LỄ CHÚA BIẾN HÌNH
“ÐANG KHI CẦU NGUYỆN, DIỆN MẠO NGƯỜI BIẾN ĐỔI KHÁC THƯỜNG”.
BÀI ĐỌC I: St 15, 5-12. 17-18
“Thiên Chúa đã thiết lập giao ước với Abraham”.
Bài trích sách Sáng Thế.
Trong những ngày ấy, Thiên Chúa dẫn Abram ra ngoài và nói với ông: “Ngươi hãy ngước mắt lên trời, và nếu có thể được, hãy đếm các ngôi sao”. Rồi Chúa nói tiếp: “Miêu duệ của ngươi sẽ đông đảo như thế”. Abram tin vào Thiên Chúa, và vì đó ông được công chính.
Và Chúa lại nói: “Ta là Chúa, Ðấng dẫn dắt ngươi ra khỏi thành Ur của dân Calđê, để ban cho ngươi xứ này làm gia nghiệp”. Abram thưa rằng: “Lạy Chúa là Thiên Chúa, làm sao con có thể biết con sẽ được xứ đó làm gia nghiệp?” Chúa đáp: “Ngươi hãy bắt một con bò cái ba tuổi, một con dê cái ba tuổi, một con cừu đực ba tuổi, một con chim gáy mái và một con bồ câu non”. Abram bắt tất cả những con vật ấy, chặt ra làm đôi, đặt phân nửa này đối diện với phân nửa kia; nhưng ông không chặt đôi các con chim. Các mãnh cầm lao xuống trên những con vật vừa bị giết, song ông Abram đuổi chúng đi. Lúc mặt trời lặn, Abram ngủ mê; một cơn sợ hãi khủng khiếp và u tối bao trùm lấy ông.
Khi mặt trời đã lặn rồi, bóng tối mịt mù phủ xuống, có một chiếc lò bốc khói và một khối lửa băng qua giữa những phần con vật bị chia đôi. Trong ngày đó, Chúa đã thiết lập giao ước với Abram mà nói rằng: “Ta ban xứ này cho miêu duệ ngươi, từ sông Ai-cập cho đến sông Eu-phrát”.
Ðó là lời Chúa.
BÀI ĐỌC II: Pl 3,17 – 4,1
“Chúa Kitô sẽ biến đổi thân xác chúng ta nên giống thân xác hiển vinh của Người”.
Bài trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Philípphê.
Anh em thân mến, anh em hãy bắt chước tôi, và hãy để mắt nhìn coi những người ăn ở theo như mẫu mực anh em thấy nơi chúng tôi. Bởi chưng như tôi đã thường nói với anh em, và giờ đây tôi đau lòng ứa lệ mà nói lại, có nhiều người sống thù nghịch với thập giá Ðức Kitô. Chung cuộc đời họ là hư vong, chúa tể của họ là cái bụng, và họ đặt vinh danh của họ trong những điều ô nhục; họ chỉ ưa chuộng những cái trên cõi đời này.
Phần chúng ta, quê hương chúng ta ở trên trời, nơi đó chúng ta mong đợi Ðấng Cứu Chuộc là Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Người sẽ biến đổi thân xác hèn hạ của chúng ta nên giống như thân xác hiển vinh của Người, nhờ quyền lực mà Người vẫn có, để bắt muôn vật suy phục Người.
Bởi thế, anh em thân mến và yêu quý, anh em là niềm hoan lạc và triều thiên của tôi; anh em thân mến, hãy vững vàng trong Chúa.
Ðó là lời Chúa.
PHÚC ÂM: Lc 9, 28b-36
“Ðang khi cầu nguyện, diện mạo Người biến đổi khác thường”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, Chúa Giêsu đưa Phêrô, Giacôbê và Gioan lên núi cầu nguyện. Và đang khi cầu nguyện, diện mạo Người biến đổi khác thường và áo Người trở nên trắng tinh sáng láng. Bỗng có hai vị đàm đạo với Người, đó là Môsê và Êlia, hiện đến uy nghi, và nói về sự chết của Người sẽ thực hiện tại Giêrusalem. Phêrô và hai bạn ông đang ngủ mê, chợt tỉnh dậy, thấy vinh quang của Chúa và hai vị đang đứng với Người. Lúc hai vị từ biệt Chúa, Phêrô thưa cùng Chúa Giêsu rằng: “Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm; chúng con xin làm ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê, và một cho Êlia”. Khi nói thế, Phêrô không rõ mình nói gì. Lúc ông còn đang nói, thì một đám mây bao phủ các Ngài và thấy các ngài biến vào trong đám mây, các môn đệ đều kinh hoàng. Bấy giờ từ đám mây có tiếng phán rằng: “Ðây là Con Ta yêu dấu, các ngươi hãy nghe lời Người”. Và khi tiếng đang phán ra, thì chỉ thấy còn mình Chúa Giêsu. Suốt thời gian đó, các môn đệ giữ kín không nói với ai những điều mình đã chứng kiến.
