“CHA CÁC NGƯƠI LÀ ABRAHAM ĐÃ HÂN HOAN VÌ NGHĨ SẼ ĐƯỢC THẤY NGÀY CỦA TA”.
BÀI ĐỌC I: St 17, 3-9
“Ngươi sẽ làm tổ phụ nhiều dân tộc”.
Trích sách Sáng Thế.
Trong ngày ấy, Abram sấp mình xuống đất và Thiên Chúa phán cùng ông rằng: “Này Ta đây, Ta giao ước với ngươi, ngươi sẽ làm tổ phụ nhiều dân tộc. Thiên hạ sẽ không còn gọi ngươi là Abram nữa, nhưng sẽ gọi là Abraham, vì Ta đặt ngươi làm tổ phụ nhiều dân tộc. Ta sẽ ban cho ngươi con cháu đông đúc. Ta sẽ đặt ngươi làm tổ phụ nhiều dân tộc, và nhiều vua chúa xuất thân từ ngươi. Ta sẽ thiết lập giao ước vĩnh viễn giữa Ta với ngươi cùng con cháu ngươi từ thế hệ này qua thế hệ khác, để Ta trở nên Thiên Chúa của ngươi và của dòng dõi ngươi. Ta sẽ ban cho ngươi và dòng dõi ngươi đất mà ngươi cư ngụ, sẽ cho ngươi làm chủ vĩnh viễn toàn cõi đất Canaan và Ta sẽ là Chúa của chúng”.
Chúa lại phán cùng Abraham rằng: “Phần ngươi và dòng dõi ngươi, từ đời nọ sang đời kia, hãy giữ lời giao ước của Ta”.
Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 104, 4-5. 6-7. 8-9
Đáp: Tới muôn đời Chúa vẫn nhớ lời minh ước (c. 8a).
Xướng:
1) Hãy coi trọng Chúa và quyền năng của Chúa, hãy tìm kiếm thiên nhan Chúa luôn luôn. Hãy nhớ lại những điều kỳ diệu Chúa đã làm, những phép lạ và những điều Ngài phán quyết. – Đáp.
2)Hỡi miêu duệ Abraham là tôi tớ của Ngài, hỡi con cháu Giacóp, những kẻ được Ngài kén chọn, chính Chúa là Thiên Chúa chúng ta, quyền cai trị của Ngài bao trùm khắp cả địa cầu. – Đáp.
3)Tới muôn đời Ngài vẫn nhớ lời minh ước, lời hứa mà Ngài đã an bài tới muôn thế hệ, lời minh ước Ngài đã ký cùng Abraham, lời thề hứa Ngài đã thề với Isaac. – Đáp.
CÂU XƯỚNG TRƯỚC PHÚC ÂM: Am 5, 14
Các ngươi hãy tìm điều lành, chớ đừng tìm điều dữ, để các ngươi được sống và Chúa sẽ ở cùng các ngươi.
PHÚC ÂM: Ga 8, 51-59
“Cha các ngươi là Abraham đã hân hoan vì nghĩ sẽ được thấy ngày của Ta”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu nói với người Do-thái rằng: “Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi: Nếu ai giữ lời Ta, thì muôn đời sẽ không phải chết”. Người Do-thái lại nói: “Bây giờ thì chúng tôi biết rõ ông bị quỷ ám. Abraham đã chết và các tiên tri cũng vậy, thế mà ông lại nói: ‘Ai giữ lời Ta, thì không bao giờ phải chết’. Chẳng lẽ ông lại lớn hơn cha chúng tôi là Abraham sao? Ngài đã chết, các tiên tri cũng đã chết. Ông cho mình là ai?”
Chúa Giêsu trả lời: “Nếu Ta tự tôn vinh chính mình, thì vinh quang của Ta sẽ không giá trị gì. Chính Cha Ta tôn vinh Ta. Người là chính Đấng các ngươi xưng là Thiên Chúa của các ngươi. Vậy mà các ngươi không biết Người. Còn Ta, Ta biết Người. Nếu Ta nói Ta không biết Người, thì Ta cũng nói dối như các ngươi. Nhưng Ta biết Người, và Ta giữ lời Người. Cha các ngươi là Abraham đã hân hoan, vì nghĩ sẽ được thấy ngày của Ta. Ông đã thấy và đã vui mừng”.
