“TÁM NGÀY SAU CHÚA GIÊSU HIỆN ĐẾN”.
BÀI ĐỌC I: Cv 5, 12-16
“Số người tin vào Chúa ngày càng gia tăng”.
Trích sách Tông đồ Công vụ.
Khi ấy, các Tông đồ làm nhiều phép lạ và nhiều việc phi thường trong dân, và tất cả mọi người tập họp tại hành lang Salômôn; nhưng không một ai khác dám nhập bọn với các tông đồ. Nhưng dân chúng đều ca tụng các ngài. Số những người nam nữ tin vào Chúa ngày càng gia tăng, đến nỗi họ mang bệnh nhân ra đường phố, đặt lên giường chõng, để khi Phêrô đi ngang qua, ít nữa là bóng của người ngả trên ai trong họ, thì kẻ ấy khỏi bệnh. Đông đảo dân chúng ở những thành phụ cận Giêrusalem cũng tuôn đến, mang theo bệnh nhân và những người bị quỷ ám. Mọi người đều được chữa lành.
Đó là lời Chúa.
BÀI ĐỌC II: Kh 1, 9-11a, 12-13. 17-19
“Ta đã chết, nhưng đây Ta vẫn sống đến muôn đời”.
Trích sách Khải Huyền của Thánh Gioan.
Tôi là Gioan, anh em của chư huynh, đồng phần chia sẻ sự gian truân, vương quyền và kiên nhẫn trong Đức Giêsu Kitô, tôi đã ở đảo Patmô vì lời Chúa và vì làm chứng Đức Giêsu. Một Chúa Nhật nọ, tôi xuất thần và nghe phía sau tôi có tiếng phán lớn như tiếng loa rằng: “Hãy viết những điều ngươi thấy vào sách và gởi đến bảy giáo đoàn ở Tiểu Á”. Tôi quay lại để xem coi tiếng ai nói với tôi. Vừa quay lại, tôi thấy bảy chân đèn bằng vàng, và ở giữa bảy chân đèn bằng vàng đó tôi thấy một Đấng giống như Con Người, mặc áo dài và ngang lưng thắt một dây nịt bằng vàng. Vừa trông thấy Người, tôi ngã xuống như chết dưới chân Người; Người đặt tay phải lên tôi và nói: “Đừng sợ, Ta là Đấng trước hết và là Đấng sau cùng, Ta là Đấng hằng sống; Ta đã chết, nhưng đây Ta vẫn sống đến muôn đời. Ta giữ chìa khoá sự chết và địa ngục. Vậy hãy viết những gì ngươi đã thấy, những điều đang xảy ra và những điều phải xảy ra sau này”.
Đó là lời Chúa.
BÀI TIN MỪNG: Ga 20, 19-31
“Tám ngày sau Chúa Giêsu hiện đến”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, những cửa nhà các môn đệ họp đều đóng kín, vì sợ người Do-thái, Chúa Giêsu hiện đến, đứng giữa các ông và nói rằng: “Bình an cho các con”. Khi nói điều đó, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Người. Bấy giờ các môn đệ vui mừng vì xem thấy Chúa. Chúa Giêsu lại phán bảo các ông rằng: “Bình an cho các con. Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con”. Nói thế rồi, Người thổi hơi và phán bảo các ông: “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại”. Bấy giờ trong Mười hai Tông đồ, có ông Tôma gọi là Điđymô, không cùng ở với các ông khi Chúa Giêsu hiện đến. Các môn đệ khác đã nói với ông rằng: “Chúng tôi đã xem thấy Chúa”. Nhưng ông đã nói với các ông kia rằng: “Nếu tôi không nhìn thấy vết đinh ở tay Người, nếu tôi không thọc ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người, thì tôi không tin”.
Tám ngày sau, các môn đệ lại họp nhau trong nhà và có Tôma ở với các ông. Trong khi các cửa vẫn đóng kín, Chúa Giêsu hiện đến đứng giữa mà phán: “Bình an cho các con”. Đoạn Người nói với Tôma: “Hãy xỏ ngón tay con vào đây, và hãy xem tay Thầy; hãy đưa bàn tay con ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy; chớ cứng lòng, nhưng hãy tin”. Tôma thưa rằng: “Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!” Chúa Giêsu nói với ông: “Tôma, vì con đã xem thấy Thầy, nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin!”
Chúa Giêsu còn làm nhiều phép lạ khác trước mặt các môn đệ, và không có ghi chép trong sách này. Nhưng các điều này đã được ghi chép để anh em tin rằng Chúa Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sống nhờ danh Người.
Đó là lời Chúa.