Ðó là lời Chúa.
___________________________
SUY NIỆM & CHIA SẺ:
LƯỚT QUA CÁC BÀI ĐỌC:
A/- TRONG BÀI ĐỌC I trích sáng Sáng Thế, Bài đọc I nêu bật chủ đề:
ABRAHAM TIN VÀO THIÊN CHÚA
Thiên Chúa mời gọi Abram bỏ quê cha đất tổ để đi tới nơi Thiên Chúa sẽ chỉ cho, rồi Thiên Chúa sẽ làm cho ông có con cháu nối giòng, có đất để sống. 75 tuổi được gọi và ra đi (St.12, 4) nhưng đến 99 tuổi, Abraham vẫn chưa có con với Sara (St.17, 1.17). Khi Sara chết, ông vẫn không có đất để chôn vợ (St.23, 1-20). Lời hứa có con cháu đông như sao trên trời như cát dưới biển, cũng như lời hứa có đất làm cơ nghiệp vẫn chưa được thực hiện hoàn toàn khi Abraham chết. Dưới cái nhìn của người đời, Abraham là người dại vì đã tin vào Thiên Chúa.
Thiên Chúa đã thực hiện lời Ngài “quá trễ” đến độ người ta nghĩ rằng Ngài đã quên; tuy vậy Abraham vẫn một lòng tin vào Thiên Chúa, và vì thế ông là gương mẫu cho các tín hữu. Thiên Chúa đã hứa, và Abraham đã tin. Tuy dù Abraham sống như những người khác, nhưng ông đã vâng phục Thiên Chúa trong mọi chuyện, kể cả việc sẵn sàng hiến tế Isaac. Chính vì tin vào Thiên Chúa mà ông trở nên công chính (St.15, 6).
Tin là thái độ của con người đối với Thiên Chúa. Thiên Chúa luôn ở gần bên mỗi người, mời gọi mỗi người bỏ mình để theo Ngài, và Ngài sẵn sàng can thiệp vào cuộc sống mỗi người khi cần. Xin cho chúng ta tin vào Thiên Chúa như Abraham.
B/- TRONG BÀI ĐỌC II trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Philípphê, Bài đọc II nêu bật chủ đề:
TIN VÀO THIÊN CHÚA ĐƯỢC TỎ LỘ QUA CÁCH SỐNG
Thánh Phaolô sống rất tuyệt, nên Ngài đã dám nói với tín hữu ở thành Philipphê: “anh em hãy bắt chước tôi”. Ngài là người đã được ơn trở lại trên đường đi bắt các Kitô hữu tại Đamas, và kể từ đó Ngài đã hoàn toàn thuộc về Chúa. Ngài đã bôn ba đi rao truyền Lời Chúa, và thiết lập các cộng đoàn. Những bức thư Ngài viết cho các cộng đoàn trở thành “Lời Chúa” cho con người của mọi thời đại. Thuộc về Thiên Chúa trong chính cuộc sống và hành động của thánh Phaolô, là mẫu gương sống cho con người hôm nay.
Thánh Phaolô yêu thương những con cái mà Ngài đã sinh ra trong Chúa. Khi xa Ngài, đã có một số người sống như không có Thiên Chúa. Họ đã lấy những của vật chất làm Chúa của họ, họ tự hào nơi những điều đáng lẽ phải hổ thẹn. Thánh Phaolô kêu gọi họ hãy sống trong niềm tin vào Đức Giêsu. Chính Đức Giêsu sẽ biến đổi thân xác chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Ngài. Không kiên vững trong niềm tin vào Thiên Chúa nơi Đức Giêsu, không thể đứng vững trong cuộc sống hiện tại.
“Hỡi những người anh em chí thân chí thiết của tôi, anh em là triều thiên và niềm vui của tôi, anh em hãy đứng vững trong niềm tin vào Chúa”. Ước gì mỗi người có thể nói với những người mình phục vụ như thánh Phaolô đã nói với những con cái của Ngài.
C/- TRONG BÀI TIN MỪNG theo thánh Luca.
Phúc Âm thánh Luca thường được gọi là Phúc Âm cầu nguyện. Tin Mừng nói đến 15 lần việc Chúa đi cầu nguyện thì 11 lần do thánh Luca. Hôm nay, Chúa đưa Phêrô, Giacôbê và Gioan lên núi cầu nguyện và việc Chúa biến hình xảy ra trong giờ cầu nguyện đó. Nhiều khi người ta cũng chứng kiến cảnh một số các thánh mặt rạng rỡ trong khi đăm chiêu đàm đạo với Chúa.
