: Chúa Giêsu đáp:
LM: “Quả thật, Ta bảo ngươi: ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta”.
XV1: Lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu, tối tăm liền bao trùm cả mặt đất cho đến giờ thứ chín. Mặt trời trở nên u ám, màn trong đền thờ xé ra làm đôi ngay chính giữa. Lúc đó Chúa Giêsu kêu lớn tiếng rằng:
LM: “Lạy Cha, Con phó linh hồn Con trong tay Cha”.
XV1: Nói đoạn, Người trút hơi thở.
LM: (Quỳ gối thinh lặng thờ lạy trong giây lát)
XV1: Thấy sự việc xảy ra, viên sĩ quan ca tụng Thiên Chúa rằng:
XV2: “Ông này quả thật là người công chính”.
XV1: Và tất cả dân chúng có mặt thấy cảnh tượng đó, và chứng kiến những sự việc xảy ra, liền đấm ngực trở về.
Đứng xa xa, có những kẻ quen biết Người, và mấy phụ nữ đi theo Người từ xứ Galilêa, họ cũng chứng kiến. Tuy nhiên, có một công nghị viên tên là Giuse, người tốt lành và công chính. Ông này đã không đồng ý với mưu toan và hành động của các công nghị viên khác, ông quê ở thành Arimathia trong xứ Giuđêa, chính ông cũng trông đợi nước Chúa. Ông đến gặp Philatô và xin xác Chúa Giêsu. Đoạn ông hạ xác Người xuống, liệm trong khăn và táng trong mồ đá đục sẵn, nơi chưa táng xác ai. Hôm đó là ngày chuẩn bị và sắp bước sang ngày Sabbat. Trong khi đó, những người phụ nữ đã đi với Người từ xứ Galilêa, cũng theo đến xem mồ và xác Người được táng như thế nào. Rồi các bà về sửa soạn thuốc thơm và dầu thơm. Nhưng trong ngày Sabbat, các bà nghỉ theo đúng luật.
LM: Đó là lời Chúa.
_________________
Hoặc đọc bài vắn này: Lc 23, 1-49
C. Khi ấy, tất cả công nghị đứng dậy và giải Người đến Philatô.
Họ bắt đầu tố cáo Người rằng: S. “Chúng tôi đã thấy người này xúi giục dân nổi loạn, ngăn cản nộp thuế cho Cêsarê, và còn tự xưng là Kitô Vua”. C. Philatô bảo các thượng tế và đám đông rằng: S. “Ta không thấy người này có tội gì”. C. Nhưng họ cố nài rằng: S. “Người này đã làm náo động dân chúng, giảng dạy khắp xứ Giuđêa, bắt đầu từ Galilêa đến đây”. C. Philatô vừa nghe nói đến Galilêa, liền hỏi cho biết có phải đương sự là người xứ Galilêa không. Và khi đã biết Người thuộc thẩm quyền Hêrôđê, quan liền sai giải Người cho Hêrôđê cũng có mặt tại Giêrusalem trong những ngày ấy. Hêrôđê thấy Chúa Giêsu thì mừng rỡ lắm, vì từ lâu, ông ao ước thấy Người, bởi đã nghe nói về Người rất nhiều, và hy vọng xem Người làm một vài phép lạ. Nhà vua hỏi Người rất nhiều lời, nhưng Người không đáp gì hết. Trong khi ấy, các thượng tế và luật sĩ ở đó tố cáo Người dữ dội. Còn Hêrôđê cùng các quan lính thì khinh dể và nhạo báng Người, đoạn khoác cho Người một cái áo choàng trắng và gởi trả Người cho Philatô. Chính ngày đó, Hêrôđê và Philatô trở thành bạn hữu, vì trước kia họ là thù địch với nhau.
Bấy giờ Philatô triệu tập các thượng tế, các thủ lãnh và dân chúng lại, rồi bảo họ: S. “Các ngươi đã nộp cho ta người này như một kẻ xúi giục dân làm loạn, nhưng đây ta đã tra xét trước mặt các ngươi, và ta không thấy người này phạm tội nào trong những tội các ngươi tố cáo. Cả vua Hêrôđê cũng thấy như vậy, vì ta đã cử các ngươi đến nhà vua và nhà vua cũng không thấy có chi đáng tội chết cả. Vậy ta sẽ cho sửa phạt, rồi tha đi”. C. Mỗi dịp lễ, quan tổng trấn phải phóng thích cho họ một người tù. Vậy toàn dân đồng thanh kêu lên: S. “Hãy giết người này, và tha Baraba cho chúng tôi”. C. Tên này vì dấy loạn trong thành và giết người, nên đã bị tống ngục. Nhưng Philatô muốn tha Chúa Giêsu, nên lại nói với dân chúng. Nhưng chúng càng la to hơn và nói: S. “Hãy đóng đinh nó, hãy đóng đinh nó vào thập giá!” C. Lần thứ ba, quan lại nói với dân chúng: S. “Người này đã làm gì xấu? Ta không thấy nơi ông ấy có lý do để lên án tử hình. Vậy ta sẽ trừng phạt, rồi tha đi”. C. Chúng lại la lớn tiếng, nhất định đòi đóng đinh Người vào thập giá, và tiếng la hét của chúng càng dữ dội hơn. Philatô liền tuyên án theo lời chúng yêu cầu. Vậy quan phóng thích tên đã bị cầm tù vì dấy loạn và giết người, là kẻ mà chúng đã xin tha, còn Chúa Giêsu thì quan trao phó để mặc ý chúng.