Người Do-thái liền nói: “Ông chưa được năm mươi tuổi mà đã trông thấy Abraham rồi sao?” Chúa Giêsu trả lời: “Quả thật, quả thật, Ta nói với các ngươi: Khi Abraham chưa sinh ra, thì Ta đã có rồi”.
Bấy giờ họ lượm đá ném Ngài, nhưng Chúa Giêsu ẩn mình đi ra khỏi đền thờ.
Đó là lời Chúa.
__________________________________
I/. BÀI SUY NIỆM (Ga 8, 51-59)
“CHA CÁC NGƯƠI LÀ ABRAHAM ĐÃ HÂN HOAN VÌ NGHĨ SẼ ĐƯỢC THẤY NGÀY CỦA TA”.
Hôm nay chúng ta vẫn ở trong Chương 8 Phúc âm Gioan và ở phần kết của cuộc tranh luận về ĐỨC GIÊSU và ÔNG ABRAHAM
Nếu ai theo dõi bài Tin mừng này, có thể hiểu được tâm trạng khó chịu, bực bội của người Do Thái đối với Chúa Giêsu. Nếu có mặt, chắc ta cũng khó chịu như vậy.
Người Do Thái bực tức trước những lời Chúa khẳng định. “Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi: Nếu ai giữ lời Ta, thì muôn đời sẽ không phải chết”.
Họ phản ứng lại: “Chúng tôi biết rõ ông bị quỷ ám… Chẳng lẽ ông lại lớn hơn cha chúng tôi là Abraham sao?” Và rồi họ hỏi ngược lại Chúa Giêsu: “Ông cho mình là ai?”.
Đáp lại thắc mắc của người Do Thái, Chúa Giêsu nói rõ hơn về mình: “Chính Cha Ta tôn vinh Ta. Người là chính Ðấng các ngươi xưng là Thiên Chúa của các ngươi. Vậy mà các ngươi không biết Người. Còn Ta, Ta biết Người.”.
Rồi Chúa còn nói:
“”CHA CÁC NGƯƠI LÀ ABRAHAM ĐÃ HÂN HOAN VÌ NGHĨ SẼ ĐƯỢC THẤY NGÀY CỦA TA”.
Thật ra câu này Chúa nói rất đúng vì trong Bài đọc I, trích Sách Sáng thế, Thiên Chúa đã ký kết với Tổ phụ Abraham một giao ước, tác giả viết:
“Này Ta đây, Ta giao ước với ngươi, ngươi sẽ làm tổ phụ nhiều dân tộc. Thiên hạ sẽ không còn gọi ngươi là Abram nữa, nhưng sẽ gọi là Abraham, vì Ta đặt ngươi làm tổ phụ nhiều dân tộc. Ta sẽ ban cho ngươi con cháu đông đúc. Ta sẽ đặt ngươi làm tổ phụ nhiều dân tộc, và nhiều vua chúa xuất thân từ ngươi”.
Thiên Chúa đã đổi tên ông từ Abram thành Abraham.
Trong Kinh thánh, khi Thiên Cúa đổi tên cho ai, Ngài sẽ trao cho người đó một sứ mệnh. Có nghĩa Thiên Chúa đã đặt Abraham là tổ phụ của một dân tộc đông như sao trên trời, nhiều như cát dưới biển.
Thế nhưng ngay tai thời điểm đó ông Abraham vẫn chưa có con nối dòng và vợ ông là bà Sara thì đã lớn tuổi. Vậy làm sao Abraham có thể nghĩ đến điều Thiên Chúa đã hứa.
