Cánh Chung luận theo quan điểm Luca – Bài 1.
“NƯỚC THIÊN CHÚA Ở GIỮA CÁC ÔNG”.
BÀI ĐỌC I: Plm 7-20
“Xin anh tiếp nhận nó không phải như một người nô lệ, nhưng như một người anh em rất thân mến”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi cho Philêmon.
Anh thân mến, tôi rất đỗi vui mừng và an ủi, vì lòng bác ái của anh, vì hỡi anh, nhờ anh mà tâm hồn các thánh được hài lòng.
Bởi đó, dầu trong Đức Giêsu Kitô, tôi có đủ quyền để truyền cho anh điều phải lẽ, nhưng tôi thà nại vào đức bác ái mà nài xin anh thì hơn, vì anh cũng như tôi. Phaolô già nua, và hiện đang bị cầm tù vì Đức Giêsu Kitô, tôi nài xin anh cho Ônêsimô, đứa con tôi đã sinh ra trong xiềng xích. Xưa kia nó là người vô ích cho anh, nhưng hiện nay, nó lại hữu ích cho cả anh và tôi nữa, tôi trao lại cho anh. Phần anh, anh hãy đón nhận nó như ruột thịt của tôi.
Tôi cũng muốn giữ nó lại để thay anh mà giúp đỡ tôi trong lúc tôi bị xiềng xích vì Tin Mừng. Nhưng vì chưa biết ý anh, nên tôi không muốn làm gì, để việc nghĩa anh làm là một việc tự ý, chứ không vì ép buộc. Vì biết đâu nó xa anh một thời gian để rồi anh sẽ tiếp nhận nó muôn đời, không phải như một người nô lệ, nhưng thay vì nô lệ, thì như một người anh em rất thân mến, đặc biệt đối với tôi, huống chi là đối với anh, về phần xác cũng như trong Chúa.
Vậy nếu anh nhận tôi là bạn hữu, thì xin anh hãy đón nhận nó như chính mình tôi vậy. Nếu nó đã làm thiệt hại cho anh điều gì, hay mắc nợ anh, xin anh hãy tính vào sổ của tôi. Chính tôi là Phaolô đây, tôi tự tay viết là tôi sẽ thanh toán, trừ phi tôi kể ra cho anh hay rằng chính anh mắc món nợ với tôi. Hỡi anh, thật thế. Nhờ anh tôi sẽ được hân hoan trong Chúa: anh hãy làm cho tôi được thoả lòng trong Chúa.
Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 145, 7. 8-9a. 9bc-10
Đáp: Phúc thay con người được Thiên Chúa nhà Giacóp phù trợ (c. 5a).
Xướng:
1) Thiên Chúa trả lại quyền lợi cho người bị áp bức, và ban cho những kẻ đói được cơm ăn. Thiên Chúa cứu gỡ những người tù tội. – Đáp.
2) Thiên Chúa mở mắt những kẻ đui mù, Thiên Chúa giải thoát những kẻ bị khòm lưng khuất phục, Thiên Chúa yêu quý các bậc hiền nhân, Thiên Chúa che chở những khách kiều cư. – Đáp.
3) Thiên Chúa nâng đỡ những người mồ côi quả phụ, và làm rối loạn đường nẻo đứa ác nhân. Thiên Chúa sẽ làm vua tới muôn đời. Sion hỡi, Đức Thiên Chúa của người sẽ làm vua tự đời này sang đời khác. – Đáp.
ALLELUIA: 2 Tx 2, 14
Alleluia, alleluia! – Thiên Chúa đã dùng Tin Mừng mà kêu gọi chúng ta, để chúng ta được chiếm lấy vinh quang của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. – Alleluia.
PHÚC ÂM: Lc 17, 20-25
“Nước Thiên Chúa ở giữa các ông”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, những người biệt phái hỏi Chúa Giêsu “Khi nào nước Thiên Chúa đến”, thì Người đáp lại rằng: “Nước Thiên Chúa không đến để cho người ta quan sát, và người ta sẽ không nói được: ‘Này nước trời ở đây hay ở kia’. Vì nước Thiên Chúa ở giữa các ông”. Chúa lại phán cùng các môn đệ rằng: “Sẽ có ngày các con ước ao thấy được một ngày của Con Người mà không được thấy. Người ta sẽ bảo các con: ‘Này Người ở đây và này Người ở kia’, các con chớ đi đến và đừng tìm kiếm. Vì như chớp sáng loè từ chân trời này đến phương trời kia thế nào, thì Con Người cũng sẽ đến trong ngày của Người như vậy. Nhưng tiên vàn Người phải chịu đau khổ nhiều, và bị dòng dõi này xua đuổi”.
Đó là lời Chúa.