Khi điệu Người đi, chúng bắt một người xứ Xyrênê, tên Simon, ở ngoài đồng về, chúng bắt ông vác thập giá theo sau Chúa Giêsu. Đám đông dân chúng theo Người, có cả mấy người phụ nữ khóc thương Người. Nhưng Chúa Giêsu ngoảnh mặt lại bảo họ rằng: “Hỡi con gái Giêrusalem, đừng khóc thương Ta, hãy khóc thương chính các ngươi và con cái các ngươi. Vì này, sắp đến ngày người ta sẽ than rằng: ‘Phúc cho người son sẻ, phúc cho những lòng không sinh nở và những vú không nuôi con!’. Bấy giờ người ta sẽ lên tiếng với núi non rằng: ‘Hãy đổ xuống đè chúng tôi!’, và nói với các gò nổng rằng: ‘Hãy che lấp chúng tôi đi!’. Vì nếu cây tươi còn bị xử như vậy, thì gỗ khô sẽ ra sao?” C. Cùng với Người, chúng còn điệu hai tên gian ác nữa đi xử tử. Khi đã đến nơi gọi là Núi Sọ, chúng đóng đinh Người vào thập giá cùng với hai tên trộm cướp, một đứa bên hữu và một đứa bên tả Người. Bấy giờ Chúa Giêsu than thở rằng: “Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm”. C. Rồi chúng rút thăm mà chia nhau áo Người. Dân chúng đứng đó nhìn xem, và các thủ lãnh thì cười nhạo Người mà rằng: S. “Nó đã cứu được kẻ khác thì hãy tự cứu mình đi, nếu nó thật là Đấng Kitô, người Thiên Chúa tuyển chọn”. C. Quân lính đều chế diễu Người và đưa dấm cho Người uống và nói: S. “Nếu ông là vua dân Do-thái, ông hãy tự cứu mình đi”. C. Phía trên đầu Người có tấm bảng đề chữ Hy-lạp, La-tinh và Do-thái như sau: “Người này là vua dân Do-thái”. Một trong hai kẻ trộm bị đóng đinh trên thập giá cũng sỉ nhục Người rằng: S. “Nếu ông là Đấng Kitô, ông hãy tự cứu ông và cứu chúng tôi nữa”. C. Đối lại, tên kia mắng nó rằng: S. “Mi cũng chịu đồng một án mà mi chẳng sợ Thiên Chúa sao. Phần chúng ta, như thế này là đích đáng, vì chúng ta chịu xứng với việc chúng ta đã làm, còn Ông này, Ông có làm gì xấu đâu?” C. Và anh ta thưa Chúa Giêsu rằng: S. “Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi”. C. Chúa Giêsu đáp: “Quả thật, Ta bảo ngươi: ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta”.
C. Lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu, tối tăm liền bao trùm cả mặt đất cho đến giờ thứ chín. Mặt trời trở nên u ám, màn trong đền thờ xé ra làm đôi ngay chính giữa. Lúc đó Chúa Giêsu kêu lớn tiếng rằng: “Lạy Cha, Con phó linh hồn Con trong tay Cha”. C. Nói đoạn, Người trút hơi thở.
(Quỳ gối thinh lặng thờ lạy trong giây lát)
Thấy sự việc xảy ra, viên sĩ quan ca tụng Thiên Chúa rằng: S. “Ông này quả thật là người công chính”. C. Và tất cả dân chúng có mặt thấy cảnh tượng đó, và chứng kiến những sự việc xảy ra, liền đấm ngực trở về.
Đứng xa xa, có những kẻ quen biết Người, và mấy phụ nữ đi theo Người từ xứ Galilêa, họ cũng chứng kiến.
Đó là lời Chúa.
________________________________
I/. BÀI SUY NIỆM (Lc 19, 28-40) – KIỆU LÁ
“CHÚC TỤNG ĐẤNG NHÂN DANH CHÚA MÀ ĐẾN”.
Hôm nay Kitô hữu trên toàn cầu chính thức bước vào TUẦN THÁNH với CHÚA NHẬT LỄ LÀ.
Trong nghi thức của Chúa nhật lễ Lá hôm nay, Giáo Hội cho chúng ta nghe lại bài Tin Mừng theo thánh Luca tường thuật lại việc Chúa Giêsu long trọng vào thành Giêrusalem với tư cách là Đấng Messia.
Thánh sử Luca ghi lại:
“Người sai hai môn đệ đi và bảo rằng: “Các con hãy đến làng trước mặt kia, vừa vào làng, các con sẽ gặp con lừa con cột sẵn đó chưa ai cỡi bao giờ; các con hãy mở dây mà dẫn về. Và nếu có ai hỏi các con “Tại sao các ông mở dây?”, thì hãy nói thế này: “Vì Chúa cần dùng đến nó”. Hai người được sai ra đi, và gặp lừa con đứng đó như Chúa đã bảo. Hai ông đang mở dây lừa con, thì chủ nó hỏi rằng: “Sao các ông mở dây lừa con?” Hai ông đáp: “Vì Chúa cần đến nó” (Lc 19, 30 – 34).