Chúa Giêsu đưa ba môn đệ lên núi Tabor, cao khoảng 600 thước và cho các ông được chứng kiến vinh quang của Ngài, như một ngày kia các ông sẽ là nhân chứng cuộc hấp hối của Ngài trong vườn Cây Dầu. Trong đời của Chúa, đau khổ và vinh quang gắn liền với nhau thì trong cuộc sống của mỗi người chúng ta cũng vậy. Sự đọc kinh cầu nguyện sẽ giúp ta vượt thắng đau khổ lo âu, biến hóa đau khổ thành vinh quang.
Đang khi Chúa cầu nguyện thì “diện mạo Ngài đổi khác thường”, như có ánh sang từ châu than loan tỏa ra, “áo Ngài trắng tinh sáng láng”, và hai bên có Moisê và Êlia xuất hiện. Hai nhà tiên tri đại diện Cựu ước cũng đã từng được chứng kiến vinh quang của Thiên Chúa trên núi Horeb (I Vua 19, 13-21), và Sinai (Xh 20, 2-17).
_______________________________
ĐI VÀO BÀI TIN MỪNG:
“KHI ẤY, CHÚA GIÊSU ĐƯA PHÊRÔ, GIACÔBÊ VÀ GIOAN LÊN NÚI CẦU NGUYỆN”
KHI ẤY
Thật đáng tiếc, sách bài đọc Chúa nhật II Mùa Chay năm C đã cắt bớt câu của Luca. “khoảng tám ngày sau khi nói những lời ấy”
Đúng ra Bài Tin mừng đầy đủ phải là (Lc 9, 28-36), chứ không phải (Lc 9, 28b-36).
Ông đã nói “khoảng tám ngày sau khi nói những lời ấy, Đức Giêsu đem theo các ông Phêrô, Gioan và Giacôbê”. Lại càng đáng tiếc hơn, vì ba Tin Mừng nhất lãm đều đồng ý liên kết chặt chẽ biến cố biến hình của Đức Giêsu với cuộc đàm thoại này của Người “khoảng tám ngày trước đó” (Mt 17,1-9,2; Lc 8,28).
Đó là một trong những trường hợp biến cố mà hai giai đoạn trong cuộc đời của Chúa Giêsu được nối liền theo thời gian. Vâng các ông Phêrô, Gioan và Giacôbê phải nhớ đến sự kiện này. Tám ngày trước, có một cuộc đối thoại không thể quên được, gồm hai phần:
Trước hết, Người đã hỏi các ông: “Anh em bảo Thầy là ai?” và Phêrô đã trả lời câu hỏi về “lý lịch” này, bằng cách tuyên xưng đức tin vào Chúa là “Đấng Mêsia của Thiên Chúa”… Rồi ngay sau đó, Đức Giêsu bắt đầu loan báo cho họ biết cái chết sắp tới của Người. “Thầy phải chịu đau khổ nhiều, bị loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sống lại”. Đó là cuộc đàm đạo của các ông còn ghi nhớ trong tâm trí.
Bài Tin mừng hôm nay thuật lại sự kiện Đức Giêsu biến hình trước mặt ba môn đệ thân tín là: Phêrô, Gioan và Giacôbê. Cả ba Thánh sử Nhất lãm: Matthêu, Marcô, Luca đều ghi lại sự kiện này (Mt 17, 1-8 ); (Mc 9, 2-8 ); (Lc 9, 28-36).
Sẽ có một loạt vấn đề đặt ra ngay trong chính câu mở đầu của Bài Tin mừng:
(1) SỰ KIỆN KHÁC NHAU VỀ THỜI GIAN GIỮA 3 THÁNH SỬ.
Thánh sử Matthêu và Marcô đều cho rằng sự kiện Đức Giêsu biến hình xảy ra sau sáu ngày Thánh Phêrô xác nhận thần tính của Đức Giêsu, Ngài là Con Thiên Chúa hằng sống, đồng thời Đức Giêsu cũng loan báo Cuộc Khổ nạn của Ngài và đã bị Phêrô can gián.
Còn ở Thánh sử Luca thì nói sau khoảng tám ngày. Chi tiết này không đến nỗi quan trọng lắm, có thể do cách tính thời gian của các Thánh sử có khác nhau.
LÊN NÚI CẦU NGUYỆN: ĐÂY LÀ NÚI NÀO?
Ta xác định xem đây là núi nào trong nước Do Thái? Các nhà chú giải đều đồng ý: Đức Giêsu biến hình tại một núi cao ở phía bắc nước Do Thái: Đa số cho là núi TABOR gần thành Nazareth hay là núi HERMON phía cực Bắc, nơi biên giới nước Do Thái, nhưng thực ra Tabor chỉ là một ngọn đồi, chứ không phải là núi, có lẽ là Hermon thì đúng hơn, nhưng không hiểu sao các nhà chú giải thiên về núi Tabor.