Nhưng Abraham vẫn vững tin vào Lời Chúa. Chính vì thế, Chúa Giêsu nói:
“CHA CÁC NGƯƠI LÀ ABRAHAM ĐÃ HÂN HOAN VÌ NGHĨ SẼ ĐƯỢC THẤY NGÀY CỦA TA”.
“HÂN HOAN VÌ NGHĨ”
Có nghĩa Abraham vững tin vào Lời Chúa hứa và mong ước được thấy đến một ngày Chúa sẽ thực hiện giao ước đó. Ông Abraham có quyền nghĩ và không ai chê trách ông được. Không ai cấm người khác mơ ước và cũng chẳng có luật pháp nào bắt tội những ước mơ. Người ta chỉ có thể chê người đó là một tên mơ mộng hão huyền, chứ không thể bắt tội, đóng thuế hay thu phí, thu giá,….
Vì thế ông Abraham có quyền mơ ước đến một ngày Thiên Chúa thực hện giao ước.
“NGÀY CỦA TA”.
Đó là Ngày Chúa Giêsu hoàn tất Lịch sử Cứu độ, hay còn gọi là Ngày Cánh chung, Ngày Tận thế, là ngày Chúa quy tụ tất cả những người tin vào Chúa về một mối.
Những người tin, đó chính là con cháu của Tổ phụ Abraham, vì ông Abraham được Kinh thánh gọi là CHA CỦA NHỮNG KẺ TIN.
“NGÀY CỦA TA” chính là ngày mà Thiên Chúa thực hiện giao ước Ngài đã ký kết với Abraham.
Như vậy, Chúa nói:
“CHA CÁC NGƯƠI LÀ ABRAHAM ĐÃ HÂN HOAN VÌ NGHĨ SẼ ĐƯỢC THẤY NGÀY CỦA TA”.
Hoàn toàn đúng đắn và chính xác không có gì phải bực tức và chống đối.
Nhưng người Do Thái không thể chịu được với câu đi liền sau đó.
“Cha các ngươi là Abraham đã hân hoan, vì nghĩ sẽ được thấy ngày của Ta. Ông đã thấy và đã vui mừng”
“ÔNG ĐÃ THẤY VÀ ĐÃ VUI MỪNG”.
Làm sao ông Abraham có thể thấy được ngày đó, vì Abraham sống trước thời Chúa Giêsu sinh ra cả hàng mấy ngàn năm, làm sao ông có thể thấy và vui mừng ?
Trong khi Chúa lại khẳng định:
“ÔNG ĐÃ THẤY VÀ ĐÃ VUI MỪNG”.
Không lẽ Abraham có cái nhìn thị kiến như Gioan trong sách Khải Huyền. Có nghĩa đã được nhìn thấy “NGÀY CỦA TA” trong giấc mơ hay trong một thị kiến.
Điều này không chắc chắn.
Nhưng ngày nay ta có thể khẳng định,
“ÔNG ĐÃ THẤY VÀ ĐÃ VUI MỪNG”.
Đó là CÁI NHÌN ĐỨC TIN, trong niềm tin vững vàng vào lời hứa của Thiên Chúa, cho dù ông không nhìn thấy bằng con mắt thể lý, nhưng ông đã nhìn thấy bằng con mắt đức tin.
Với con mắt đức tin ta có thể phóng cái nhìn đi từ khởi thiên lập địa cho đến ngày Tận thế.
Như tác giả sách Sáng thế, ông có nhìn thấy lúc ban đầu vũ trụ này hình thành thế nào đâu, thế mà tác giả với con mắt đức tin dám mô tả Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ trong 7 ngày.
Với cái nhìn đức tin, thánh sử Gioan dám viết trong lời tựa cuốn Phúc âm của ông:
“Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời.
Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa,
và Ngôi Lời là Thiên Chúa.
Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa.
Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành,
và không có Người,
thì chẳng có gì được tạo thành.
Điều đã được tạo thành”
(Ga 1, 1 – 3).
Như vậy với cái nhìn đức tin, Gioan viết về ông Abraham: ““ÔNG ĐÃ THẤY VÀ ĐÃ VUI MỪNG”, là điều đúng đắn.