Chúa Giêsu đã tiên liệu tất cả như một đạo diễn và moi sự đã xảy ra đúng như lời Ngài nói. Như vậy Chúa là người chủ động tất cả mọi sự, Ngài không bị bất ngờ để ta thấy rõ việc Chúa vào thành hôm nay bắt đầu cuộc Thương khó là HOÀN TOÀN THEO Ý CHÚA MUỐN, CHÚA MUỐN THI HÀNH TRỌN VẸN THÁNH Ý CHÚA CHA.
Hình ảnh Chúa Giêsu cỡi trên mình lừa khiến người ta nhớ lại lời sấm ngôn nói về Đấng Messia được ghi lại trong sách Giacaria:
“Nào thiếu nữ Sion hãy vui mừng hoan hỷ. Hỡi thiếu nữ Giêrusalem hãy vui sướng reo hò, vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi, Người là Đấng chính trực, Đấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa vẫn còn theo mẹ”.
Hình ảnh dân chúng hò reo tung hô Chúa Giêsu cũng được nhắc đến trong sách Các Vua quyển I. Qua việc công khai vào thành cách long trọng như thế, Chúa Giêsu khẳng định Người là Đấng Messia và là vua của dân Israel.
Tuy nhiên, Người không xây dựng vương quốc mà họ muốn đánh nam dẹp bắc, hoặc bằng cách phát triển các sức mạnh kinh tế, mà bằng cách tuân hành theo thánh ý Thiên Chúa Cha, một vai trò tôi tớ trung thành đã được ngôn sứ Isaia miêu tả trong bốn bài ca của ông.
Cuộc khải hoàn vào thành Giêrusalem chỉ là bước khởi đầu cho cuộc thương khó mà Chúa Giêsu phải trải qua để chiến thắng sự dữ và sự chết, mở ra cho loài người lối đi đến cõi phúc bất diệt bên Thiên Chúa Cha.
TRONG BÀI ĐỌC I Trích sách Tiên tri Isaia (Bài ca thứ ba về Người Tôi Tớ Chúa), được ngôn sứ Isaia viết về người tôi tớ đau khổ trung thành của Thiên Chúa phải chịu: “Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu. Tôi không che mặt khi bị mắng nhiếc xỉ nhục”.
TRONG BÀI ĐỌC II, trích thư thánh Phaolô tông đồ gởi tín hữu Philipphê nói về sự từ bỏ và cái chết tủi nhục mà Chúa Giêsu sẽ đón nhận để mang lại ơn cứu độ cho con người.
Chúa Giêsu không nghĩ mình là Thiên Chúa, không nhất thiết phải duy trì địa vị ngang hàng với Chúa Cha, Ngài đã trút bỏ vinh quang mặc lấy thân phận nô lệ, trở nên giống như phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại luôn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên thập tự.
TRONG BÀI TIN MỪNG theo thánh Luca (Bài Thương khó) là cao điểm của phần Phụng vụ Lời Chúa.
Bài Tin Mừng hôm nay Giáo Hội mời gọi chúng ta tham dự vào những giờ phút linh thiêng cuối cùng trong sứ vụ cứu thế của Chúa Giêsu. Chúng ta không nghe đọc Bài thương khó như nghe một câu chuyện bi hùng đã xảy ra trong lịch sử, nhưng chúng ta nghe và đồng thời cùng với Chúa Giêsu đi vào cuộc thương khó của Ngài.
Con đường cứu thế mà Chúa Giêsu đi qua là một con đường dài, khởi đi từ biến cố Nhập thể, ấp ủ và hình thành trong 30 năm sống ẩn dật được thực hiện từng bước trong ba năm rao giảng để tiến đến cao điểm của cuộc khổ nạn và hoàn tất bằng cái chết tủi nhục và việc sống lại hiển vinh. Đó là một con đường hẹp và đầy gian nan, con đường này không giành cho những ai lười biếng hoặc nhát đảm, nhưng giành cho những ai kiên tâm và dám dấn thân.
Kitô hữu chúng ta đã trải qua 40 ngày Mùa Chay thánh. Bốn mươi ngày tập luyện đã qua đi nhưng chặng đường trước mắt chúng ta vẫn còn dài. Hết 40 ngày Mùa Chay không có nghĩa là chúng ta được quyền nghỉ ngơi để bù lại những ngày gian khổ hy sinh. Cuộc chiến đấu để vượt thắng bản thân và sự dữ vẫn kéo dài đến giây phút cuối cùng của cuộc đời mỗi người chúng ta.