______________________________
SUY NIỆM & CHIA SẺ:
LỄ KÍNH LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA – CHÚA NHẬT II PHỤC SINH
Năm 1931, Chúa hiện ra với thánh nữ Faustina trong một thị kiến. Thánh nữ nhìn thấy Chúa Giêsu mặc một chiếc áo trắng với cánh tay phải giơ lên như đang chúc lành. Tay trái của Ngài đụng vào áo nơi trái tim, nơi mà hai ánh sáng chiếu tỏa ra, một tia màu đó và một tia màu trắng lạt. Thánh nữ nhìn không chớp mắt thẳng vào Chúa trong thinh lặng, linh hồn thánh nữ tràn ngập lòng kính sợ, nhưng cũng tràn đầy niềm vui khôn tả. Chúa Giêsu nói với thánh nữ:
Hãy vẽ một bức ảnh theo mẫu thức mà con nhìn thấy, kèm theo dòng chữ: Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa. Cha mong ước bức ảnh này được tôn kính, trước hết, tại nguyện đường của con, sau đó, ở khắp nơi trên thế giới. Cha hứa là, linh hồn nào tôn kính bức ảnh này sẽ không bị hư mất. Cha cũng hứa cho linh hồn thắng được các kẻ thù ngay khi còn sống trên thế gian, nhất là trong giờ lâm tử. Chính Cha sẽ bảo vệ linh hồn ấy như là bảo vệ vinh quang của riêng Cha.
Khi con nói điều này với cha giải tội của con, con nhận được câu trả lời thế này: “Điều ấy có ý chỉ về linh hồn của con”. Người bảo con là: “Đúng đấy, hãy vẽ hình ảnh Thiên Chúa trong linh hồn của con”. Ra khỏi toà giải tội, con lại nghe thấy những lời như sau: Hình ảnh của Cha đã sẵn có nơi linh hồn con rồi.
Cha mong có một Lễ Kính Lòng Thương Xót. Cha muốn bức ảnh mà con vẽ bằng cây cọ này phải được long trọng làm phép vào ngày Chúa Nhật Thứ Nhất sau Lễ Phục Sinh. Ngày Chúa Nhật này phải là ngày Lễ Kính Lòng Thương Xót. Cha ước mong các linh mục loan truyền tình thương vĩ đại này của Cha cho các linh hồn những tội nhân. Để tội nhân đừng sợ tiến đến với Cha. Những ngọn lửa tình thương đang nung nấu Cha – bừng bừng muốn toé ra, Cha muốn tuôn đổ những ngọn lửa tình thương này xuống trên các linh hồn ấy. Cha muốn bức ảnh này phải được trưng bày nơi công cộng vào ngày Chúa Nhật thứ nhất sau Lễ Phục Sinh. Chúa Nhật này là Lễ Kính Lòng Thương Xót.
Khi Ðức Cha Karol Wojtila (Ðức Gioan Phaolô II tương lai) trở thành Tổng Giám mục Krakow năm 1964, ngài đứng trước một tình trạng tế nhị. Dầu sao đi nữa, ngài rất quen thuộc với sứ điệp nữ tu Faustina phổ biến vì lúc còn là chủng sinh “chui” trong thời Ðệ Nhị Thế chiến khi Ðức Quốc Xã cai trị Ba Lan, ngài đã thường xuyên viếng thăm Ðền Lòng Thương Xót Chúa ở đồi Lagiewniki, Krakow, nơi nữ tu Faustina từng cư ngụ và qua đời.
Ðức Tổng Giám mục Karol Wojtila cho điều tra sự việc và sau đó cho dịch lại một bản mới nhật ký của sơ Faustina để gửi cho Toà Thánh. Nhờ đó, vào năm 1978 Toà Thánh đã rút lại lệnh cấm cuốn nhật ký của Faustina, chỉ sáu tháng trước khi Ðức Tổng Giám mục Karol được bầu làm Giáo hoàng.
Ngày 18/04/1993, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã phong Chân phước cho Nữ tu Faustina Kowalska sau khi một người phụ nữ tên Maureen Digan được chữa lành khỏi một bệnh di truyền về máu nhờ lời cầu bầu của nữ tu Faustina. Và cuộc phong thánh vào ngày 30/04/2000 với rất nhiều người tham dự là kết quả của một phép lạ chữa lành cha Ronald P. Pytel (Baltimore, Hoa Kỳ) khỏi bệnh tim.
Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II gọi Thánh nữ Maria Faustina là “món quà của Thiên Chúa ban cho thời đại chúng ta”.
Trong bài giảng của buổi lễ phong thánh, Ðức Thánh Cha nói: “Tương lai của nhân loại trên mặt đất này sẽ ra sao? Chúng ta không được biết. Tuy nhiên, con người có thêm tiến bộ thì không may cũng không thiếu kinh nghiệm đớn đau. Nhưng ánh sáng của lòng thương xót Chúa. sẽ chiếu sáng đường đi cho con người trong thiên niên kỷ thứ ba. Ðức Thánh Cha cũng đã chính thức công bố từ nay về sau Chúa nhật II Phục sinh sẽ được gọi là Chúa nhật kính Lòng Thương Xót Chúa.
Trong bài giảng, Ðức Thánh Cha cho rằng chỉ khi nào con người cảm nhận được lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa dành cho nhân loại thì con người mới có thể “nhìn vào anh chị em của mình với đôi mắt mới, với thái độ vị tha và liên đới, đại lượng và tha thứ”.