Tóm lại Chúa nói về ông Abraham như sau::
“CHA CÁC NGƯƠI LÀ ABRAHAM ĐÃ HÂN HOAN VÌ NGHĨ SẼ ĐƯỢC THẤY NGÀY CỦA TA. ÔNG ĐÃ THẤY VÀ ĐÃ VUI MỪNG”
Chính vì điều này, người Do Thái lượm đá ném Chúa Giêsu. Đây là khởi sự cho sự căm ghét và muốn loại trừ Chúa, mà đỉnh điểm là việc bắt nộp, đóng đinh Ngài lên cây thập giá.
Chúa Giêsu vừa mạc khải về Chúa Cha, vừa mạc khải về chính mình Ngài đang thi hành sứ mạng của Cha.
Người Do Thái tự hào là con cái Thiên Chúa, con cháu của dòng dõi Abraham, nhưng lại không biết rõ về Thiên Chúa mà họ tôn thờ.
Ngài càng quả quyết chân lý nghe lời Ngài thì được sống trong Thiên Chúa. Chúa Giê-su còn khẳng định Chúa Cha làm chứng lời Ngài nói. Một điều khó hiểu nhưng lại xảy ra là, những người các dân tộc lân bang Do Thái khó đón nhận Lời Chúa đã đành, đằng này dân Chúa lại cho rằng chói tai khi nghe Lời Chúa, cho rằng Đấng đang nói Lời Chúa là kẻ bị quỷ ám và họ tìm mọi cách giết Chúa Giê-su để khỏi phải nghe lời Ngài.
Thực trạng đau đớn đó đâu chỉ xảy ra thời Chúa Giê-su, mà còn xảy ra nơi nhiều gia đình Ki-tô hữu hôm nay nữa.
Kitô hữu chúng ta hôm nay là con cháu của Tổ phụ Abraham, tức dòng dõi của những người tin vào Thiên Chúa, ta đừng đi theo vết xe đổ của người Do Thái ngày xưa, tức luôn đòi hỏi mọi sự phải rõ ràng, phải được nhìn thấy, sờ thấy, đựng chạm đến, phải được chứng minh rồi mới tin. Nhưng ta phải biết dùng CON MẮT ĐỨC TIN để nhận ra sự hiện diện của Chúa trong xã hội hôm nay và trong vũ trụ này để hoàn toàn phó thác vững tin vào Ngài.
Với một vài suy niệm ngắn ngủi trên, chúng ta cùng nhau bước vào Bài Tin mừng:
______________________________________
II/. BÀI CHIA SẺ (Ga 8, 51-59)
“KHI ẤY, CHÚA GIÊSU NÓI VỚI NGƯỜI DO-THÁI RẰNG: “QUẢ THẬT, QUẢ THẬT, TA BẢO CÁC NGƯƠI: NẾU AI GIỮ LỜI TA, THÌ MUÔN ĐỜI SẼ KHÔNG PHẢI CHẾT”.
Bài Tin mừng hôm nay nối tiếp với Bài Tin mừng hôm qua (Ga 8, 31 – 42), bối cảnh của Bài Tin mừng vẫn là trong thời gian diễn ra Lễ Lều của người Do Thái (diễn ra trong 7 ngày) và Chúa Giêsu đang giảng dạy trong Đền thờ, và thính giả nghe Ngài nói vẫn là những người Do Thái đã tin vào Ngài.
Nhưng niềm tin của những người Do Thái này rất hời hợt và mong manh. Niềm tin yếu ớt đó đã được biểu hiện qua việc BẮT HỤT 2 quan niệm:
1/. Họ đã bắt hụt quan niệm: NÔ LỆ – TỰ DO đích thực. Họ cứ cho mình là con cháu Abraham, chưa bao giờ làm nô lệ cho ai, vì thế họ không cần phải được giải phóng khỏi kiếp nô lệ, nghĩa là họ không cần đến Chúa Giêsu.