Tuần Thánh mà chúng ta sắp bước vào nói lên những quyết liệt của cuộc chiến này. Chúng ta hãy bước vào Tuần Thánh với những gì chúng ta đã tập tành được trong 40 ngày Mùa Chay. Hãy theo Chúa Giêsu để Người tiếp tục dạy ta cách sống thế nào cho phù hợp thánh ý Chúa Cha. Hãy theo Chúa Giêsu để Người dạy ta cách từ bỏ bản thân, chết đi trong tinh thần vâng phục và sống lại nhờ tín thác hoàn toàn vào niềm tin của Chúa Kitô Phục sinh
________________________________________
II/. SUY NIỆM BÀI THƯƠNG KHÓ (Lc 22, 14 – 23, 56)
Trong Tuần thánh, Kitô hữu chúng ta sẽ được nghe đọc 2 bài Thương khó:
+ CHÚA NHẬT LỄ LÁ: Tùy theo năm A, B, C, ta sẽ nghe đọc Bài Thương khó theo Thánh sử Nhất Lãm:
-./ Năm A: Bài Thương khó theo Thánh Matthêu.
-/. Năm B: Bài Thương khó theo thánh Marcô;
-/. Năm C: Bài Thương khó theo thánh Luca.
+ THỨ SÁU TUẦN THÁNH, bất kể năm nào cũng HÁT PASSION (Bài Thương khó theo Thánh Gioan).
Bài Thương khó bao gồm các Chương cuối Phúc âm của các thánh sử, tường thuật lại Cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu.
Để có thể hiểu rõ hơn Bài Thương khó, chúng ta sẽ phân bài Thương khó theo Luca thành các phần sau:
+ Câu chuyện bữa tiệc ly: từ câu 22:7 đến câu 22:38;
+ Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trong Vườn Giệtsêmani: từ câu 22:39 đến câu 22:46;
+ Việc bắt giữ và trình tự với người Do Thái: từ câu 22:47 đến câu 22:71;
+ Việc xử án trước tổng trấn Philatô và vua Hêrôđê: từ câu 23:1 đến câu 23:35;
+ Bản án, việc đóng đinh và cái chết: từ câu 23:26 đến câu 23:49;
+ Các sự kiện sau cái chết: từ câu 23:50 đến câu 23:56
1/. CÂU CHUYỆN BỮA TIỆC LY (Lc 22, 14 – 38)
Lễ Bánh Không Men kéo dài 7 ngày sau Lễ Vượt Qua. Lễ Vượt Qua là một trong 3 lễ chính của người Do-thái. Các người Do-thái nam, đã đến tuổi trưởng thành, và sống trong khoảng 15 dặm của Giêrusalem, phải lên Đền Thờ để mừng Lễ Vượt Qua. Luật ngày Sabbath được áp dụng cho các lễ này. Các thượng tế và kinh sư có lý do để lo sợ, vì dân chúng tụ họp rất đông ở Giêrusalem trong ngày Lễ Vượt Qua.
Các thượng tế và kinh sư thường phải cầu viện với quân đội Roma để tăng cường an ninh trong những ngày này; nhất là tại cứ điểm Antonia Fortress, cạnh Đền Thờ. Theo sử gia Josephus, dân chúng có thể lên tới 2, 3 triệu người, cứ 10 người phải sát tế một con chiên.
Lễ Vượt Qua có lịch sử trong biến cố Xuất Hành của dân Do-thái ra khỏi Ai-cập. Trong đêm đó, sứ thần của Thiên Chúa vào nhà tàn sát tất cả các con đầu lòng của người Ai-cập; nhưng nhà nào có máu chiên bôi trên cửa, các sứ thần sẽ băng ngang qua và không vào tàn sát.
Trong Kế Hoạch Cứu Độ, Thiên Chúa cũng muốn dùng chính ngày Lễ này, để bắt đầu một Lễ Vượt Qua mới: ngày Chúa Giêsu sẽ từ giã cuộc đời này mà về lại với Chúa Cha; ngày toàn dân Thiên Chúa được cứu thoát khỏi làm nô lệ cho tội lỗi và sự chết, nhờ máu Con Chiên là Chúa Giêsu Kitô đổ ra để chuộc tội cho nhân loại, và đưa họ về cho Thiên Chúa.
Trình thuật của Luca mô tả rất chi tiết bữa Tiệc ly, bữa ăn cuối cùng của Chúa Giêsu với các môn đệ. Đó cũng là trình thuật Chúa Giêsu lập Phép Thánh Thể để Chúa lưu lại với con người cho đến ngày tận thế, tự hiến mình làm lương thực nuôi dưỡng chúng ta trên con đường tiến về Quê Trời.
____________________________
2/. LỜI CẦU NGUYỆN CỦA CHÚA GIÊSU TRONG VƯỜN GIỆTSÊMANI (Lc 22, 39 – 46)
Chúa Giêsu nhìn thấy trước cuộc Khổ nạn sắp diễn ra, đó là Chén đắng Chúa Cha trao cho Ngài mà Ngài sắp phải uống. Chén đó quá đắng, đắng đến độ Ngài muốn thối lui, Ngài run sợ thật sự, vì Chúa Giêsu là một con người thật sự chứ không phải là một Thiên Chúa đội lốt người phàm, không như các tà thuyết chối bỏ bản tính nhân loại nơi Chúa Giêsu thường rêu rao ở thế kỷ thứ II và Ngài đã phải thốt lên: “”Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin Cha cất chén này xa con”.
Nhưng trong tinh thần vâng phục hoàn toàn Thánh ý Chúa Cha, Chúa Giêsu cũng mau mắn thưa với Cha: “Nhưng xin đừng theo ý con muốn, một theo ý Cha”.