Việc tôn sùng Lòng Thương Xót Chúa hiện nay được phổ biến trong nhiều quốc gia khắp thế giới qua sự cổ võ hoạt động của khoảng 2 triệu thành viên trong tổ chức “Tông đồ Lòng Thương Xót Chúa” gồm các linh mục, tu sĩ và giáo dân.
(nguồn: banthothienchua.com)
_______________________________
LƯỚT QUA CÁC BÀI ĐỌC:
Các bài đọc hôm nay nêu bật những sự kiện con người phải dựa vào để tin Thiên Chúa và Đức Kitô.
TRONG BÀI ĐỌC I Trích sách Tông đồ Công vụ, tác giả Sách Công Vụ Tông Đồ nhấn mạnh đến việc tuy không thấy việc Chúa Giêsu Phục Sinh từ ngôi mộ hay nhìn thấy Ngài cách nhãn tiền; nhưng qua lời làm chứng của các tông đồ và những phép lạ các ông làm, rất nhiều người đã tin vào Ngài.
TRONG BÀI ĐỌC II Trích sách Khải Huyền của Thánh Gioan, tác giả Sách Khải Huyền ghi chép lại những gì ông đã thấy về những gì sắp xảy ra cho bảy giáo đoàn tại Tiểu Á. Mục đích là để các tín hữu của giáo đoàn xét mình, nhận ra những ưu và khuyết điểm để kịp thời sửa chữa.
TRONG BÀI TIN MỪNG theo thánh Gioan, tông đồ Tôma từ chối không tin vào lời chứng của 10 tông đồ và ông xác tín ông chỉ tin khi nhìn thấy Chúa Giêsu tận mắt. Chúa Giêsu hiện ra cho ông thấy tận mắt; nhưng khuyến cáo ông: chỉ tin khi thấy là điều tầm thường, nhưng phúc cho những ai không thấy mà tin.
___________________________
ĐI VÀO BÀI TIN MỪNG:
Nếu theo dõi Phúc âm của Gioan, trong đoạn Tin mừng (Ga 21, 1-14), Gioan đã thuật lại sự kiện Chúa Giêsu hiện ra với các tông đồ (với số đông) tại bờ biển Tibêria, mà Gioan nói: “Đó là lần thứ ba Đức Giê-su tỏ mình ra cho các môn đệ, sau khi trỗi dậy từ cõi chết.” (Ga 21, 14).
Như vậy Bài Tin mừng hôm nay (Ga 20, 19-31) là lần thứ I và thứ II Chúa Giêsu phục sinh hiện ra với các môn đệ (với số đông) khi không có Tôma và khi có Tôma. Hai lần này cách nhau đúng 8 ngày (1 tuần lễ). Như vậy, lần hiện ra thứ I nhằm ngày thứ nhất trong tuần, thì lần thứ II cũng xảy ra ngày thứ nhất trong tuần mà là tuần lễ kế tiếp.
“VÀO BUỔI CHIỀU NGÀY THỨ NHẤT TRONG TUẦN, NHỮNG CỬA NHÀ CÁC MÔN ĐỆ HỌP ĐỀU ĐÓNG KÍN, VÌ SỢ NGƯỜI DO-THÁI, CHÚA GIÊSU HIỆN ĐẾN, ĐỨNG GIỮA CÁC ÔNG”
“NGÀY THỨ NHẤT TRONG TUẦN”
Chúng ta thường nghe nói đến “ Ngày thứ nhất trong tuần”, nó hơi mơ hồ không biết là ngày thứ mấy trong cách tính thời gian bây giờ, vì vậy có lẽ ta nên xác định đôi chút về ngày này.
Kinh Thánh và truyền thống Do Thái cho thấy: Ngày Thứ Nhất trong tuần không phải là ngày Sabbath của Do Thái. Ngày Sabbath là ngày thứ bảy, ngày Đấng Tạo Hoá nghỉ sau sáu ngày tạo dựng như trong Sáng Thế Ký 2:2-3 mô tả. Sau này ngày Thứ Bảy tức ngày Sabbath thành ngày lễ buộc phải nghỉ cho toàn dân Do Thái như được ghi trong sách Xuất hành 20:11 và cả trong hai bia đá lề luật mà Môsê nhận ở núi Sinai (Xuất Hành 16, 23-30).
“Ngày thứ nhất trong tuần” là ngày sau ngày Sabbath, ngày nghỉ lễ mà sau này lịch Roma gọi là Dies Solis, ngày của Thần Mặt Trời, tức ngày Chúa Nhật bây giờ.
Ngày Thứ Nhất trong tuần là ngày Chúa Nhật tính theo Dương Lịch.
VẤN ĐỀ ĐẶT RA:
Như vậy Chúa Giêsu đã chết được ba ngày theo như đã theo như đã tiên báo chưa? Ta xét:
Chúa Giêsu chết vào ba giờ chiều ngày Thứ Sáu, coi như là ngày thứ nhất. Người ta vội vã chôn cất Chúa cho xong trước khi ngày Vượt Qua, tức ngày Sabbath bắt đầu lúc sáu giờ chiều.