2/. Hôm nay, người Do Thái lại bắt hụt một lần nữa. Họ bắt hụt quan niệm: SỐNG – CHẾT mà Chúa Giêsu sẽ mạc khải cho họ.
“NẾU AI GIỮ LỜI TA, THÌ MUÔN ĐỜI SẼ KHÔNG PHẢI CHẾT”
Gioan khẳng định rất mạnh mẽ và quả quyết qua cụm từ “ Quả thật, quả thật”, dùng cụm từ “quả thật” đến 2 lần như là sự khẳng định mạnh mẽ.
Gioan khẳng định: “Nếu ai giữ lời Ta, thì muôn đời sẽ không phải chết”, có nghĩa: Lời của Chúa Giêsu là Lời ban sự sống đời đời mà chúng ta vẫn thường gọi đó là LỜI HẰNG SỐNG”.
ĐỘC GIẢ CÓ THỂ THẮC MẮC:
Tại sao nói : “Nếu ai giữ lời Ta, muôn đời sẽ không phải chết”, trong khi người Kitô hữu nhiệt thành với Lời Chúa vẫn chết như bao người khác? Và thực tế đã chứng minh điều đó. Vậy Chúa Giêsu có lừa dối chúng ta không?
Giải đáp cho vấn đề này, chúng ta mới hiểu được quan niệm: SỐNG – CHẾT đích thực mà người Do Thái hôm nay đã bắt hụt.
“NGƯỜI DO-THÁI LẠI NÓI: “BÂY GIỜ THÌ CHÚNG TÔI BIẾT RÕ ÔNG BỊ QUỶ ÁM. ABRAHAM ĐÃ CHẾT VÀ CÁC TIÊN TRI CŨNG VẬY, THẾ MÀ ÔNG LẠI NÓI: ‘AI GIỮ LỜI TA, THÌ KHÔNG BAO GIỜ PHẢI CHẾT’. CHẲNG LẼ ÔNG LẠI LỚN HƠN CHA CHÚNG TÔI LÀ ABRAHAM SAO?
Người Do Thái không những bắt hụt quan niệm : Sống – Chết của Chúa Giêsu mà họ còn cho Ngài “BỊ QUỶ ÁM”.
Lý do họ đưa ra, đó là Tổ phụ Abraham và các tiên tri là những người hoàn toàn tin vào Thiên Chúa đều đã chết, điều này quá rõ, thế mà Chúa Giêsu lại nói: “Nếu ai giữ lời Ta, muôn đời sẽ không phải chết”.
Cụm từ “BỊ QUỶ ÁM” là một cụm từ rất cay nghiệt khi họ gán cho Chúa Giêsu. Đã có lần họ cho Chúa Giêsu cùng phe với ma quỷ khi dựa vào thế quỷ vương Beelgiêbut để trừ quỷ. Nhưng lần này họ ác ý hơn khi cho Ngài bị quỷ ám, có nghĩa, Chúa Giêsu chính là một tên quỷ đội lốt người, Lời Ngài nói chính là lời của quỷ.
QUAN NIỆM : SỐNG – CHẾT ĐÍCH THỰC
Abraham và các tiên tri đã chết, trong khi Chúa Giêsu lại nói: “Nếu ai giữ lời Ta, muôn đời sẽ không phải chết”. Họ đặt ra câu hỏi cho Chúa Giêsu: “CHẲNG LẼ ÔNG LẠI LỚN HƠN CHA CHÚNG TÔI LÀ ABRAHAM SAO?”
Đối với họ: Abraham là Tổ phụ của nhiều dân tộc chứ không riêng gì dân tộc DoThái như trong Bài đọc I đã mô tả. Còn Chúa Giêsu chỉ là một người Do Thái. Xét về mặt con người, Ngài cũng là con cháu của Abraham thì làm sao Ngài có thể cao trọng hơn Abraham.
Một lần nữa, Gioan cho chúng ta thấy: Người Do Thái là những con người thuộc về hạ giới nên không thể tiếp nhận Lời của Chúa Giêsu muốn mạc khải cho họ.