___________________________________
I/. VÀI NÉT VỀ THÁNH JOSAPHAT, Giám mục Tử Đạo, (12/11)
Thánh Josaphat chịu tử đạo tại Vitebsk (Biélorussie) ngày 12 tháng 11 năm 1623, được phong thánh năm 1867 và được ghi vào niên lịch năm 1882. Lễ nhớ ngài làm chúng ta sống lại một trong những trang sử bi hùng nhất của lịch sử đại kết.
Thánh Josaphat tên thật là Jean Kuncewycz, sinh khoảng năm 1580 ở Wolodymyr (Ucraina) trong một gia đình quí tộc theo chính thống giáo, từ tuổi trẻ đã gắn bó với Giáo Hội Ucraina hiệp nhất với Rôma.
Thánh Josaphat, vị giám mục theo lễ điển Ðông Phương, được coi là vị tử đạo cho sự hợp nhất giáo hội vì ngài cố gắng đưa Chính Thống Giáo về hợp nhất với Rôma.
Vào năm 1054, một sự chia cắt chính thức được gọi là đại ly giáo đã xảy ra giữa Giáo Hội Ðông Phương ở Constantinople và Giáo Hội Tây Phương ở Rôma, vì những bất đồng về thần học và đời sống độc thân của giáo sĩ. Cho đến năm thế kỷ sau, một giáo chủ Chính Thống Giáo ở Kiev và năm giám mục Chính Thống Giáo, quyết định đưa hàng triệu người Chính Thống Giáo dưới quyền về hợp nhất với Rôma. Khi Thượng Hội Ðồng ở Brest Litovsk khai mạc vào năm 1595, thì Thánh Josaphat Kunsevich lúc ấy chỉ là một cậu bé trai, nhưng đã được chứng kiến các kết quả tích cực cũng như tiêu cực của thượng hội đồng.
Hàng triệu Kitô hữu đã không đồng ý với các giám mục về sự hiệp thông với Công Giáo, và cả đôi bên đều tìm cách giải quyết sự bất đồng, không chỉ bằng lời nói mà còn bằng vũ lực. Do đó cả hai phía đều có nhiều người đã tử vì đạo. Giữa những xáo trộn ấy, Thánh Josaphat là một tiếng nói hòa bình.
Khi còn niên thiếu, nhờ sự khuyến khích của hai vị linh mục dòng Tên, nên ngài đã gia nhập tu viện Holy Trinity ở Vilna năm 1604. Trong thời gian này, ngài quen thân với Joseph Benjamin Rutsky, là người trở lại Kitô Giáo sau một thời gian theo phái Calvin. Cả hai đều muốn sự hợp nhất trong giáo hội và cải tổ đời sống tu trì.
Sau đó, Josaphat được gửi đi trông coi một cơ sở ở Rôma, còn Rutsky được làm tu viện trưởng ở Vilna. Khi Rutsky được làm giáo chủ của Kiev, thì Josaphat lại được thế chỗ Rutsky làm tu viện trưởng. Nhân cơ hội này, Josaphat thi hành kế hoạch cải tổ, nhưng đường hướng cải tổ phản ảnh một đời sống nghiêm nhặt và khắc khổ của ngài, nên không mấy ai hưởng ứng. Ngay cả một tu hội còn dọa ném ngài xuống sông!
Khi là vị giám mục đầu tiên ở Vitebsk, và sau đó ở Polotsk vào năm 1617, Ðức Giám Mục Josaphat phải đối diện với nhiều khó khăn. Có thể nói giáo hội lúc ấy thật thối nát, giáo sĩ tái hôn đến hai ba lần, và họ không lo lắng gì đến việc mục vụ hoặc đời sống gương mẫu. Trong vòng ba năm, Ðức Giám Mục Josaphat phải chấn chỉnh lại giáo hội qua các thượng hội đồng, phân phát sách giáo lý khắp nơi, và áp đặt những quy luật cho hàng giáo sĩ. Nhưng đáng kể hơn cả là chính đời sống của ngài mà hầu như lúc nào cũng đi rao giảng, giáo dục đức tin, thăm viếng những kẻ đau ốm.
Bất kể công việc và tiếng tăm của Ðức Giám Mục Josaphat, những người Chính Thống Giáo ly khai đã bầu một tổng giám mục của họ ngay ở cùng một thành phố. Thật đau lòng cho Ðức Giám Mục Josaphat khi thấy những người ngài phục vụ, bị phân ly trong những cuộc bạo loạn. Ngay cả giáo phận cũ của ngài ở Vitebsk cũng chống đối sự hợp nhất và chống lại chính ngài. Ðau khổ hơn cả, là chính người Công Giáo mà ngài tìm cách hợp nhất cũng chống đối ngài, chỉ vì họ không thích lễ điển Byzantine mà ngài chủ trương, thay vì lễ điển Rôma. Vì sợ hãi hoặc vì ngu dốt, vị chưởng ấn của Lithuania, tin lời đồn đãi rằng ngài xúi giục dân chúng nổi loạn, nên thay vì giúp đỡ thì lại lên án Ðức Giám Mục Josaphat. Thực sự, ngài chỉ dùng đến quyền lực khi các người ly khai chiếm nhà thờ Mogilev, và ngài xin nhà cầm quyền giúp phục hồi lại quyền bính.