Chúa trong mộ suốt ngày Thứ Bảy, coi như ngày thứ hai Chúa chết.
Ngày thứ nhất trong tuần, tức ngày Chúa Nhật, ngày thứ ba sau khi Chúa chết, Chúa đã sống lại vinh quang.
NHƯ VẬY CHÚA SỐNG LẠI ĐÚNG NHƯ LỜI NGÀI TIÊN BÁO.
“VÌ SỢ NGƯỜI DO-THÁI”
Gioan mô tả tâm trạng của các môn đệ sau cái chết của Chúa Giêsu là “sợ người Do Thái”, đó là một tâm trạng dễ hiểu.
Nếu ai có làm việc hay có liên quan đến chế độ Việt Nam Cộng hoà, sẽ hiểu được tâm trạng của các môn đệ lúc bấy giờ, vì cái ngày Giải phóng 30-4-1975, đã mang cho họ một tâm trạng sợ hãi như vậy, họ sợ trả thù, sợ cái gì bất lợi cho tính mạng của mình, một nỗi sợ bất định, không xác định cụ thể nhưng nói chung là sợ
Gioan còn mô tả tâm trạng của các môn đệ rõ nét hơn khi ông viết:
“NHỮNG CỬA NHÀ CÁC MÔN ĐỆ HỌP ĐỀU ĐÓNG KÍN”
Sợ quá đến độ phải đóng kín tất cả các cửa thông ra với thế giới bên ngoài, để sống cách ly hoàn toàn, không cho ai biết, không cho ai thấy.
“CHÚA GIÊSU HIỆN ĐẾN, ĐỨNG GIỮA CÁC ÔNG”
Trong lúc hoảng sợ như vậy thì Chúa Giêsu phục sinh hiện đến và đứng giữa các môn đệ. Gioan nói “hiện đến”, có nghĩa không đi từ ngoài vào bằng cửa, vì cửa đã đóng kín mà là xuất hiện bất ngờ. Đó là đặc tính của một thân xác phục sinh, được biến đổi hoàn toàn. Không có bất kỳ chướng ngại nào có thể ngăn cản Ngài.
Chúa Giêsu “đứng giữa”, nó mang 2 ý nghĩa:
+ Để cho mọi người được nhìn thấy
+ Để như một cột trụ vững chắng nâng đỡ tinh thần cho các môn đệ đang bị sa sút trầm trọng, những con người đã mất hết sức sống, mất hết nhuệ khí.
“VÀ NÓI RẰNG: “BÌNH AN CHO CÁC CON”. KHI NÓI ĐIỀU ĐÓ, NGƯỜI CHO CÁC ÔNG XEM TAY VÀ CẠNH SƯỜN NGƯỜI”
“BÌNH AN CHO CÁC CON”, đó là câu nói đầu tiên của Chúa Giêsu sau khi sống lại. Trước tiên Ngài ban cho các môn đệ sự bình an. Đây là thứ mà các ông đang cần nhất trong lúc này, nó thật cần thiết và cấp bách. Sự bình an đích thực mà Chúa Giêsu ban sẽ đánh tan nỗi sợ hãi, hoang mang, lo lắng trong các môn đệ.
Gioan viết: Ngài vừa nói vừa cho các môn đệ xem tay và cạnh sườn Ngài, như để chứng minh: Ngài vẫn sống.
“CẠNH SƯỜN”.
Đây là nét đặc biệt của Tin mừng Gioan, chỉ riêng Gioan mới đề cập đến chi tiết này, Đức Giêsu cho xem cạnh sườn, nơi đã bị lính cầm lưỡi đòng đâm xuyên. Gioan viết: “Khi đến gần Đức Giê-su và thấy Người đã chết, họ không đánh giập ống chân Người. Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra” (Ga 19, 33-34). Nó muốn diễn tả tình yêu của Con Thiên Chúa đã “tuôn chảy” ra cho hết mọi người, nó là biểu tượng của Lòng Chúa thương xót.
Trong khi đó Luca chỉ cho xem tay chân (Lc 24, 39).
Ngài cho họ xem tay và cạnh sườn như một minh chứng Ngài đã sống lại, với một thân xác đã phục sinh nhưng vẫn còn các dấu vết của cuộc Khổ nạn.
ĐỘC GIẢ CÓ THỂ ĐẶT VẤN ĐỀ:
“Tại sao Chúa Giêsu lại cho các môn đệ xem tay và cạnh sườn Ngài? Có cần thiết phải làm vậy không?
Thưa, theo Matthêu, lúc ấy (thời điểm Matthêu viết Phúc âm thứ nhất) đang có tin đồn được lan rộng do lính của các Thượng tế. Matthêu viết: “Khi chúng tôi ngủ, môn đệ hắn đến trộm xác mang đi! Và người Do Thái vẫn tin như vậy cho đến ngày nay” (Mt 28,13-15).
