“LẠY THẦY, XIN CHO TÔI ĐƯỢC THẤY”.
BÀI ĐỌC I: Gr 31, 7-9
“Ta sẽ lấy lòng từ bi dẫn dắt kẻ đui mù và què quặt”.
Trích sách Tiên tri Giêrêmia.
Đây Chúa phán: Hỡi Giacóp, hãy hân hoan vui mừng! Hãy hò hét vào đầu các Dân ngoại, hãy cất tiếng vang lên, ca hát rằng: “Lạy Chúa, xin hãy cứu dân Chúa là những kẻ sống sót trong Israel”.
Đây, Ta sẽ dẫn dắt chúng từ đất bắc trở về, sẽ tụ họp chúng lại từ bờ cõi trái đất: trong bọn chúng sẽ có kẻ đui mù, què quặt, mang thai và sinh con đi chung với nhau, hợp thành một cộng đoàn thật đông quy tụ về đây.
Chúng vừa đi vừa khóc, Ta sẽ lấy lòng từ bi và dẫn dắt chúng trở về. Ta sẽ đưa chúng đi trên con đường thẳng, băng qua các suối nước; chúng không phải vấp ngã trên đường đi: vì Ta đã trở nên thân phụ dân Israel, và Ephraim là trưởng tử của Ta.
Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 125, 1-2ab. 2cd-3. 4-5. 6
Đáp: Chúa đã đối xử đại lượng với chúng tôi, nên chúng tôi mừng rỡ hân hoan (c. 3).
Xướng: 1) Khi Chúa đem những người từ Sion bị bắt trở về, chúng tôi dường như người đang mơ, bấy giờ miệng chúng tôi vui cười, lưỡi chúng tôi thốt lên những tiếng hân hoan. – Đáp.
2) Bấy giờ dân thiên hạ nói với nhau rằng: “Chúa đã đối xử với họ cách đại lượng.” Chúa đã đối xử đại lượng với chúng tôi, nên chúng tôi mừng rỡ hân hoan. – Đáp.
3) Lạy Chúa, hãy đổi số phận của con, như những dòng suối ở miền nam. Ai gieo trong lệ sầu, sẽ gặt trong hân hoan. – Đáp.
4) Thiên hạ vừa đi vừa khóc, tay mang thóc đi gieo; họ trở về trong hân hoan, vai mang những bó lúa. – Đáp.
BÀI ĐỌC II: Dt 5, 1-6
“Con là tư tế đến muôn đời theo phẩm hàm Menkixêđê”.
Trích thư gửi tín hữu Do-thái.
Tất cả các vị thượng tế được chọn giữa loài người, nên được đặt lên thay cho loài người mà lo việc Chúa, để hiến dâng lễ vật và hy lễ đền tội. Người có thể thông cảm với những kẻ mê muội và lầm lạc, vì chính người cũng mắc phải yếu đuối tư bề. Vì thế, cũng như người phải dâng lễ đền tội thay cho dân thế nào, thì người dâng lễ đền tội cho chính mình như vậy. Không ai được chiếm vinh dự đó, nhưng phải là người được Thiên Chúa kêu gọi như Aaron.
Cũng thế, Đức Kitô không tự dành lấy quyền làm thượng tế, nhưng là Đấng đã nói với Người rằng: “Con là Con Cha, hôm nay Cha sinh ra Con”. Cũng có nơi khác Ngài phán: “Con là tư tế đến muôn đời theo phẩm hàm Menkixêđê”.
Đó là lời Chúa.
ALLELUIA: Lc 19, 38
Alleluia, alleluia! – Chúc tụng Đức Vua, Đấng nhân danh Chúa mà đến; bình an trên trời và vinh quang trên các tầng trời. – Alleluia.
PHÚC ÂM: Mc 10, 46-52
“Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy, Chúa Giêsu ra khỏi thành Giêricô cùng với các môn đệ và một đám đông, thì con ông Timê tên là Bartimê, một người mù đang ngồi ăn xin ở vệ đường, khi anh ta nghe biết đó là Chúa Giêsu Nadarét, liền kêu lên rằng: “Hỡi ông Giêsu con vua Đavít, xin thương xót tôi”. Và nhiều người mắng anh bảo im đi, nhưng anh càng kêu to hơn: “Hỡi con vua Đavít, xin thương xót tôi”.