“Tổ phụ Abraham và các tiên tri là những người hoàn tin tưởng vào Thiên Chúa đều đã chết”, điều đó quá rõ, vì Abraham và các tiên tri cũng chỉ là những con người nên đều phải tuân theo định luật sinh tử, có nghĩa vẫn phải chết. Vì cái chết chính là hậu quả của Tội Nguyên Tổ.
Thánh Phaolô trong Thư gửi tín hữu Roma đã viết:
“Vì một người duy nhất, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết; như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì mọi người đã phạm tội.
Trước khi có Lề Luật, đã có tội lỗi ở trần gian. Nhưng nếu không có Luật, thì tội không bị kể là tội. Thế mà, từ thời A-đam đến thời Mô-sê, sự chết đã thống trị cả những người đã không phạm tội bất tuân lệnh Thiên Chúa như A-đam đã phạm. A-đam là hình ảnh Đấng sẽ tới” (Rm 5, 12-14)
Như vậy Thánh Phaolô đã trả lời vấn nạn này cho chúng ta, theo Thánh Phaolô:
Chính vì A-đam phạm tội nên sự chết đã xâm nhập vào thế gian, nó chi phối tất cả mọi người và mọi người sẽ phải chết, trong đó có Abraham, các tiên tri và cả chúng ta nữa.
Nhưng Thánh Phaolô cũng nói: Chúa Giêsu chính là A-đam mới, một A-đam vâng phục hoàn toàn, trái ngược hẳn với Ađam Nguyên tổ, chính Chúa Giêsu qua cái chết của Ngài trên thập giá.
Ngài đã giao hoà Thiên Chúa với con người và trả lại cho con người sự sống trong cõi vĩnh hằng, có nghĩa con người sẽ được sống lại trong cuộc sống mai này, sau khi chết và họ sẽ không bao giờ chết nữa mà là sống muôn đời
“NGÀI ĐÃ CHẾT, CÁC TIÊN TRI CŨNG ĐÃ CHẾT. ÔNG CHO MÌNH LÀ AI?”
Chính vì thế Chúa Giêsu mới khẳng định mạnh mẽ: “Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi: Nếu ai giữ lời Ta, thì muôn đời sẽ không phải chết”. Chắc chắn người Do Thái không thể lãnh hội được mạc khải này nên họ cho rằng: Chúa Giêsu “bị quỷ ám”.
Không những cho Chúa Giêsu bị quỷ ám, họ còn cho Ngài là một kẻ kiêu ngạo, tự đắc, giống như một tên khùng vậy. Abraham và các tiên tri đều đã chết, vậy ông là ai mà dám nói: Nếu ai giữ lời Ta, muôn đời sẽ không phải chết”, không lẽ ông mạo nhận mình còn hơn cả Abraham và các tiên tri sao?
Thật kiêu ngạo lố bịch, đúng là bị quỷ ám.
“CHÚA GIÊSU TRẢ LỜI: “NẾU TA TỰ TÔN VINH CHÍNH MÌNH, THÌ VINH QUANG CỦA TA SẼ KHÔNG GIÁ TRỊ GÌ. CHÍNH CHA TA TÔN VINH TA”
Gioan nói rõ “CHÍNH CHA TA TÔN VINH TA”, có nghĩa Chúa Cha đã tôn vinh Chúa Giêsu qua cái chết trên thập giá.
Trong thư Philipphê, Thánh Phaolô đã viết rất rõ về vấn đề này:
“Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. (Pl 2, 6-8).
Như vậy, Chúa Giêsu trổi vượt hơn Abraham và các tiên tri hàng vạn lần, không phải tự Ngài mạo nhận mà là chính Chúa đã đã tôn vinh Ngài.”