Gioan đã bẻ gãy lập luận này, Gioan tường thuật Chúa Giêsu cho các môn đệ xem tay và cạnh sườn Ngài để chứng minh thân xác của Chúa Giêsu vẫn là MỘT, chính thân xác bị đóng đinh bầm dập đang ở đây chứ không có chuyện các môn đệ đã lấy trộm xác
“BẤY GIỜ CÁC MÔN ĐỆ VUI MỪNG VÌ XEM THẤY CHÚA”
Gioan diễn tả tâm trạng của các môn đệ: VUI MỪNG VÌ XEM THẤY CHÚA.
Chúa Giêsu đã làm 2 động tác cùng một lúc: vừa ban bình an – vừa cho xem tay và cạnh sườn Ngài. Nó đã đem lại kết quả tức thì
“CHÚA GIÊSU LẠI PHÁN BẢO CÁC ÔNG RẰNG: “BÌNH AN CHO CÁC CON. NHƯ CHA ĐÃ SAI THẦY, THẦY CŨNG SAI CÁC CON”.
Đức Giêsu lại ban bình an lần thứ hai, nhưng lần ban bình an này xảy ra sau khi Ngài đã cho môn đệ xem tay và cạnh sườn. Đức Giêsu muốn nhấn mạnh hơn nữa về Tình yêu vĩ đại, Ngài đã yêu các ông cho đến giọt máu cuối cùng, như vậy các ông không còn lý do gì để sự sợ hãi xâm chiếm, các ông phải luôn giữ được sự bình an vì có Ngài ở cùng các ông.
“NHƯ CHA ĐÃ SAI THẦY, THẦY CŨNG SAI CÁC CON”
Đức Giêsu đến trần gian thực thi thánh ý Chúa Cha, Cha đã sai Ngài và Ngài đã làm vuông tròn Thánh ý, đã uống cạn chén đắng mà Cha đã giao cho. Đức Giêsu sắp về với Chúa Cha để bước vào vinh quang, nhưng Chương trình Cứu chuộc mới chỉ là khởi đầu, nó còn phải được hoàn thành cho đến ngày tận thế. Ai sẽ là người hoàn thành đây? thưa: đó là các môn đệ và những người kế vị các ông. Như vậy, hôm nay Đức Giêsu chính thức sai các ông đi. Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em. Đó là sự liên tục trong Công trình Cứu chuộc, và các môn đệ cũng sẽ sai những người kế vị các ông sau này. Người này lại nối tiếp người kia để con người qua mọi thời đại được nhận biết Thiên Chúa.
“NÓI THẾ RỒI, NGƯỜI THỔI HƠI VÀ PHÁN BẢO CÁC ÔNG: “CÁC CON HÃY NHẬN LẤY THÁNH THẦN, CÁC CON THA TỘI AI, THÌ TỘI NGƯỜI ẤY ĐƯỢC THA. CÁC CON CẦM TỘI AI, THÌ TỘI NGƯỜI ẤY BỊ CẦM LẠI”
“THỔI HƠI”.
Đức Giêsu thổi hơi vào các môn đệ, nó làm cho độc giả nhớ lại sự thổi hơi lúc ban đầu. Sách Sáng thế ký viết: “ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật” (Stk 2, 7) Thiên Chúa thổi sinh khí vào lỗ mũi để con người có sự sống. Hôm nay Đức Giêsu cũng thổi hơi trên các môn đệ để ban Thần Khí Thiên Chúa, tức Chúa Thánh Thần. Ngài sẽ ngự xuống trên các môn đệ vào Ngày Lễ Ngũ Tuần đi kèm với một sự kiện long trời lở đất, đánh dấu giai đoạn khai mở Giáo hội Chúa.
Nhưng hôm nay Ngài đã thổi hơi và mời gọi các ông: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần.” Vì phải nhận lấy Thánh Thần, các ông mới được trao cho QUYỀN THA TỘI và CẦM BUỘC. Người Do Thái, cụ thể là Kinh sư và Pharisêu quan niệm: chỉ có Thiên Chúa mới có quyền tha tội (Mc 2, 7). Vâng họ nói đúng, vì chỉ có Đấng ở ngoài vòng tội lỗi mới có quyền tha tội, đó là Thiên Chúa. Đức Giêsu khẳng định Ngài có quyền tha tội, vì Ngài là Con Thiên Chúa (Lc 5, 24). Hôm nay Ngài trao cho các ông quyền đó, nhưng trước khi nhận quyền Tha tội và Cầm buộc, các ông phải nhận lấy Thánh Thần, vì chính Thánh Thần sẽ thánh hiến họ.
Quyền năng tha tội đó được diễn tả như sau: “ANH EM THA TỘI CHO AI, THÌ NGƯỜI ẤY ĐƯỢC THA”. Có nghĩa quyền tha tội có tính tuyệt đối. Khi các ông tha tội cho ai, tội người đó chắc chắn được tha, không những có giá trị trên mặt đất, nó còn giá trị trên trời cao.