Mỗi Kitô hữu chúng ta cũng hãy học nơi Chúa Giêsu bài học này, trong mỗi một nghịch cảnh,trong mỗi cảnh đổ nát của đời sống gia đình, trong mỗi căn bệnh trầm kha đang đè nặng trên mình nhằm đánh gục mình xuống, chúng ta hãy biết vâng phục theo Thánh ý Chúa gửi đến, hãy cùng vác thánh giá của ta theo Chúa, vì Ngài đã đi bước trước, còn chúng ta bây giờ là hãy theo Ngài.
Chúa Giêsu sợ hãi quá đỗi, đến nỗi các thiên thần phải hiện đến để an ủi. Nhưng thật kỳ lạ, các môn đệ, những người thân tín với Chúa Giêsu thì lại đang ngủ mê, dường như cuộc hấp hối của Chúa Giêsu trong vườn Giệtsimani không liên quan gì đến họ.
_______________________________
3/. VIỆC BẮT GIỮ VÀ TỐ TỤNG CỦA NGƯỜI DO THÁI (Lc 22, 47 – 71)
Người còn đang nói với các Tông-đồ, thì một đám đông xuất hiện, và kẻ dẫn đầu tên là Giuđa, một người trong Nhóm Mười Hai. Hắn lại gần Đức Giêsu để hôn Người. Đức Giêsu bảo hắn: ” Giuđa ơi, anh dùng cái hôn mà nộp Con Người sao?” Thấy việc sắp xảy ra, những kẻ đứng chung quanh Người liền hỏi: “Lạy Chúa, chúng con tuốt gươm chém được không?”
Thế rồi một người trong nhóm chém tên đầy tớ của thượng tế, làm nó đứt tai bên phải. Nhưng Đức Giêsu lên tiếng: “Thôi, ngừng lại.” Và Người sờ vào tai tên đầy tớ mà chữa lành. Sau đó Đức Giêsu nói với các thượng tế, lãnh binh Đền Thờ và kỳ mục đến bắt Người: “Tôi là một tên cướp sao mà các ông đem gươm giáo gậy gộc đến? Ngày ngày, tôi ở giữa các ông trong Đền Thờ, mà các ông không tra tay bắt. Nhưng đây là giờ của các ông, là thời của quyền lực tối tăm.”
Sự phản bội của Giuđa:
Hắn biết rõ nơi Chúa Giêsu thường đến để cầu nguyện; và để phân biệt Chúa Giêsu với các môn đệ khác, hắn cho họ một dấu hiệu và dặn: “Tôi hôn ai thì chính là người đó. Các anh bắt lấy và điệu đi cho cẩn thận.” Giuđa tiến lại gần Người và nói: “Thưa Thầy!” rồi hôn Người. Họ liền tra tay bắt Người.
Cái hôn thường được con người dùng để bày tỏ tình yêu với nhau; người Do-thái có thói quen hôn thầy của họ. Đàng này, Giuđa lại dùng cái hôn để phản bội Thầy mình. Có lẽ Giuđa nghĩ ông có thể qua mặt Chúa. Trong trình thuật của Luca, Chúa Giêsu vạch cho Giuđa thấy rõ ràng sự phản bội, khi Ngài nói: “Giuđa! Anh lấy chiếc hôn để nộp con người sao?” (Lc 22:48).
Người rút gươm chém đứt tai tên đầy tớ của thượng tế là chính Phêrô, như được nói rõ ràng trong trình thuật của Gioan (Ga 18:10). Phản ứng này rất hợp với tính khí của Phêrô. Ông là người duy nhất có can đảm để bảo vệ Thầy mình.
Cuộc thẩm vấn sơ khởi trước Thượng Hội Đồng (THĐ):
Họ điệu Chúa Giêsu đến vị Thượng Tế Tối Cao. Thượng Hội Đồng được coi như tòa án tối cao của người Do-thái, gồm có tất cả 71 người: các thượng tế, kỳ mục, và các kinh sư. Họ chỉ có quyền trên các vấn đề liên quan đến tôn giáo của người Do-thái mà thôi; và họ không có quyền giết người.
Thượng Hội Đồng phải họp tại “Tòa Hewn Stone trong khu vực của Đền Thờ.”
Câu hỏi của THĐ: “Ông có phải là Đấng Mesiah thì nói cho chúng tôi biết!” vi phạm Luật trầm trọng, vì Luật không cho phép THĐ hỏi bị cáo những câu hỏi mà bị cáo khi trả lời có thể liên quan chính mình trong đó. Họ biết Chúa Giêsu sẽ trả lời khi hỏi đến sự liên hệ giữa Chúa Giêsu và Thiên Chúa, vì Ngài không thể nói dối.
Chúa Giêsu không chút do dự trả lời Ngài chính là Đấng Thiên Sai, một đàng đó là sự thật, một đàng Ngài nghĩ cần chấm dứt trò bẩn thỉu của THĐ. Qua câu trả lời, Ngài muốn cho họ thấy Ngài có dư can đảm để nói sự thật, dẫu sự thật mang lại cho Ngài án tử hình. Nếu Ngài không trả lời điều đó, họ không có lý do để buộc tội Ngài. Điều khác Ngài muốn cho họ thấy, tất cả những gì họ sẽ làm cho Ngài chỉ tạm thời. Họ sẽ nhìn thấy chiến thắng vinh quang của Ngài sau Cuộc Thương Khó.