Vào tháng Mười 1623, Ðức Giám Mục Josaphat quyết định trở về Vitebsk để đích thân lắng dịu vấn đề. Ngài biết rất nguy hiểm nhưng cho biết, “Nếu tôi xứng đáng được phúc tử đạo, thì tôi không sợ chết”.
Những người ly khai coi đây là cơ hội để trừ khử Josaphat và làm ngài mất uy tín, nếu họ xúi giục được phe của ngài nổi loạn trước, và coi đó là cái cớ để chống lại. Sự đe dọa tính mạng của ngài quá lộ liễu đến nỗi ngài phải lên tiếng, “Quý vị muốn giết tôi sao? Quý vị phục kích tôi trên đường phố, trên cầu cống, trong chợ búa, ở khắp mọi nơi. Chính tôi đây. Tôi đến với quý vị như một mục tử. Quý vị biết là tôi rất vui mừng để hy sinh cho quý vị. Tôi sẵn sàng chết cho sự hợp nhất của Giáo Hội dưới quyền Thánh Phêrô và các giáo hoàng kế vị”.
Khi người ly khai thấy kế hoạch thất bại, họ lập mưu bằng cách, đưa một linh mục tên Elias đến nơi tụ họp của phe đức giám mục, để lên tiếng sỉ vả bất cứ ai đi ngang qua, nhất là vu khống Ðức Giám Mục Josaphat và Giáo Hội Công Giáo, cốt để chọc tức.
Biết được thâm ý của họ, Ðức Giám Mục Josaphat giữ im lặng và cầu nguyện nguyên ngày. Qua ngày hôm sau, Elias lại đến nữa và các người phục dịch của đức giám mục, đã bắt nhốt Elias trong một căn phòng khi ngài đi vắng. Trở về nhà, thấy vậy ngài đã mở cửa phòng cho Elias trốn đi. Nhưng đã quá trễ. Ðám ly khai chỉ chờ có thế, để báo động cả thành phố đến bao vây với gậy gộc trên tay.
Khi bước ra sau vườn, ngài thấy đám du côn đánh đập các người phục dịch và các linh mục khác, ngài lớn tiếng kêu: “Này các con, các con làm gì những người đó vậy? Nếu các con muốn chống đối cha, thì có cha đây, đừng đụng đến những người ấy!” Sau tiếng hô to, “Hãy giết tên theo giáo hoàng”, bọn họ đánh đập Ðức Giám Mục Josaphat với gậy gộc, sau đó họ dùng rìu và cuối cùng bắn vào đầu ngài. Thi thể đầy máu của ngài bị họ kéo lê ra sông, và quăng xuống đó cùng với xác con chó của ngài.
Những anh hùng vô danh trong thảm kịch này, là các người Do Thái ở Vitebsk. Họ đã liều mạng xông vào toà giám mục, để can gián và cứu những người trong toà giám mục khỏi bị sát hại. Nhờ sự can đảm của họ, nhiều người đã được cứu sống. Cũng chính những người Do Thái này đã công khai lên án các tên sát nhân và thương tiếc Ðức Giám Mục Josaphat, trong khi người Công Giáo ở thành phố lại trốn chui trốn nhủi vì sợ hãi.
Thông thường, sự bạo động luôn có hậu quả trái ngược. Vì hối hận và kinh hoàng về cuộc bạo động khiến họ mất đi một vị giám mục thánh thiện, nên công chúng lại hướng về sự hợp nhất với Rôma. Và sau cùng, đức tổng giám mục mà phe ly khai dựng lên là Meletius Smotritsky, cũng đã hoà giải với Rôma.
Vào năm 1867, Ðức Giám Mục Josaphat là vị thánh đầu tiên của Giáo Hội Ðông Phương được Rôma tuyên phong Hiển thánh.
(Trích từ NguoiTinHuu.com)
_____________________________________
II/. BÀI SUY NIỆM (Lc 17, 20-25)
“NƯỚC THIÊN CHÚA Ở GIỮA CÁC ÔNG”.
Hôm nay thứ Năm tuần XXXII Thường niên, chúng ta tiếp tục Chương 17 Phúc âm Luca.