Tại sao Đức Giêsu đưa các môn đệ lên núi? thưa: vì núi là nơi mặc khải những điều trọng đại, là nơi có các cuộc thần hiển: Đức Chúa hiện ra nói chuyện với Môsê và ông đã đón nhận lề luật cho Dân riêng, như là dấu chỉ dân thuộc về Thiên Chúa (Xh 24); Đức Chúa tỏ mình ra với Êlia trên núi Khoreb (1 V 19,8)… Đức Giêsu cũng chọn núi cao, vì nó vừa yên tĩnh cách ly khỏi cảnh ồn ào náo nhiệt và cũng nói lên ý nghĩa, nếu ta muốn đón nhận Thánh ý Chúa, tâm hồn ta cũng phải được đưa lên cao, vượt lên trên những gì tầm thường ở đời này.
ĐƯA PHÊRÔ, GIACÔBÊ VÀ GIOAN LÊN NÚI:
Chính ba môn đệ được chọn: Phêrô, Giacôbê, Gioan là những chứng nhân được tham dự vào những biến cố đặc biệt trong cuộc đời Đức Giêsu: được chứng kiến Ngài làm phép lạ cho bé gái 12 tuổi đã chết được sống lại (Mc 5, 37). Cũng ba ông là những người cùng Đức Giêsu vào vườn Cây Dầu khi Ngài cầu nguyện (Mc 14, 33). Cả ba môn đệ này đã chứng kiến cảnh Đức Giêsu hấp hối trong vườn Giêtsimani, bị bắt (x. Mt 26, 56. 69-75 ; Mc 15, 50. 66-72; Lc 22, 55-62 ; Ga 18, 15-27). Như vậy, ba môn đệ này đều có mặt trong các sự kiện quan trọng trong cuộc đời Đức Giêsu, để rồi sau này các ông sẽ là những chứng nhân quan trọng khi giới thiệu Đức Giêsu cho mọi người.
ĐỘC GIẢ CÓ THỂ THẮC MẮC:
Tại sao Đức Giêsu không đưa cả 12 môn đệ cùng lên núi mà chỉ đưa có 03 người?
Đức Giêsu không đưa tất cả 12 môn đệ mà chỉ đưa 03 người, vì người ta không thể có kinh nghiệm về Thiên Chúa trong cảnh hỗn độn và náo nhiệt, 12 người không thể tạo ra bầu không khí tĩnh lặng, mà thay vào đó là sự ồn ào. Như vậy, trong muôn ngàn người, Đức Giêsu chỉ chọn 12, và trong 12 Người cuối cùng Ngài chỉ chọn 3, đó là thành phần tinh túy nhất được chứng kiến mọi sự kiện quan trọng trong cuộc đời của Ngài.
ĐỨC GIÊSU ĐƯA 03 MÔN ĐỆ LÊN NÚI ĐỂ LÀM GÌ?
Thưa: Vì cái chết của Đức Giêsu đã gần kề, việc Ngài loan báo Đức Kitô phải chịu khổ nạn, chịu đóng đinh vào thập giá và sau 3 ngày Ngài sẽ sống lại, đó là những gì gây cho các môn đệ sự thất vọng, đó thật là cú sốc, chính vì thế Đức Giêsu muốn cho các ông chứng kiến Thần tính của Ngài, chứng kiến vinh quang của Ngài để củng cố niềm tin cho các ông sau này. Nhưng có lẽ, cái chết của Đức Giêsu sau này vẫn là cái gì quá kinh khủng, vượt quá trí tưởng tượng của các ông, nên cho dù được báo trước, được chứng kiến vinh quang, các ông vẫn bị vấp ngã.
NGƯỜI BIẾN ĐỔI KHÁC THƯỜNG VÀ ÁO NGƯỜI TRỞ NÊN TRẮNG TINH SÁNG LÁNG. BỖNG CÓ HAI VỊ ĐÀM ĐẠO VỚI NGƯỜI, ĐÓ LÀ MÔSÊ VÀ ÊLIA, HIỆN ĐẾN UY NGHI, VÀ NÓI VỀ SỰ CHẾT CỦA NGƯỜI SẼ THỰC HIỆN TẠI GIÊRUSALEM. PHÊRÔ VÀ HAI BẠN ÔNG ĐANG NGỦ MÊ, CHỢT TỈNH DẬY, THẤY VINH QUANG CỦA CHÚA VÀ HAI VỊ ĐANG ĐỨNG VỚI NGƯỜI.
NGƯỜI BIẾN ĐỔI KHÁC THƯỜNG VÀ ÁO NGƯỜI TRỞ NÊN TRẮNG TINH SÁNG LÁNG
Đang lúc Người cầu nguyện, dung mạo Người bỗng đổi khác, y phục Người trở nên trắng tinh chói lòa. Thánh sử Matthêu viết rõ hơn: “Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng.” (Mt 17, 2). Đức Giêsu bắt đầu biến hình, và ta có thể giải thích sự biến hình của Ngài như sau:
GIẢI THÍCH SỰ KIỆN BIẾN HÌNH: THẦN TÍNH ĐƯỢC TỎ LỘ.