Ngược lại quyền Tha tội là quyền Cầm buộc để giữ vững kỷ cương của Giáo hội: “ANH EM CẦM GIỮ AI, THÌ NGƯỜI ẤY BỊ CẦM GIỮ”. Quyền năng Tha tội và Cầm buộc không những Đức Giêsu ban cho các môn đệ mà còn trao cho những người kế vị các ông.
“BẤY GIỜ TRONG MƯỜI HAI TÔNG ĐỒ, CÓ ÔNG TÔMA GỌI LÀ ĐIĐYMÔ, KHÔNG CÙNG Ở VỚI CÁC ÔNG KHI CHÚA GIÊSU HIỆN ĐẾN
“ÔNG TÔMA GỌI LÀ ĐIĐYMÔ (sinh đôi)”.
Tại sao Gioan lại viết câu này?
Thưa, vì vào thế kỷ thứ ba và thứ tư, người ta thấy xuất hiện một ngụy thư mang tên Tông Đồ Công Vụ của Tôma (Acts of Thomas) và gọi Tôma là Giuđa Tôma và cho rằng Tôma là anh em sinh đôi với Chúa Giêsu.
Có người còn cho rằng: Tôma là anh em sinh đôi với Matthêu.
Tất cả đều sai lầm.
Vì Tôma trong tiếng Aram có nghĩa là “sinh đôi” (Twin).
Phúc Âm Thánh Gioan, dịch từ “Sinh đôi” sang tiếng Hy Lạp là Didymus để nói với các Cộng Đoàn người biết tiếng Hy Lạp là Tôma có nghĩa là “Sinh đôi”. Như vậy ngay bản thân từ “Tôma” có nghĩa là “Sinh đôi” rồi, chứ không phải dự vào từ Đyđimô mà nói này nói nọ. Gioan chỉ dịch từ “Tôma” thành Dyđimô mà thôi.
“KHÔNG CÙNG Ở VỚI CÁC ÔNG KHI CHÚA GIÊSU HIỆN ĐẾN”
Tôma là một trong những nhân vật chính của Phúc âm thứ tư. Người ta không hiểu tại sao ông lại vắng mặt trong lần hiện ra này, ông đi đâu, Gioan không nói. Chắc chắn ông không cố tình vì không ai biết Đức Giêsu sẽ đến lúc nào, nhưng sự vắng mặt của ông lại là một điều hay, vì nó đem lại cho Giáo hội một bài học quý báu.
“CÁC MÔN ĐỆ KHÁC ĐÃ NÓI VỚI ÔNG RẰNG: “CHÚNG TÔI ĐÃ XEM THẤY CHÚA”. NHƯNG ÔNG ĐÃ NÓI VỚI CÁC ÔNG KIA RẰNG:
“NẾU TÔI KHÔNG NHÌN THấY VẾT ĐINH Ở TAY NGƯỜI, NẾU TÔI KHÔNG THỌC NGÓN TAY VÀO LỔ ĐINH, NẾU TÔI KHÔNG THỌC BÀN TAY VÀO CẠNH SƯỜN NGƯỜI, THÌ TÔI KHÔNG TIN”.
“CÁC MÔN ĐỆ KHÁC ĐÃ NÓI VỚI ÔNG RẰNG: “CHÚNG TÔI ĐÃ XEM THẤY CHÚA”.
Điều đó hoàn toàn đúng vì các ông đã thấy Chúa, nhưng nó không giá trị gì đối với Tôma vì trải nghiệm về Đấng Phục sinh không có tính lan truyền, có nghĩa sự trải nghiệm của người này không phải là của người kia. Cho dù đây là lời chứng của số đông (10 người), đã vượt quá con số 2 mà lề luật đòi hỏi. Lề luật quy định lời chứng của hai người là lời chứng đáng tin.
“NẾU ……. NẾU……NẾU….”
Cho dù có số đông người làm chứng như vậy, Gioan nói: Tôma vẫn không tin. Trái lại ông đã đặt ra quá nhiều điều kiện: “Nếu…. nếu …. Nếu…” Chỉ khi nào làm thoả mãn tất cả các chữ “nếu” này thì ông mới tin. Ở đây có đến 3 chữ “nếu”, điều kiện nhiều quá như để nói lên sự chắc chắn loại bỏ tất cả sự hoài nghi
Niềm tin của Tôma còn thấp hơn mức thấp nhất. Ở cấp độ thấp nhất, đó là “THẤY RỒI MỚI TIN”, còn ở Tôma: ĐỨC TIN PHẢI CÓ ĐIỀU KIỆN. Như vậy, niềm tin của Tôma còn ở dưới mức thấp nhất.
Đối với Tôma, ông không tin dễ dàng như vậy, vì từ xưa đến nay, ông chưa hề nghe nói có một ai tự mình sống lại từ cõi chết bao giờ. Cứ bình thường mà xét, phải nói rằng Tôma khôn ngoan và thận trọng hơn các tông đồ khác.