Bài Tin mừng hôm nay sẽ là bài đầu tiên trong một loạt bài về CÁNH CHUNG LUẬN THEO QUAN ĐIỂM LUCA, tức nói về NGÀY CỦA CON NGƯỜI, NGÀY CÁNH CHUNG, NGÀY TẬN THẾ.
Không phải chỉ có trong Phúc âm Luca, Chúa mới mạc khải về Ngày Con Người, các thánh sử viết Tin mừng khác (Matthêu, Marcô) cũng có đề câp. Nhưng trong Phúc âm Luca, ta mới có nhiều chi tiết và rõ ràng hơn.
Vào thời điểm cuối năm Phụng vụ, Giáo hội mời gọi chúng ta hướng về Ngày cuối cùng của vũ trụ , hay còn gọi là ngày Tận thế, và Giáo hội cũng mời gọi ta hướng về ngày cuối cùng cuộc đời của mỗi người, hay còn gọi là ngày chết của mỗi người.
Giáo hội vẫn nhắc đi nhắc lại chân lý này: VŨ TRỤ CÓ NGÀY KHỞI ĐẦU THÌ PHẢI CÓ NGÀY KẾT THÚC, cũng như vạn vât: CÓ SINH ẮT CÓ TỬ, ai cũng phải chết.
Trong chiều hướng đó, mở đầu Bài Tin mừng hôm nay, Thánh sử Luca đã nêu ra một câu hỏi.
Luca viết:
“KHI ẤY, NHỮNG NGƯỜI BIẾT PHÁI HỎI CHÚA GIÊSU “KHI NÀO NƯỚC THIÊN CHÚA ĐẾN”
KHI NÀO NƯỚC THIÊN CHÚA ĐẾN ?
Nếu một người không theo Đạo Công giáo, thì câu hỏi sẽ là:
“KHI NÀO TẬN THẾ?”
Câu hỏi này đã được Luca đề cập từ rất sớm trong Phúc âm của ông.
Đó không chỉ là thắc mắc của người Pharisêu mà là của tất cả chúng ta.
Người Do Thái rất quan tâm đến Ngày mà Thiên Chúa thiết lập triều đại của Ngài. Họ nghĩ rằng đó sẽ là một biến cố trọng đại, đem lại vinh quang cho Thiên Chúa và cho dân tộc họ.
Họ rất mong ngày đó mau đến, nhất là khi họ đang phải sống tủi nhục dưới ách đô hộ của Rôma. Họ muốn biết khi nào và ở đâu ngày ấy xảy ra. Bởi thế hôm nay người pharisêu hỏi Chúa Giêsu : “Khi nào thì Triều đại Thiên Chúa đến ?”.
Nhóm Pharisiêu là nhóm ái quốc, họ đang mong nước Do Thái thoát khỏi ách đô hộ của Rôma, nhưng họ không đồng ý với những cuộc nổi loạn có tính tự phát, chỉ làm khổ dân và đưa đất nước vào ngõ cụt. Họ mong muốn một cuộc giải phóng đến từ Thiên Chúa nên họ mới thắc mắc bao giờ Nước Thiên Chúa đến.
Thực vậy, trong lần Chúa Giêsu sai Nhóm Bảy mươi Hai môn đệ, cũng như Nhóm Mười Hai tông đồ đi rao giảng Tin mừng, các ông đã rao giảng Sứ điệp của Ngài:
“Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em. Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ: “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông.” (Lc 10, 8 – 9).
“NƯỚC THIÊN CHÚA Ở GIỮA CÁC ÔNG”.
“Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông”.
Trong Bài Tin mừng hôm nay, Nước Thiên Chúa không còn là ĐÃ ĐẾN GẦN NỮA, mà đang Ở GIỮA CHÚNG TA RỒI.
Người Do Thái luôn mong ước Nước Thiên Chúa đến như lời đã báo trước trong suốt thời Cựu ước. Tuy nhiên, Nước Thiên Chúa không đến như những người Do Thái mong đợi. Họ cho rằng khi Đấng Thiên Sai xuất hiện, Ngài sẽ khôi phục vinh quang thời quá khứ của dân tộc họ.
Những người Pharisêu thời Chúa Giêsu cũng nhìn về Triều đại Thiên Chúa như một thực tại hữu hình mà con người có thể nhìn thấy bằng giác quan. Vì thế họ đã hỏi Chúa: “Bao giờ Triều đại Thiên Chúa đến?”
Triều đại Thiên Chúa đã được các ngôn sứ loan báo qua bao thời đại, luôn là niềm khát mong bất tận của dân tộc Do Thái. Niềm tin vào lời hứa mà Thiên Chúa đã đặt để nơi các tổ phụ, các ngôn sứ, các tiên tri của dân tộc, chính là một vinh dự lớn lao mà họ là những người sẽ được thừa hưởng.