Khi nhập thể và nhập thế, Đức Giêsu mang thêm bản tính nhân loại, như vậy nơi Ngài có hai bản tính: Bản tính Thiên Chúa, ta gọi là Thần tính và Bản tính nhân loại, ta gọi là Nhân tính, hai bản tính đó kết hợp chặt chẽ nơi Ngài.
Thần Tính của Đức Giêsu luôn hiện diện, nhưng hàng ngày, Thần Tính đó được che phủ qua tấm màn Nhân tính, Thần tính không biểu lộ ra bên ngoài, nên người ta chỉ thấy Đức Giêsu như một phàm nhân, giống như chúng ta. Chỉ khi Ngài lấy quyền phép của Thần Tính để làm phép lạ: như cho kẻ chết sống lại, khiến giông tố đang hoành hành tức khắc yên lặng…thì người ta mới nhận biết Ngài là Thiên Chúa Toàn Năng. Khi Đức Giêsu biến hình, là lúc Thần tính của Ngài được tỏ lộ, không còn bị nhân tính che phủ. Và đây là lần đầu tiên, ba môn đệ: Phêrô, Giacôbê, và Gioan chứng kiến tận mắt Thần tính của Đức Giêsu, cả ba người đều ngây ngất.
SỰ HIỆN DIỆN CỦA ÔNG MÔSÊ VÀ ÊLIA LÚC ĐỨC GIÊSU BIẾN HÌNH CÓ Ý NGHĨA GÌ?
+ Môsê tượng trưng cho Lề Luật:
Đức Chúa ban Thập Giới (Mười Giới Răn) và các thánh chỉ qua Môsê. Ông được coi là nền tảng của Lề Luật, và biến cố hôm nay chứng tỏ Lề Luật phải hướng về Đức Kitô để được nên trọn vẹn, hoàn hảo.
+ Êlia tượng trưng cho các Ngôn Sứ:
Tiên-tri Êlia được coi là ngôn sứ cao trọng nhất trong các ngôn sứ vì những lời rao giảng và uy quyền làm phép lạ, và biến cố hôm nay chứng tỏ các Ngôn Sứ phải hướng về Đức Kitô, để tìm thấy sự hoàn hảo của các lời tiên tri về Đấng Thiên Sai.
Cả 2 ông đều hiện diện khi Đức Giêsu biến hình trên núi, cũng hiện diện một cách rạng ngời, có ý nghĩa rằng: Tất cả Lề luật và lời các Ngôn Sứ về Đấng Messia phải được ứng nghiệm nơi Đức Giêsu, Đấng quy tụ tất cả mọi tâm hồn ở mọi nơi và mọi thời đại. Đức Giêsu là Trung tâm điểm, nơi hội ngộ của mọi tâm hồn được Cứu Độ.
VÀ NÓI VỀ SỰ CHẾT CỦA NGƯỜI SẼ THỰC HIỆN TẠI GIÊRUSALEM
Họ đàm luận với nhau về điều gì?
Căn cứ vào những gì Thánh sử Luca tường thuật, chúng ta biết: chủ đề của cuộc đàm đạo là: biến cố Thương Khó, Tử Nạn, và Phục Sinh của Đức Giêsu. Trình thuật của Luca nói rõ chủ đề của cuộc đàm đạo là biến cố từ biệt sắp xảy ra tại Giêrusalem (Lc 9, 30-31).
PHÊRÔ VÀ HAI BẠN ÔNG ĐANG NGỦ MÊ, CHỢT TỈNH DẬY
Ta thấy ở đây có sự khác biệt rất lớn giữa các Thánh sử, lúc Đức Giêsu bắt đầu biến hình, các môn đệ thức hay ngủ?
(1) Ở Thánh sử Matthêu và Marcô:
Đức Giêsu biến hình trước mắt các ông, tức các môn đệ được chứng kiến từ những giây phút đầu tiên. “Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao. Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng” (Mt 17, 2-3).
(2) Ở Thánh sử Luca:
Lúc Đức Giêsu bắt đầu biến hình, các môn đệ đều ngủ mê mệt.