_______________________________________
4/. VIỆC XỬ ÁN TRƯỚC TỔNG TRẤN PHILATÔ VÀ VUA HÊRÔĐÊ (lc 23, 1 – 35)
Chúa Giêsu tại dinh quan Tổng-trấn Philatô:
Toàn thể cử toạ THĐ đứng lên, điệu Đức Giêsu đến ông Philatô. Trong trình thuật của Luca, người kết án Chúa Giêsu là những người trong THĐ và dân chúng, chứ không phải là Philatô hay vua Herode; vì Philatô đã tìm ít nhất ba lần để tha án tử hình cho Chúa Giêsu.
Nhưng THĐ chỉ có quyền trên những vấn đề thuộc tôn giáo và không có quyền ra án tử hình cho bị cáo.
Vì thế, sau khi đã tìm được lý do để buộc tội Chúa Giêsu phạm thượng, họ phải tìm một lý do chính trị khác để kiếm án tử hình cho Chúa Giêsu; vì họ biết rằng Philatô sẽ không quan tâm đến những bất đồng ý kiến về tôn giáo, như trình thuật của Luca ghi lại.
Họ tìm được một lý do chính trị để Philatô có thể kết án Chúa: Chúa Giêsu xưng mình là Vua dân Do-thái. Khi xưng mình là Vua, Chúa đã chống lại quyền lực của đế quốc Roma và hoàng đế Caesar.
Nhưng Philatô đã tìm cách tha Chúa Giêsu đến 3 lần:
+ Lần thứ nhất:
Họ tố cáo Người: “Chúng tôi đã phát giác ra tên này sách động dân tộc chúng tôi, và ngăn cản dân chúng nộp thuế cho hoàng đế Caesar, lại còn xưng mình là Mesiah, là Vua nữa.” Hai tội xúc động dân chúng phản loạn chống lại hoàng đế Caesar và xưng mình là vua là tội chính trị và có thể lãnh án tử hình;
nhưng Philatô biết Chúa Giêsu không vi phạm hai tội đó. Chỉ có một tội Philatô biết khi ông hỏi Người: “Ông là Vua dân Do-thái sao?” Người trả lời: “Chính ngài nói đó.”
Làm vua dân Do-thái không có nghĩa làm chính trị; nhưng chỉ có nghĩa tôn giáo. Điều này không đủ để kết án Chúa Giêsu. Vì thế, ông Philatô nói với các thượng tế và đám đông: “Ta xét thấy người này không có tội gì.” Nhưng họ cứ khăng khăng nói: “Hắn đã xúi dân nổi loạn, đi giảng dạy khắp vùng Giuđa, bắt đầu từ Galilee cho đến đây.”
+ Lần thứ hai:
Nghe họ nói thế, ông Philatô liền hỏi xem đương sự có phải là người Galilê không. Và khi biết Người thuộc thẩm quyền vua Herode, ông liền cho áp giải Người đến với nhà vua lúc ấy cũng đang có mặt tại Giêrusalem.
Vua Herode thấy Đức Giêsu thì mừng rỡ lắm, vì từ lâu vua muốn được gặp Người bởi đã từng nghe nói về Người. Vả lại, vua cũng mong được xem Người làm một hai phép lạ. Nhà vua hỏi Người nhiều điều, nhưng Người không trả lời gì cả. Các thượng tế và kinh sư đứng đó, tố cáo Người dữ dội. Vua Herode cũng như thị vệ đều khinh dể Người ra mặt nên khoác cho Người một chiếc áo rực rỡ mà chế giễu, rồi cho giải Người lại cho ông Philatô. Ngày hôm ấy, vua Herode và tổng trấn Philatô bắt đầu thân thiện với nhau, chứ trước kia hai bên vẫn hiềm thù.
Bấy giờ ông Philatô triệu tập các thượng tế, thủ lãnh và dân chúng lại mà nói: “Các ngươi nộp người này cho ta, vì cho là tay kích động dân, nhưng ta đã hỏi cung ngay trước mặt các ngươi, mà không thấy người này có tội gì, như các ngươi tố cáo. Cả vua Herode cũng vậy, bởi lẽ nhà vua đã cho giải ông ấy lại cho chúng ta. Và các ngươi thấy đó, ông ấy chẳng can tội gì đáng chết cả.Vậy ta sẽ cho đánh đòn rồi thả ra.”
Họ từ chối việc đánh đòn và phóng thích.
+Lần thứ ba:
Vào mỗi dịp lễ lớn, ông Philatô phải phóng thích cho họ một người tù; nhưng tất cả mọi người đều la ó: “Giết nó đi, thả Barabba cho chúng tôi!” Tên này đã bị tống ngục vì một vụ bạo động đã xảy ra trong thành, vì tội giết người.
Ông Philatô muốn thả Đức Giêsu, nên lại lên tiếng một lần nữa. Nhưng họ cứ một mực la lớn: “Đóng đinh! Đóng đinh nó vào thập giá!” Lần thứ ba, ông Philatô nói với họ: “Nhưng ông ấy đã làm điều gì gian ác? Ta xét thấy ông ấy không có tội gì đáng chết. Vậy ta sẽ cho đánh đòn rồi thả ra.” Nhưng họ cứ la to hơn, nhất định đòi phải đóng đinh Người. Và tiếng la càng thêm dữ dội.