Khi sai các môn đệ đi loan báo “TRIỀU ĐẠI THIÊN CHÚA ĐÃ ĐẾN GẦN CÁC ÔNG”.
“ĐÃ ĐẾN GẦN” = “ĐÃ ĐẾN – GẦN ĐẾN”
Chúa có ý muốn nói rằng Nước Thiên Chúa đã đến rồi. Nước Thiên Chúa đó chính là Ngài.
Nhưng Chúa lại “thòng” thêm một câu: “Nước Thiên Chúa GẦN ĐẾN, có nghĩa Nước Thiên Chúa sẽ viên mãn trong Ngày Cánh chung, Ngày mà Chúa Giêsu sẽ đến lần thứ hai trong vinh quang để hoàn tất và kết thúc mọi sự.
Nhưng người Do Thái luôn nhìn đến ngày Nước Thiên Chúa theo cái nhìn giác quan, có nghĩa có thể cân đo đong đếm được nên họ không nhận ra Nước Thiên Chúa đã đến qua chính Con người của Chúa Giêsu.
Họ đã bắt hụt thực tại Nước Thiên Chúa khi họ chối từ Con Thiên Chúa.
Chúa muốn nói với người Pharisiêu và qua đó là người Do Thái, muốn nhận ra Nước Thiên Chúa, họ phải dùng CON MẮT ĐỨC TIN.
Chúng ta tin rằng Nước Thiên Chúa đang hiện diện ngay trong cuộc sống trần gian này, ngay trong tâm hồn chúng ta. Vì thế cuộc sống trần gian này, ngay trong tâm hồn chúng ta, cuộc sống của chúng ta sẽ là bằng chứng sống động cho sự hiện diện của Nước Thiên Chúa.
Chính vì thế Chúa nói:
“NƯỚC THIÊN CHÚA KHÔNG ĐẾN ĐỂ CHO NGƯỜI TA QUAN SÁT, VÀ NGƯỜI TA SẼ KHÔNG NÓI ĐƯỢC: ‘NÀY NƯỚC TRỜI Ở ĐÂY HAY Ở KIA’
“NƯỚC THIÊN CHÚA KHÔNG ĐẾN ĐỂ CHO NGƯỜI TA QUAN SÁT”.
Có nghĩa tuy Nước Thiên Chúa là một THỰC TẠI, có thật. Nhưng NÓ LÀ MỘT THỰC TẠI SIÊU HÌNH, có nghĩa ta không thể quan sát, đụng chạm được bằng các giác quan, mà phải nhìn bằng CON MẮT ĐỨC TIN.
“NGÀY TẬN THẾ” luôn là một sự kiện nóng bỏng, ai cũng quan tâm, chú ý và muốn biết. Vì thế đã có bao lời đồn đoán, hết giáo phái này đến giáo phái kia, và gần đây là NHÓM SỨ ĐIỆP TỪ TRỜI, THUYẾT ÂM MƯU tha hồ tung ra lời đồn đoán. Họ dựa vào những thảm họa thiên tai dồn dập xuất hiện mà tiên đoán đây là THỜI KỲ CUỐI.
Chúng ta là những Kitô hữu, ta cũng xác tín mình đang sống trong THỜI KỲ CUỐI, Vì lịch sử vũ trụ đã trải qua 3 giai đoạn:
CHƯƠNG TRÌNH SÁNG TẠO – CHƯƠNG TRÌNH CỨU CHUỘC – CHƯƠNG TRÌNH THÁNH HÓA – KẾT THÚC.
Chúng ta đang sống trong CHƯƠNG TRÌNH THÁNH HÓA, tức thời đại Chúa Thánh Thần và ta vẫn gọi đó là thời CUỐI CÙNG.
Lich sử vũ trụ luôn có một hướng đi rõ ràng. Tất cả mọi tạo vật đều xuất phát từ Thiên Chúa và luôn vận chuyển về với Thiên Chúa, chứ không luẩn quẩn trong cái mớ bòng bong của “LUÂN HỒI” rồi mất phương hướng. Lịch sử phải có hướng đi rõ ràng.
Nhưng vì CÁI NGÀY TẬN THẾ đó, ta đừng để các tin đồn thất thiệt “giật dây, xỏ mũi”. Vì Chúa đã nói rõ:
“NGƯỜI TA SẼ KHÔNG NÓI ĐƯỢC: ‘NÀY NƯỚC TRỜI Ở ĐÂY HAY Ở KIA’
Có nghĩa không ai có thể nói được hay nắm chắc được Nước Trời ở đây hay ở kia.
Nhưng đã có NHIỀU TIÊN TRI GIẢ xuất hiện tung ra những chiêu lừa bịp bợm.