Không phải ông cứng lòng tin, nhưng ông không chấp nhận có bất kỳ sai sót nào trong niềm tin của mình. Một con người không dễ tin, đó là một đức tính cao quý, vì phải gạt bỏ tất cả những sự hoài nghi, nó dễ dẫn đến sai lầm và mê tín. Một con người không dễ tin, nhưng một khi đã tin, niềm tin đó sẽ trở nên chắc chắn không gì có thể lay chuyển.
Độc giả có thể chê trách thái độ của Tôma ư? Hãy khoan, vì đây chính là điểm son của ông.
Ngày nay, con người đã bước vào kỷ nguyên của khoa học kỹ thuật, nên con người chịu ảnh hưởng của tinh thần khoa học thực nghiệm rất nhiều. Tinh thần khoa học thực nghiệm chính là tinh thần của Descartes (1596-1650): “Chỉ tin sau khi đã chứng minh”. Tinh thần ấy chính là tinh thần của Tôma, chính vì thế, các nhà khoa học Công giáo đã nhận thánh Tôma làm bổn mạng của các nhà khoa học.
“TÁM NGÀY SAU, CÁC MÔN ĐỆ LẠI HỌP NHAU TRONG NHÀ VÀ CÓ TÔMA Ở VỚI CÁC ÔNG. TRONG KHI CÁC CỬA VẪN ĐÓNG KÍN, CHÚA GIÊSU HIỆN ĐẾN ĐỨNG GIỮA MÀ PHÁN: “BÌNH AN CHO CÁC CON”.
“TÁM NGÀY SAU”
Nó cũng rơi vào Ngày thứ nhất trong tuần, nhưng là tuần lễ kế tiếp, tức cũng ngày Chúa nhật. Các môn đệ lại họp nhau. Như vậy, ngay từ buổi ban đầu, các môn đệ đã có thói quen quý trọng ngày Chúa nhật, đó là ngày thờ phượng Chúa và kịch bản đã xảy ra đúng như tuần trước, Chúa Giêsu phục sinh lại hiện ra với các môn đệ và ban bình an cho các ông. Nhưng lần này đặc biệt có sự hiện diện của Tôma.
“ĐOẠN NGƯỜI NÓI VỚI TÔMA: “HÃY XỎ NGÓN TAY CON VÀO ĐÂY, VÀ HÃY XEM TAY THẦY; HÃY ĐƯA BÀN TAY CON RA VÀ XỎ VÀO CẠNH SƯỜN THẦY; CHỚ CỨNG LÒNG, NHƯNG HÃY TIN”.
Đây là phần Chúa Giêsu dành riêng cho Tôma. Nếu lần trước ông dám ra điều kiện “nếu…. nếu…. nếu….” chỉ khi nào thoả mãn cả 3 chữ “nếu” thì ông mới tin. Chúa Giêu sẵn sàng chiều theo ý ông, Ngài sẽ đáp ứng đủ 3 chữ “nếu” đó. Ngài mời ông xỏ tay vào lỗ đinh nơi Ngài và xỏ tay vào cạng sườn Ngài. Đến nước này thì không còn gì mà Tôma phải nghi ngờ nữa.
Có nghĩa Chúa Giêsu muốn đáp ứng đòi hỏi của ông, vì ông đòi: Phải thấy dấu đinh ở tay; Đòi xỏ ngón tay vào lỗ đinh và đặt bàn tay vào cạnh sườn Đức Giêsu. Có nghĩa ông muốn dùng thị giác – mắt, và xúc giác – tay để kiểm tra. Bây giờ các đòi hỏi của ông đã được Đức Giêsu đáp ứng. Ngài cho phép ông có toàn quyền kiểm tra như ông muốn.
Gioan viết: “Chớ cứng lòng nhưng hãy tin”.
“TÔMA THƯA RẰNG: “LẠY CHÚA CON, LẠY THIÊN CHÚA CỦA CON!” CHÚA GIÊSU NÓI VỚI ÔNG: “TÔMA, VÌ CON ĐÃ XEM THẤY THầY, NÊN CON ĐÃ TIN. PHÚC CHO NHỮNG AI ĐÃ KHÔNG THẤY MÀ TIN!”
Nhưng độc giả thấy Tôma thế nào? Ông có kiểm tra như ông đòi hỏi không? Thưa KHÔNG. Vì đứng trước Đức Giêsu phục sinh, mọi nghi ngờ của ông đã biến mất, sự hoài nghi đã bị chặn đứng, chỉ cần thấy, tức chỉ cần thị giác đã đủ đưa ông đến thái độ tin tưởng hoàn toàn. (Không cần dùng đến xúc giác – tay)
Ngày nay có nhiều hình ảnh mô tả Tôma đã thọc ngón tay vào cạnh sườn Đức Giêsu hoàn toàn sai với Tin mừng. Không biết tác giả của những bức hình đó có ý gì khác chăng?
“LẠY CHÚA CON, LẠY THIÊN CHÚA CỦA CON!”
Ông đã biều lộ niềm tin của mình trong câu tuyên xưng: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Đây là lời tuyên xưng đức tin vào Đức Giêsu Phục Sinh một cách đầy đủ và trực tiếp nhất, vì ông tuyên xưng đức tin vào Đấng Đã Sống Lại và vào thiên tính của Ngài.