Sau khi đã tìm mọi cách để tha Chúa mà không được, Philatô quyết định chấp thuận điều họ yêu cầu. Ông phóng thích người tù họ xin tha, tức là tên bị tống ngục vì tội bạo động và giết người. Còn Đức Giêsu thì ông trao nộp theo ý họ muốn.
_________________________________
5/. BẢN ÁN, VIỆC ĐÓNG ĐINH VÀ CÁI CHẾT (Lc 23, 26 – 49):
Luca đã ghi nhận vài sự kiện sau đây:
+ Ông Simeon vác đỡ Thập Giá:
Khi điệu Đức Giêsu đi, họ bắt một người từ miền quê lên, tên là Simeon, gốc Cyrene, đặt thập giá lên vai cho ông vác theo sau Đức Giêsu.
– Chúng bắt ông Simon Cyrene vác đỡ Thánh Giá Chúa:
“Lúc ấy, có một người từ miền quê lên, đi ngang qua đó, tên là Simon, gốc Cyrênê. Ông là thân phụ hai ông Alexandre và Ruphô. Chúng bắt ông vác thập giá đỡ Đức Giêsu. Chúng đưa Người lên một nơi gọi là Golgotha, nghĩa là Đồi Sọ. Chúng trao rượu pha mộc dược cho Người, nhưng Người không uống.”
+ Chúa Giêsu yên ủi dân thành Giêrusalem:
Dân chúng đi theo Người rất đông, trong số đó có nhiều phụ nữ vừa đấm ngực vừa than khóc.
Đức Giêsu quay lại phía các bà mà nói: “Hỡi chị em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu. Vì này đây sẽ tới những ngày người ta phải nói: “Phúc thay đàn bà hiếm hoi, người không sinh không đẻ, kẻ không cho bú mớm!” Bấy giờ người ta sẽ bắt đầu nói với núi non: Đổ xuống chúng tôi đi! và với gò nổng: Phủ lấp chúng tôi đi! Vì cây xanh tươi mà người ta còn đối xử như thế, thì cây khô héo sẽ ra sao?”
+ Hai tên trộm cùng chịu đóng đinh với Chúa Giêsu:
Trình thuật của Luca đặc biệt có biến cố hai tên gian phi cũng bị điệu đi hành quyết cùng với Người: Khi đến nơi gọi là “Đồi Sọ,” họ đóng đinh Người vào thập giá, cùng lúc với hai tên gian phi, một tên bên phải, một tên bên trái. Bấy giờ Đức Giê-su cầu nguyện rằng: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Rồi họ lấy áo của Người chia ra mà bắt thăm.
Dân chúng đứng nhìn, còn các thủ lãnh thì buông lời cười nhạo:
“Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Ki-tô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn!” Lính tráng cũng chế giễu Người. Chúng lại gần, đưa giấm cho Người uống và nói: “Nếu ông là vua dân Do-thái thì cứu lấy mình đi!” Phía trên đầu Người, có bản án viết: “Đây là vua người Do-thái.”
Một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ Người:
“Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!”
Nhưng tên kia mắng nó: “Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!” Rồi anh ta thưa với Đức Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Và Người nói với anh ta: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.”
+ Quân dữ nhục mạ và thách thức Chúa Giêsu:
“Chúng đóng đinh Người vào thập giá, rồi đem áo Người ra bắt thăm mà chia nhau, xem ai được cái gì. Lúc chúng đóng đinh Người là giờ thứ ba. Bản án xử tội Người viết rằng: “Vua người Do-thái.” Bên cạnh Người, chúng còn đóng đinh hai tên cướp, một đứa bên phải, một đứa bên trái. (Thế là ứng nghiệm lời Kinh Thánh: Người bị liệt vào hạng những tên phạm pháp).”
Kẻ qua người lại đều nhục mạ Người, vừa lắc đầu vừa nói: “Ê, mi là kẻ phá Đền Thờ, và nội trong ba ngày xây lại được, có giỏi thì xuống khỏi thập giá mà cứu mình đi!” Các thượng tế và kinh sư cũng chế giễu Người như vậy, họ nói với nhau: “Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình. Ông Kitô vua Israel, cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, để chúng ta thấy và tin.” Cả những tên cùng chịu đóng đinh với Người cũng nhục mạ Người.”
Trong cám dỗ thứ ba theo Tin Mừng Matthêu, quỉ thần thách thức Chúa Giêsu gieo mình xuống vực thẳm để các thiên sứ đỡ nâng Ngài khỏi vướng vào vách đá. Đối lại, Chúa Giêsu nói: “Ngươi đừng thử thách Thiên Chúa là Chúa ngươi!” Cám dỗ của quỉ thần giờ được đặt trong miệng lưỡi những người đứng dưới chân Thập Giá. Chúa Giêsu có uy quyền xuống khỏi Thập Giá; nhưng trong cả hai trường hợp, Ngài không muốn trái ý Thiên Chúa để làm thoả mãn thách thức của quỉ thần và con người.