Trong lịch sử của thế giới đã có biết bao lời tiên đoán như vậy, ngay từ thời Giáo hội sơ khai. NHƯNG TẤT CẢ CÁC LỜI TIÊN ĐOÁN ĐÓ ĐÃ QUA ĐI MÀ CHÚNG TA VẪN SỐNG VÀ VẪN TỒN TẠI. Có nghĩa tận thế chưa xảy ra, mặc dù các thảm họa cứ dồn dập làm người ta nghĩ như vậy.
Chúa đã cho các môn đệ một lời khuyên, Luca viết:
“CHÚA LẠI PHÁN CÙNG CÁC MÔN ĐỆ RẰNG: “SẼ CÓ NGÀY CÁC CON ƯỚC AO THẤY ĐƯỢC MỘT NGÀY CỦA CON NGƯỜI MÀ KHÔNG ĐƯỢC THẤY. NGƯỜI TA SẼ BẢO CÁC CON: ‘NÀY NGƯỜI Ở ĐÂY VÀ NÀY NGƯỜI Ở KIA’, CÁC CON CHỚ ĐI ĐẾN VÀ ĐỪNG TÌM KIẾM”
“NGÀY CỦA CON NGƯỜI”
“Ngày của Con Người” là cụm từ ý ám chỉ Ngày Tận thế, Ngày Chúa Giêsu sẽ đến lần thứ II trong vinh quang để kết thúc và phán xét tất cả vũ trụ này.
Trong Tin mừng Matthêu, Chúa có nói:
“Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc, vì được nghe. Quả thế, Thầy bảo thật anh em, nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính đã mong mỏi thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe” (Mt 13, 16 – 17).
Chúa khen các môn đệ thật có phúc: “Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc”, vì chính họ đã được thấy, được nghe chính Con Thiên Chúa mà các vua chúa, các ngôn sứ ao ước mà không được.
Nhưng hôm nay Chúa lại nói: ““SẼ CÓ NGÀY CÁC CON ƯỚC AO THẤY ĐƯỢC MỘT NGÀY CỦA CON NGƯỜI MÀ KHÔNG ĐƯỢC THẤY”
Chúa muốn nói rằng: các môn đệ sẽ không được chứng kiến Ngày Con Người quang lâm, vì các ông sẽ chết hết trước khi Ngày tận thế xảy đến. Và quả đúng như vậy.
Các môn đệ có phúc vì đã chứng kiến lần Chúa đến lần thứ nhất, tức Nước trời đã đến, nhưng các ông sẽ không được chứng kiến Chúa đến lần thứ hai trong vinh quang, vì các ông đã ở trong Nước Thiên Chúa rồi.
Vì thế ngay khi vị tông đồ cuối cùng là Gioan tạ thế, nào là bao tin đồn lại xuất hiện.
Chúa căn dặn kỹ:
“NGƯỜI TA SẼ BẢO CÁC CON: ‘NÀY NGƯỜI Ở ĐÂY VÀ NÀY NGƯỜI Ở KIA’, CÁC CON CHỚ ĐI ĐẾN VÀ ĐỪNG TÌM KIẾM.
Chúa báo trước sẽ có nhiều TIÊN TRI GIẢ XUẤT HIỆN đưa ra nhiều tin đồn vu vơ, “Chúa ở đây, ở kia” các môn đệ của Chúa không được đi đến và đừng tìm kiếm.
Ở đây ta thấy trong 2 câu Chúa nói, có vẻ mâu thuẫn nhau, nói theo kiểu bây giờ, chúng có vẻ “đá nhau”.
Cụ thể:
+ “SẼ CÓ NGÀY CÁC CON ƯỚC AO THẤY ĐƯỢC MỘT NGÀY CỦA CON NGƯỜI MÀ KHÔNG ĐƯỢC THẤY”.
+ ““NGƯỜI TA SẼ BẢO CÁC CON: ‘NÀY NGƯỜI Ở ĐÂY VÀ NÀY NGƯỜI Ở KIA’, CÁC CON CHỚ ĐI ĐẾN VÀ ĐỪNG TÌM KIẾM.
Câu trên Chúa có ý muốn nói các môn đệ sẽ chết hết trước khi tận thế xảy ra thì làm gì còn có chuyện các môn đệ nghe lời đồn đại mà đi đến và tìm kiếm Chúa theo những lời của các tiên tri giả.
Thực ra câu trên Chúa muốn nói đến các tông đồ, còn câu sau Chúa muốn nói với các Kitô hữu chúng ta.
Các Tông đồ đã chết hết, nhưng các Kitô hữu vẫn còn người hiện diện cho đến ngày tận thế.