“NGƯỜI LÀ CHÍNH ĐẤNG CÁC NGƯƠI XƯNG LÀ THIÊN CHÚA CỦA CÁC NGƯƠI. VẬY MÀ CÁC NGƯƠI KHÔNG BIẾT NGƯỜI. CÒN TA, TA BIẾT NGƯỜI. NẾU TA NÓI TA KHÔNG BIẾT NGƯỜI, THÌ TA CŨNG NÓI DỐI NHƯ CÁC NGƯƠI. NHƯNG TA BIẾT NGƯỜI, VÀ TA GIỮ LỜI NGƯỜI. CHA CÁC NGƯƠI LÀ ABRAHAM ĐÃ HÂN HOAN, VÌ NGHĨ SẼ ĐƯỢC THẤY NGÀY CỦA TA. ÔNG ĐÃ THẤY VÀ ĐÃ VUI MỪNG”.
“NGƯỜI LÀ CHÍNH ĐẤNG CÁC NGƯƠI XƯNG LÀ THIÊN CHÚA CỦA CÁC NGƯƠI. VẬY MÀ CÁC NGƯƠI KHÔNG BIẾT NGƯỜI. CÒN TA, TA BIẾT NGƯỜI”.
Khi Chúa Giêsu nói: “Chính Cha Ta tôn vinh Ta”, có lẽ người Do Thái chưa hiểu Cha Ngài là ai. Vì Phúc âm của Gioan luôn xoay quanh 2 câu hỏi lớn:
+ Ông là ai?
+ Đấng sai Ông là ai?
Hôm nay Chúa Giêsu sẽ mạc khải cho người Do Thái biết Cha Ngài: “NGƯỜI LÀ ĐẤNG CÁC NGƯƠI XƯNG LÀ THIÊN CHÚA CỦA CÁC NGƯƠI”. Đấng mà người Do Thái đang đang tôn thờ tại đây, Đền thờ Giêrusalem.
Nhưng Chúa Giêsu cũng nói rõ: “CÁC NGƯƠI KHÔNG BIẾT NGƯỜI. CÒN TA, TA BIẾT NGƯỜI”, như vậy họ chỉ tôn thờ Đấng mà họ không biết. Chính vì thờ Đấng mà họ không biết nên trong lòng họ không có Thiên Chúa mà họ chỉ tôn thờ trên môi miệng mà lòng họ thì luôn xa cách Ngài.
Còn Chúa Giêsu , Ngài là Con Thiên Chúa nên Chúa Giêsu biết Chúa Cha rất rõ vì Ngài từng nói Ta và Cha Ta là Một: Cha ở trong Con và Con ở trong Cha. Chúa Giêsu hẳng ghi nhớ Lời Chúa Cha vì Chúa Giêsu là Ngôi Lời, là Lời của Thiên Chúa.
CHA CÁC NGƯƠI LÀ ABRAHAM ĐÃ HÂN HOAN, VÌ NGHĨ SẼ ĐƯỢC THẤY NGÀY CỦA TA. ÔNG ĐÃ THẤY VÀ ĐÃ VUI MỪNG
Vâng đúng vậy, Abraham hân hoan vui sướng vì tất cả giao ước mà Thiên Chúa ký kết với ông: “Ông sẽ là Cha của một dân tộc đông như sao trên trời, nhiều như cát bãi biển. Lời hứa đó sẽ được thực hiện nơi Chúa Giêsu, Abraham luôn mong chờ cái ngày đó, ngày mà Giao ước thành hiện thực, vì qua cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá Ngài sẽ là một A-đam mới cho một nhân loại mới.
Tại sao nói: “Ông đã thấy và đã vui mừng”?
Thưa vì Abraham hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa. Khi Thiên Chúa hứa, thì với một đức tin tuyệt đối, ông đã thấy cái ngày của Chúa Giêsu và ông vui mừng. Đó là cái thấy của một đức tin sâu xa. Nó vượt ra ngoài không gian và thời gian.
“NGƯỜI DO-THÁI LIỀN NÓI: “ÔNG CHƯA ĐƯỢC NĂM MƯƠI TUỔI MÀ ĐÃ TRÔNG THẤY ABRAHAM RỒI SAO?” CHÚA GIÊSU TRẢ LỜI: “QUẢ THẬT, QUẢ THẬT, TA NÓI VỚI CÁC NGƯƠI: KHI ABRAHAM CHƯA SINH RA, THÌ TA ĐÃ CÓ RỒI”.