“VÌ CON ĐÃ XEM THẤY THầY, NÊN CON ĐÃ TIN. PHÚC CHO NHỮNG AI ĐÃ KHÔNG THẤY MÀ TIN!”
Đức Giêsu không hề trách Tôma, nhưng Ngài nói với ông: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!” Có nghĩa ông thuộc loại người THẤY RỒI MỚI TIN, ông vẫn có phúc, nhưng không có phúc bằng người: TIN RỒI SẼ THẤY.
“Phúc cho người không thấy mà tin”, Đức Giêsu đang nói về chúng ta, là những người không thấy Ngài bằng con mắt xác thịt như thời các tông đồ, nhưng ta đã tin Ngài, vì đức tin không phải là nỗ lực cá nhân, không là ý chí con người, đức tin trước hết và trên hết là hồng ân Thiên Chúa ban. Vâng Thiên Chúa đã ban cho ta niềm tin vào Ngài, và từ niềm tin ấy ta đã nhìn thấy Ngài trong từng biến cố cuộc đời mình.
Người ta cứ đòi phải thấy Thiên Chúa thì mới tin có Ngài, đó là thái độ của người cố chấp, ươn hèn trong thú tính của mình, họ muốn ở lì trong tình trạng thấp hèn và dùng những luận điệu rẻ tiền để biện minh. Nếu họ vẫn cố chấp như vậy cho đến hết cuộc đời, họ sẽ không bao giờ thấy Thiên Chúa, vì Thiên Chúa không bao giờ là đối tượng của khoa học thực nghiệm, Ngài không phải cái gì đó con người có thể sờ mó được, nắm bắt được.
Bài học Đức Giêsu dạy hôm nay: “Phúc thay những người không thấy mà tin”, Ngài muốn dạy ta: CỨ TIN ĐI RỒI SẼ THẤY. Mà ta đã nói, đức tin là một hồng ân Chúa ban, đó không phải là nỗ lực con người. Như vậy, nếu muốn thấy Thiên Chúa trong cuộc đời mình, ta phải loại bỏ sự cố chấp, loại bỏ thành kiến và nài xin Chúa ban thêm đức tin cho mình. Và khi đã có đức tin, ta sẽ thấy Ngài, vì CỨ TIN ĐI RỒI SẼ THẤY.
“CHÚA GIÊSU CÒN LÀM NHIỀU PHÉP LẠ KHÁC TRƯỚC MẶT CÁC MÔN ĐỆ, VÀ KHÔNG CÓ GHI CHÉP TRONG SÁCH NÀY. NHƯNG CÁC ĐIỀU NÀY ĐÃ ĐƯỢC GHI CHÉP ĐỂ ANH EM TIN RẰNG CHÚA GIÊSU LÀ ĐẤNG KITÔ, CON THIÊN CHÚA, VÀ ĐỂ ANH EM TIN MÀ ĐƯỢC SỐNG NHỜ DANH NGƯỜI.”
Đây là những dòng sau cùng của Sách Tin mừng thứ tư của Gioan, kết thúc Chương 20 (sau này ông viết thêm Chương 21, là phần Phụ chương). Ông viết: “Đức Giê-su đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này”, có nghĩa còn rất nhiều dấu lạ khác nữa mà ông không ghi vào Sách Tin mừng của ông.
Độc giả có thể đặt câu hỏi: Tại sao trong 03 Sách Tin mừng khác (Matthêu, Marcô, Luca) không nói đến điều này mà chỉ ở Sách Tin mừng thứ tư? thưa: Vì Gioan vừa là tác giả, vừa là người chứng kiến, ông là người môn đệ Đức Giêsu thương mến đặc biệt. Ông có mặt hầu hết trong các biến cố cuộc đời Đức Giêsu, với lại ông chỉ viết Sách Tin mừng thứ tư sau khi đã về già, có nghĩa ông đã nghiền gẫm các biến cố đó với một thời gian rất dài, ông đã đi vào chiều sâu, quá sâu trong ý nghĩa của từng Đức Giêsu nói và từng việc Ngài làm.
Trong phần Phụ chương, Chương 21, dòng cuối cùng Gioan viết như sau: “Còn có nhiều điều khác Đức Giê-su đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ: cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra.” (Ga 21, 25) Có nghĩa còn nhiều, còn nhiều điều mà ông đã bỏ qua không viết.
Nhưng Gioan nói: “Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người.”
Vâng chỉ với những điều Gioan viết ra cũng đủ cho ta tin Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, và niềm tin đó đã đưa ta đến sự sống đời đời.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa nói với chúng con: “Phúc thay những ai không thấy mà tin”. Xin cho chúng con tin, dù không thấy Chúa, và vì tin, nên nhìn thấy Chúa đang hiện diện, đang thi ân giáng phúc cho chúng con.
Amen.
__________________________
Giuse Nguyễn Viết Tâm.