Chúa Giêsu cũng hé mở, mạc khải một phần nào cho ta biết NGÀY CON NGƯỜI như sau. Luca viết:
“VÌ NHƯ CHỚP SÁNG LÓE TỪ CHÂN TRỜI NÀY ĐẾN PHƯƠNG TRỜI KIA THẾ NÀO, THÌ CON NGƯỜI CŨNG SẼ ĐẾN TRONG NGÀY CỦA NGƯỜI NHƯ VẬY”
“CHỚP SÁNG LOÈ TỪ CHÂN TRỜI NÀY ĐẾN PHƯƠNG TRỜI KIA THẾ NÀO”
Ngày của Con người sẽ diễn ra CÁCH CÔNG KHAI cho mọi người trên trái đất này nhận biết, chứ không âm thầm kín đáo. Nhưng nó sẽ xảy ra BẤT NGỜ – CHỚP NHOÁNG, khiến không ai trở tay kịp.
Nó như chớp sáng lóe lên cả bầu trời, cả vũ trụ. Vì thế không ai không nhận thấy.
“TỪ CHÂN TRỜI NÀY ĐẾN PHƯƠNG TRỜI KIA”. Có nghĩa Ngày Chúa đến, Ngày tận thế sẽ xảy ra trên toàn bộ chứ không riêng vùng miền nào.
Và như tia chớp, nó THẬT DŨNG MÃNH, CHỚP NHOÁNG, BẤT NGỜ không ai đoán trước được. Và sự kết thúc sẽ diễn ra một cách chớp nhoáng mau lẹ.
Có ai biết được tia chớp xuất phát từ đâu và kết thúc ở chỗ nào chưa? Có ai đo được sự xuất hiện của nó chưa? Có ai đo được cường độ của nó chưa ? Chắc chắn chưa ai làm được điều đó.
Như vậy, khi Chúa Giêsu dùng hình ảnh tia chớp để diễn tả những gì sẽ xảy ra trong ngày tận thế thật ấn tượng và qua đó ta có thể hình dung được phần nào . RẤT BẤT NGỜ – CHỚP NHOÁNG – DŨNG MÃNH..
Nếu trong Chương trình Sáng tạo, Thiên Chúa phải mất đến 7 ngày để tạo dựng vũ trụ muôn loài theo Sách Sáng thế. Quan niệm “Ngày” trong Sách Sáng thế không được hiểu theo quan niệm “ngày” bây giờ, tức có 24 giờ.
Thì khi kết thúc nó sẽ diễn ra nhanh như một tia chớp, và con người không thể làm gì được cho mình.
Kết thúc Bài Tin mừng, Luca viết:
NHƯNG TIÊN VÀN NGƯỜI PHẢI CHỊU ĐAU KHỔ NHIỀU, VÀ BỊ DÒNG DÕI NÀY XUA ĐUỔI
Để có được sự xuất hiện trong vinh quang, Đức Giêsu phải bước qua đau khổ, bị những người lãnh đạo Do Thái giáo loại bỏ và qua cái chết của Ngài, con người được giao hòa với Thiên Chúa, được trả lại quyền làm con Thiên Chúa.
Con đường từ đau khổ đến vinh quang sẽ là con đường mà ta phải đi. Ta phải vác thập giá của mình mỗi ngày để theo Chúa, và khi đi theo Ngài, ta có quyền tin tưởng vào ngày mai tốt đẹp hơn.
Trọng tâm bài giảng hôm nay của Chúa Giêsu là mầu nhiệm Nước Thiên Chúa. Mầu nhiệm ấy không thể nắm bắt được bằng mắt trần hay bằng lý luận con người. Chúa Giêsu mời gọi mọi người đi vào mầu nhiệm đó.
Nước Chúa không ở chỗ này hay chỗ kia. Nước Chúa chỉ đến bằng cái chết của Chúa Giêsu mà thôi. Chúa Giêsu đã hé mở cho các môn đệ thấy cuộc khổ nạn của Ngài và các cuộc bách hại mà Giáo Hội sẽ trải qua.
Lời Chúa hôm nay mời gọi và thức tỉnh chúng ta, đừng mê ngủ và tự chôn vùi mình trong những ảo tưởng của trần thế với bao thú vui và sự hưởng thụ mau qua. Tất cả rồi sẽ qua đi, chỉ còn lại trong ta một sự trống rỗng và vô vị.
Điều quan trọng nhất trong cuộc sống là sự bình an, hoan lạc và yêu thương. Nhưng điều ấy chỉ có được khi chúng ta mở lòng ra để đón nhận Chúa Giêsu và vững tin vào Ngài. Chính Ngài đang đồng hành và hướng dẫn chúng ta trong mỗi bước đường của cuộc sống. Chính Ngài dẫn đưa chúng ta bước vào Triều đại Thiên Chúa ngay từ cuộc sống trần gian này.
Chúng ta đang sống trong những thời điểm cuối cùng của Năm Phụng vụ.