Có lẽ người Do Thái khi nghe Chúa Giêsu nói về Abraham thì họ tức điên lên, Chúa càng nói, họ càng bực bội.
Làm sao có thể chấp nhận một con người chưa tới 50 tuổi mà lại nói về Abraham sống cách nay hàng ngàn năm?
Vì thế họ mới buột miệng: “ÔNG CHƯA ĐƯỢC NĂM MƯƠI TUỔI MÀ ĐÃ TRÔNG THẤY ABRAHAM RỒI SAO?”
Vâng, họ cũng có lý, nhưng cái suy nghĩ của họ chỉ đúng với con người sống trong thời gian và lệ thuộc thời gian, cái suy nghĩ của những con người thuộc về hạ giới.
Trong khi Chúa Giêsu lại muốn nói về bình diện siêu nhiên. Chính trong niềm tin sâu xa vào Thiên Chúa mà Abraham đã nhìn thấy cái ngày của Chúa Giêsu cho dù cách ông hàng ngàn năm và ông đã hoan hỉ vui mừng.
Và cũng trong một cái nhìn của Đấng thuộc về Thượng Giới nên Chúa Giêsu mặc dù chưa tới 50 tuổi Ngài đã nhìn thấy Abraham. Đó là những cái nhìn hết sức siêu việt. Điều này làm cho đầu óc người Do Thái muốn nổ tung ra, muốn điên lên.
Chúa Giêsu khẳng định dứt khoát cho người Do Thái biết: “KHI ABRAHAM CHƯA SINH RA, THÌ TA ĐÃ CÓ RỒI”.
Có lần để trả lời câu hỏi của người Do Thái: Ông là ai?”. Chúa Giêsu trả lời: “Ta là Nguyên Thuỷ” (Ga 8, 24). Chính vì Ngài là Nguyên thuỷ nên “Khi Abraham chưa sinh ra, thì Ta đã có rồi”
“BẤY GIỜ HỌ LƯỢM ĐÁ NÉM NGÀI, NHƯNG CHÚA GIÊSU ẨN MÌNH ĐI RA KHỎI ĐỀN THỜ”
Theo Gioan, khi Chúa Giêsu nói đến đây thì người Do Thái không còn chịu nổi nữa, đầu óc họ muốn nổ tung và Gioan ghi lại phản ứng của người Do Thái: “HỌ LƯỢM ĐÁ NÉM NGÀI”.
Đây là điểm vô lý nhất trong Bài Tin mừng.
Độc giả có thể thắc mắc về chi tiết này:
Họ lượm đá ném Ngài. Trong Đền thờ: đá ở đâu mà ném vậy, trong nơi thờ phượng lại có sẵn hung khí để giết người sao?
Điều này chứng tỏ họ đã ra khỏi Đền thờ để lấy đá ném Chúa.
NÉM ĐÁ NGÀI.
Như vậy với người Do Thái, Chúa đã phạm một trọng tội xứng đáng bị ném đá, tội đó còn nặng hơn tội người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình
Vì trong trường hợp người phụ nữ, không ai dám ném, tất cả mọi người phải bỏ cục đá xuống, sau khi được nghe câu Chúa nói: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi” (Gioan 8, 7).
Còn trong trường hợp của Chúa, người Do Thái đã lấy đá ném Ngài,. Vậy tội của Chúa còn nặng hơn tội của người phụ nữ kia.
“NHƯNG CHÚA GIÊSU ẨN MÌNH ĐI RA KHỎI ĐỀN THỜ”
Trong lúc người Do Thái ra khỏi Đền thờ để lấy đá ném thì Ngài cũng theo họ ra khỏi Đền thờ để ẩn mình đi vì Đền thờ không còn là nơi thờ phượng nữa, nó sắp sửa biến thành pháp đình giết người.
Amen.
______________________
Giuse Nguyễn Viết Tâm.