“Hai vị hiện ra, rạng ngời vinh hiển, và nói về cuộc xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giê-ru-sa-lem. Còn ông Phê-rô và đồng bạn thì ngủ mê mệt, nhưng khi tỉnh hẳn, các ông nhìn thấy vinh quang của Đức Giê-su, và hai nhân vật đứng bên Người”
THẤY VINH QUANG CỦA CHÚA VÀ HAI VỊ ĐANG ĐỨNG VỚI NGƯỜI
Như vậy, theo Luca, ba môn đệ thân tín không được chứng kiến giây phút thần tính của Đức Giêsu bắt đầu tỏ hiện, tức không được chứng kiến giây phút giao thời giữa Thần tính và Nhân tính nơi Đức Giêsu, các ông chỉ chứng kiến khi Thần tính đó đã được hiện ra. Khi các ông tỉnh hẳn, các ông hoàn toàn bước sang một thế giới mới và chính điều này làm cho các ông hoảng sợ cực độ, đến nỗi mình nói mà không hiểu mình đang nói gì. Nhưng chắc chắn các ông không sống trong mơ, vì các ông đã tỉnh hẳn, các ông đã được chiêm ngưỡng dung nhan vô cùng diễm lệ, khả ái của Đức Giêsu, đó thực sự là hạnh phúc vượt trên mọi niềm vui trần thế, tất cả danh lợi, thú vui thế gian này chẳng đáng kể gì hết.
Vâng, với những ai đã được Chúa hiện diện trong cuộc đời mình, họ cũng vô cùng hạnh phúc, không còn gì đáng để họ bận tâm, theo đuổi. Mặc dù họ vẫn phải sống trong cuộc đời này, vẫn chu toàn bao trách nhiệm, nhưng khi có Chúa trong lòng, họ sẽ sống theo một cách khác, họ sẽ biết phân biệt cái gì là thực, cái gì là ảo; họ cũng phân biệt đâu là mục đích và đâu là phương tiện, không còn lẫn lộn được nữa.
LÚC HAI VỊ TỪ BIỆT CHÚA, PHÊRÔ THƯA CÙNG CHÚA GIÊSU RẰNG: “LẠY THẦY, CHÚNG CON ĐƯỢC Ở ĐÂY THÌ TỐT LẮM; CHÚNG CON XIN LÀM BA LỀU, MỘT CHO THẦY, MỘT CHO MÔSÊ, VÀ MỘT CHO ÊLIA”. KHI NÓI THẾ, PHÊRÔ KHÔNG RÕ MÌNH NÓI GÌ. LÚC ÔNG CÒN ĐANG NÓI, THÌ MỘT ĐÁM MÂY BAO PHỦ CÁC NGÀI VÀ THẤY CÁC NGÀI BIẾN VÀO TRONG ĐÁM MÂY, CÁC MÔN ĐỆ ĐỀU KINH HOÀNG.
LÚC HAI VỊ TỪ BIỆT CHÚA, PHÊRÔ THƯA CÙNG CHÚA GIÊSU RẰNG:
Như vậy cuộc đàm đạo giữa Chúa Giêsu và ông Môsê, Elia về cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu tại Giêrusalem đã xong. Có lẽ ba môn đệ thân tín đã nghe hết cuộc đàm đạo này, có thể các ông chưa hiểu hết Chương trình Màu nhiệm của Thiên Chúa.
Trước đây cũng chính Phêrô đã lên tiếng can ngăn Chúa Giêsu về cuộc Khổ nạn này. Chúa Giêsu đã có ý cho các ông được nghe cuộc đàm đạo để các ông hiểu rằng: Cuộc Khổ Nạn đó không phải là do ý Ngài muốn vì chính Ngài cũng phải thốt lên: “Lạy Cha nếu có thể, xin cho Con thoát khỏi Chén này, nhưng xin đừng theo ý Con một xin vâng theo Ý Cha mà thôi”. Như vậy các ông phải hiểu rằng: Đây là Kế hoạch của Thiên Chúa từ ngàn đời mà các Lề Luật và các Tiên tri đã loan báo.
Các môn thân tín chỉ biết lắng nghe mà không dám xen vào, họ đợi cuộc đàm đạo kết thúc thì mới bắt đầu lên tiếng.
“LẠY THẦY, CHÚNG CON ĐƯỢC Ở ĐÂY THÌ TỐT LẮM; CHÚNG CON XIN LÀM BA LỀU, MỘT CHO THẦY, MỘT CHO MÔSÊ, VÀ MỘT CHO ÊLIA”
Một khi chứng kiến vinh quang Thiên Chúa, các môn đệ ngây ngất, không còn gì có thể quyến rũ được các ông nữa, ở đây quá tuyệt vời rồi còn đi đâu nữa. Ông Phêrô thưa với Đức Giêsu: “Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay! Chúng con xin dựng ba cái lều, một cho Thầy, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a.” Ông không biết mình đang nói gì.
Ông Phêrô quá hàm hồ và thiển cận, bộ ông nghĩ cái lều cỏn con đó có thể chứa đựng được vinh quang Thiên Chúa sao? Ngày xưa, chiếc lều tạm có thể chứa Hòm bia Thiên Chúa, vâng nó có thể chứa được, vì đó chỉ là hòm bia chứa đựng Thập Giới (Bia Mười Giới răn), nhưng ở đây là chính Thiên Chúa, là vinh quang Chúa, thì chiếc lều nào có thể chứa nổi.