Lời Chúa hôm nay càng thúc bách chúng ta hãy tranh thủ thời gian còn lại để sống yêu thương và dấn thân phục vụ hết mình, rao truyền Tin Mừng Nước Thiên Chúa đến cho mọi người chưa nhận biết Ngài.
Thế giới hôm nay quả thật phong phú về nhiều phương diện, nhưng con người vẫn cảm thấy bất an và trống rỗng. Đấy là một sự thiếu vắng Thiên Chúa. Chúng ta hãy cùng sát cánh bên nhau để lấp đầy sự trống vắng ấy nơi lòng nhiều tâm hồn và cả thế giới này.
Càng đến thời điểm cuối năm Phụng vụ, để chuẩn bị bước sang Mùa Vọng, Giáo hội, nhất là Phụng vụ Lời Chúa càng hướng chúng ta về Ngày Thế mạt, ngày Cánh chung, hay ngày Tận thế.
TRONG BÀI ĐỌC I, Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi cho Philêmon, hôm nay, chúng ta bước sang một bức thư khác của thánh Phaolô.
Có những câu hỏi được đặt ra:
Ông Philêmôn là ai?
Phi-lê-môn, có lẽ là một hội-viên giàu-có trong hội-thánh Cô-lô-se.
Mục đích Phaolô viết thư cho ông Philêmon làm gì ?
Như ta biết, Ô-nê-sim là một nô lệ của Phi-lê-môn, đã bỏ chủ trốn đi. Chiếu theo luật La Mã vào thời đó, nếu chủ bắt được, Ô-nê-sim có thể bị xử tử hình.
Một thời gian sau khi bỏ trốn, Ô-nê-sim gặp thánh Phao-lô và đã tin nhận Chúa. Sau đó, Ô-nê-sim muốn trở về với chủ của mình.
Phao-lô đã viết thư thỉnh cầu Phi-lê-môn tha thứ cho Ô-nê-sim. Phao-lô xin Phi-lê-môn nhận Ô-nê-sim trở lại, không phải chỉ như một nô lệ, nhưng là một anh em trong Chúa.
Thánh Phaolô viết thư này vào khoảng năm 60 SC (sau Công nguyên) trong khi Phao-lô ở tù lần thứ nhất tại Rô-ma, thư được viết cùng lúc với hai thư tín Ê-phê-sô và Cô-lô-se. Thư Philêmôn này có tính cách cá nhân.
Trong thư gửi cho Philêmôn, thánh Phaolô đã viết như sau:
“”Xin anh tiếp nhận nó không phải như một người nô lệ, nhưng như một người anh em rất thân mến”.
Như vậy không những Phaolô xin ông Philêmôn tha thứ cho Ô-nê-sim, mà Phaolô còn muốn ông hãy đảo ngược cái nhìn và cách đối xử với Ô-nê-sim, vì anh ta bây giờ đã được sinh ra trong Đức Kitô.
Thánh Phaolô đã viết những dòng rất cảm động như sau:
“Phaolô già nua, và hiện đang bị cầm tù vì Đức Giêsu Kitô, tôi nài xin anh cho Ônêsimô, đứa con tôi đã sinh ra trong xiềng xích. Xưa kia nó là người vô ích cho anh, nhưng hiện nay, nó lại hữu ích cho cả anh và tôi nữa, tôi trao lại cho anh. Phần anh, anh hãy đón nhận nó như ruột thịt của tôi.
Chắc chắn ông Philêmôn không thể nào từ chối được.
Với Bài Tin mừng hôm nay, chúng ta hãy dâng lên Chúa lời cầu nguyện sau đây:
“Lạy Chúa! Xin Chúa cũng cố niềm tin, tình yêu và sự công chính của Chúa nơi mỗi chúng con, ngõ hầu chúng con cảm nhận được bình an, hạnh phúc và niềm vui nơi tâm hồn. Khi đó chúng con sẽ nhận thấy triều đại Thiên Chúa đang ở giữa chúng con.
Amen.
_________________________________
Giuse Vĩnh Tâm.
LỜI CHÚA THỨ NĂM TUẦN XXXII THƯỜNG NIÊN NĂM CHẴN 2020 (12/11/2020) – (Lc 17, 20 – 25) – THÁNG CẦU CHO CÁC LINH HỒN THÁNH JOSAPHAT, Giám mục Tử Đạo – Lễ nhớ buộc.
Trang Chủ » Bài Giảng - Suy Niệm Tin Mừng » LỜI CHÚA THỨ NĂM TUẦN XXXII THƯỜNG NIÊN NĂM CHẴN 2020 (12/11/2020) – (Lc 17, 20 – 25) – THÁNG CẦU CHO CÁC LINH HỒN THÁNH JOSAPHAT, Giám mục Tử Đạo – Lễ nhớ buộc.