Chúa Giêsu sinh thì trên Thánh Giá:
Bấy giờ đã gần tới giờ thứ sáu, thế mà bóng tối bao phủ khắp mặt đất, mãi đến giờ thứ chín. Mặt trời ngưng chiếu sáng. Bức màn trướng trong Đền Thờ bị xé ngay chính giữa. Đức Giêsu kêu lớn tiếng: Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha. Nói xong, Người tắt thở.
+ Thấy sự việc xảy ra như thế, viên đại đội trưởng cất tiếng tôn vinh Thiên Chúa rằng: “Người này đích thực là người công chính!” Toàn thể dân chúng đã kéo đến xem cảnh tượng ấy, khi thấy sự việc đã xảy ra, đều đấm ngực trở về.
+ Đứng đàng xa, có tất cả những người quen biết Đức Giêsu cũng như những phụ nữ đã theo Người từ Galilee; các bà đã chứng kiến những việc ấy.
– Chúa Giêsu hấp hối trên Thập Giá:
“Vào giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ khắp mặt đất mãi đến giờ thứ chín. Vào giờ thứ chín, Chúa Giêsu kêu lớn tiếng: “Eloi, Eloi, lama sabacthani!” Nghĩa là: “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Nghe vậy, một vài người đứng đó liền nói: “Kìa hắn kêu cứu ông Elijah.” Rồi có kẻ chạy đi lấy một miếng bọt biển, thấm đầy giấm, cắm vào một cây sậy, đưa lên cho Người uống mà nói: “Để xem ông Elia có đến đem hắn xuống không.””
– Chúa Giêsu trút hơi thở cuối cùng:
“Đức Giê-su lại kêu lên một tiếng lớn, rồi tắt thở.
Viên đại đội trưởng đứng đối diện với Đức Giêsu, thấy Người tắt thở như vậy liền nói: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa.”
Lời tuyên bố này là cao điểm của Tin Mừng Nhất Lãm; nhưng trớ trêu thay, người nhận ra sự thực lại là một viên sĩ quan Dân Ngoại. Đúng như trong Phúc âm của Gioan: Chỉ khi nào người Do Thái treo Chúa Giêsu trên thập giá họ mới nhận ra Ngài là Đấng Hằng hữu.
______________________________________
6/. CÁC SỰ KIỆN SAU CÁI CHẾT (Lc 23, 50 – 56) :
Táng xác Chúa Giêsu trong hang đá:
Khi ấy có một người tên là Joseph, thành viên của Thượng Hội Đồng, một người lương thiện, công chính. Ông đã không tán thành quyết định và hành động của Thượng Hội Đồng. Ông là người thành Arithmatha, một thành của người Do-thái, và cũng là người vẫn mong chờ Nước Thiên Chúa. Ông đến gặp tổng trấn Philatô để xin thi hài Đức Giêsu. Ông hạ xác Người xuống, lấy tấm vải gai mà liệm, rồi đặt Người vào ngôi mộ đục sẵn trong núi đá, nơi chưa chôn cất ai bao giờ.
Hôm ấy là áp lễ, và ngày Sabbath bắt đầu ló rạng. Cùng đi với ông Joseph, có những người phụ nữ đã theo Đức Giêsu từ Galilee. Các bà để ý nhìn ngôi mộ và xem xác Người được đặt như thế nào. Rồi các bà về nhà, chuẩn bị dầu và thuốc thơm. Nhưng ngày Sabbath, các bà nghỉ lễ như Luật truyền.
– Ông Joseph Arimathea xin thi hài Chúa Giêsu:
“Chiều đến, vì hôm ấy là ngày áp lễ, tức là hôm trước ngày Sabbath, nên ông Joseph tới. Ông là người thành Arimathea, thành viên có thế giá của Hội Đồng, và cũng là người vẫn mong đợi Triều Đại của Thiên Chúa. Ông đã mạnh dạn đến gặp tổng trấn Philatô để xin thi hài Đức Giêsu.”
– Quan Philatô ngạc nhiên khi nghe Chúa Giêsu đã chết, vì thường người bị treo trên thập giá như vậy có khi bị quằn quại đến 10 ngày mới chết, chứ không chết ngay. Người Rôma vẫn để xác họ trên thập giá để làm gương cho người khác.
Nhưng với Chúa đã chết ngay sau khi nói lời cuối cùng, vì thế Philatô mới ngạc nhiên. “Nghe nói Người đã chết, ông Philatô lấy làm ngạc nhiên, và cho đòi viên đại đội trưởng đến, hỏi xem Người đã chết lâu chưa.
Sau khi nghe viên sĩ quan cho biết sự việc, tổng trấn đã cho ông Joseph lãnh lấy thi hài.”
– Táng xác Chúa Giêsu trong mồ: “Ông này mua một tấm vải gai, hạ xác Đức Giêsu xuống, lấy tấm vải ấy liệm Người lại, đem đặt vào ngôi mộ đã đục sẵn trong núi đá, rồi lăn tảng đá lấp cửa mộ. Còn bà Maria Magdala và bà Maria mẹ ông Joseph, thì để ý nhìn xem chỗ họ mai táng Người.”
Amen.
__________________________________
Giuse Nguyễn Viết Tâm.