Vả lại, ông chỉ dựng có 03 lều cho Đức Giêsu, cho Môsê, cho Êlia còn các ông ở đâu? Kinh thánh nói rõ, ông Phêrô không biết mình nói gì. Mặc dù ông đã tỉnh, nhưng dường như ông đang sống trong mơ. Ông nên nhớ, đây không phải là nơi Thầy trò của ông định cư, cho dù “chúng con ở đây, thật là hay” nhưng cả Đức Giêsu và các ông phải xuống núi, đó mới là nơi Đức Giêsu và các ông thi hành Thánh ý Thiên Chúa để mọi sự được nên trọn.
“CHÚNG CON ĐƯỢC Ở ĐÂY THÌ TỐT LẮM”
Có nhiều lúc ta cũng muốn chạy trốn cái thực tại không lấy gì làm tốt đẹp, ta đang muốn trốn chạy một cuộc sống nghèo khổ, cuộc sống quá nhiều sự lo lắng: Lo lắng cho cái ăn, cái mặc, lo lắng về một tương lai bấp bênh không có gì đảm bảo. Ta cũng đang muốn trốn chạy cảnh nợ nần, cảnh tang hoang đổ vỡ của gia đình, một ông chồng quá hư hỏng, suốt ngày chỉ biết nhậu nhẹt và hút sách, đánh đập vợ con, một bà vợ suốt ngày cứ mải đi shopping, đánh bài đánh bạc, ta cũng muốn trốn chạy một căn bệnh cứ đeo đuổi mình suốt đời mà mình đã thấy rõ cái án tử được treo trước mặt: Một căn bệnh ung thư, một căn bệnh tai biến liệt nửa người,… và còn bao lý do khác để ta trốn chạy cuộc sống này.
Nhưng nếu bình tâm suy xét lại, ta vẫn thấy Hồng ân của Chúa vẫn luôn đổ đầy trên cuộc đời ta, để như Thánh Phêrô, ta vẫn có thể thốt lên: “Chúng con được ở thì tốt lắm”. Vâng đúng vậy, ta vẫn còn hạnh phúc hơn khối người đó sao. “Trông lên thì không bằng ai, nhưng nhìn xuống thì không ai bằng mình”.
Vậy chúng ta hãy chấp nhận những đau khổ và lo lắng, thử thách mà Chúa gửi đến, chính Chúa Giêsu cũng chia sẻ cuộc sống của chúng ta, vì “chúng con được ở đây thì tốt lắm”
.
Chúng ta dễ bị cơn cám dỗ: Một cuộc sống đầy đau khổ dễ đẩy chúng ta gieo mình vào những mơ mộng hão huyền. Sự mơ mộng nào mà chả đẹp, chả hấp dẫn, nhưng xét cho cùng ta cũng phải từ bỏ nó, để trở về với thực tại để làm trọn Thánh ý Thiên Chúa. Ta hãy học bài học của Đức Giêsu: phải xuống núi, phải vác thánh giá đời mình rồi mới đi tới vinh quang.
LÚC ÔNG CÒN ĐANG NÓI, THÌ MỘT ĐÁM MÂY BAO PHỦ CÁC NGÀI VÀ THẤY CÁC NGÀI BIẾN VÀO TRONG ĐÁM MÂY, CÁC MÔN ĐỆ ĐỀU KINH HOÀNG.
Khác với Matthêu và Marcô, Luca đưa ba môn đệ vào trong “đám mây: là biểu tượng thường xuyên của thế giới thần linh. Vì các Ngài còn không hiểu gì về biến cố: Biến hình vừa xảy ra, nên có thể nói, chính Chúa đã muốn mạc khải lần thứ hai cho các ông.
Để bước vào trong Chúa, chúng ta cần phải trải qua nhiều giai đoạn liên tiếp. Và một lần nữa, chúng ta lại ghi nhận sự sợ hãi liên tiếp của những người được gặp gỡ Chúa: Vì đó là Đấng hoàn toàn khác”. Hơn nữa, họ đâu có kinh nghiệm gì về việc đó, nên lần này họ cũng im lặng.. Tất cả những, định nghĩa tín tý, theo lý trí, về Thiên Chúa, chỉ là những lời lẽ phần lớn là sau những lời nói tầm phào.
Lạy Chúa, Chúa vượt trên mọi quan niệm, chúng con chỉ có thể gọi Chúa là Đấng mà chúng con “không thể nhận biết được”. Chúng ta nên im lặng, thinh lặng nội tâm: Chúng ta hãy bước vào bóng mờ của đám mây, trong màn sương mù tạo bóng tối, trong đó ta không thấy cách xa bốn thước, nơi đó, ta phải dò dẫm, tìm đường mà đi.
BẤY GIỜ TỪ ĐÁM MÂY CÓ TIẾNG PHÁN RẰNG: “ÐÂY LÀ CON TA YÊU DẤU, CÁC NGƯƠI HÃY NGHE LỜI NGƯỜI”. VÀ KHI TIẾNG ĐANG PHÁN RA, THÌ CHỈ THẤY CÒN MÌNH CHÚA GIÊSU. SUỐT THỜI GIAN ĐÓ, CÁC MÔN ĐỆ GIỮ KÍN KHÔNG NÓI VỚI AI NHỮNG ĐIỀU MÌNH ĐÃ CHỨNG KIẾN!”
“ÐÂY LÀ CON TA YÊU DẤU, CÁC NGƯƠI HÃY NGHE LỜI NGƯỜI”
Đây là lần thứ hai Chúa Cha làm chứng cho Chúa Giêsu là Người Con Một yêu dấu của Ngài; lần đầu xảy ra khi Chúa Giêsu được Gioan Tẩy Giả làm phép rửa tại sông Giordan.
“Hãy nghe lời Người” là một lệnh truyền quan trọng của chính Chúa Cha cho các môn đệ của Chúa Giêsu. Đối với các môn đệ, Thiên Chúa muốn các ông phải vâng nghe những gì Đức Giêsu đang mặc khải cho các ông, Ngài mặc khải: Đức Kitô phải bước qua đau khổ mới đến vinh quang.
VÀ KHI TIẾNG ĐANG PHÁN RA, THÌ CHỈ THẤY CÒN MÌNH CHÚA GIÊSU
Cuộc biến hình đến đây kết thúc, Môsê và Êlia cũng từ biệt Chúa Giêsu, Chúa Giêsu trở về lại bình thường, “Người tôi tớ Giavê” Ngài sẽ xuống núi và để tiến đến một ngọn núi khác, đó là đồi Golgotha, nơi đó Ngài sẽ bước vào cuộc Khổ nạn và chết trên thập giá.
SỰ KHÁC BIỆT GIỮA MATTHÊU, MARCÔ VÀ LUCA:
Khi thấy sự vinh quang cùng tiếng phán của Chúa Cha về Chúa Giêsu, cả ba Thánh sử đều nhấn mạnh đến thái độ hoảng sợ của các môn đệ. “Thực ra, ông không biết phải nói gì, vì các ông hoảng sợ” (Mc 9,6); “Khi thấy mình vào trong đám mây, các ông hoảng sợ” (Lc 9,34); “Nghe vậy, các môn đệ kinh hoàng ngã sấp mặt xuống đất” (Mt 17,6).
Các ông hoảng sợ, chứng tỏ các ông khó mà hiểu, thậm chí không thể hiểu, tầm mức thiên sai của những lời nói và hành vi của Đức Giêsu. Theo biến cố Biến hình của Tin Mừng Mattheu, khi Phêrô “ngã sấp mặt xuống đất” (Mt 17, 6) thì Chúa đến chạm vào ông và bảo: “Chỗi dậy đi, đừng sợ” (Mt 17, 7) . Người môn đệ phải vượt qua sự sợ hãi để đi tiếp sứ mạng, con đường mà các ông phải đi, phải đối diện với bao gian nan thử thách, Đức Giêsu luôn mời gọi đừng sợ và chỗi dậy mà đi, đi trong hy vọng dưới ánh sáng phục sinh soi chiếu qua biến cố Biến hình.
Tiếng phán vừa dứt, thì chỉ còn thấy một mình Đức Giê-su. Còn các môn đệ thì nín thinh, và trong những ngày ấy, các ông không kể lại cho ai biết gì cả về những điều mình đã thấy. Các ông nín thinh cũng phải, vì những điều mới xảy ra vẫn còn làm cho các ông bàng hoàng, sợ hãi.
Các ông cần có một thời gian để nghiền ngẫm mới có thể nuốt được mạc khải mà các ông vừa chứng kiến. Nhưng dù gì đi nữa, các ông vẫn không thể hiểu tại sao phải bước qua thập giá mới đến vinh quang? Tại sao Thầy mình không đi đến vinh quang ngay mà phải chịu chết cách ô nhục như vậy? Ngày hôm nay các ông đã chứng kiến tận mắt, chứ không còn nghe đồn, Thầy mình dư khả năng để làm một cuộc cách mạng vì “Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng”.
Vâng cuộc biến hình vẫn luôn ám ảnh các ông. Chỉ khi Đức Giêsu chết ô nhục trên thập giá và phục sinh vinh hiển, các ông mới hiểu được chân lý: Phải bước qua thập giá mới đến vinh quang, nếu không vác thập giá đời mình các ông sẽ đánh mất chính mình.
Amen.
_________________________
Giuse Nguyễn Viết Tâm.