Giêsu dừng lại và truyền gọi anh đến. Người ta gọi người mù và bảo anh: “Hãy vững tâm đứng dậy, Người gọi anh”. Anh ta liệng áo choàng, đứng dậy, đến cùng Chúa Giêsu. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo rằng: “Anh muốn Ta làm gì cho anh?” Người mù thưa: “Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy”. Chúa Giêsu đáp: “Được, đức tin của anh đã chữa anh”. Tức thì anh ta thấy được và đi theo Người.
Đó là lời Chúa.
__________________________________________
I/. GIỚI THIỆU CÁC BÀI ĐỌC:
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Thiên Chúa yêu thương và chữa lành những yếu đuối của con người.
Các Bài Đọc hôm nay biểu lộ tình yêu Thiên Chúa dành cho con người qua những trường hợp khác nhau.
TRONG BÀI ĐỌC I Trích sách Tiên tri Giêrêmia, khi con cái Israel không chịu nghe lời các ngôn sứ để quay trở về với Thiên Chúa, Ngài để mặc họ cho ngoại bang giày xéo. Kết quả là con cái Israel bị mất nước và bị mang đi lưu đày. Nhưng tình yêu Thiên Chúa không bao giờ cạn cho con cái Israel, Ngài sai các ngôn sứ tới để khuyên bảo dân hãy giữ vững niềm trông cậy, vì Ngài sẽ giải thoát và đưa họ về quê hương làm lại cuộc đời.
TRONG BÀI ĐỌC II Trích thư gửi tín hữu Do-thái, tình yêu Thiên Chúa được biểu lộ qua việc Ngài chọn và gởi các thượng tế đến để làm trung gian giữa Thiên Chúa và con người; vị Thượng Tế cao cả nhất là chính Người Con Một của Ngài. Các thượng tế thay Thiên Chúa lo lắng và chăm sóc phần hồn cho dân qua mọi thời đại.
TRONG BÀI TIN MỪNG theo thánh Marcô, Đức Kitô đã chữa lành cho một người mù thành Jericho, khi anh mạnh dạn vượt qua mọi trở ngại để xin Ngài cho anh được thấy.
(theo Lm. Anthony Đinh Minh Tiên, OP)
_______________________________________
II/. BÀI CHIA SẺ (Mc 10, 46-52)
Hôm nay Chúa nhật XXX Thường niên năm B, Phụng vụ đưa chúng ta đến phần kết của Chương 10 Phúc âm Marcô để được chứng kiến một phép lạ CHÚA CHỮA CHO NGƯỜI MÙ TẠỊ GIERICÔ ĐƯỢC SÁNG MẮT.
Cái địa danh GIÊRICÔ nhắc cho ta biết Chúa Giêsu đã kết thúc cuộc hành trình lên Giêrusalem để chịu khổ nạn, vì Giêricô là chặng cuối cùng.
Mở đầu Bài Tin mừng, Marcô viết: “Khi ấy, Chúa Giêsu ra khỏi thành Giêricô cùng với các môn đệ và một đám đông, thì con ông Timê tên là Bartimê, một người mù đang ngồi ăn xin ở vệ đường” (Mc 10, 46).
Như vậy Chúa Giêsu đã ra khỏi thành Giêricô và chuẩn bị bước vào Giêrusalem., có các môn dệ và đám đông đi theo Ngài.
Như ta biết Giêricô là thành phố nằm sâu nhất trái đất so với mặt nước biển. Rõ ràng Chúa và các môn đệ vừa ra khỏi cái thung lũng và làm một cuộc leo dốc vất vả để vào Giêrusalem.
Ra khỏi cái thung lũng của sự tối tăm, mặc dù Giêricô là thành phố rất đẹp, nổi tiếng với những hàng cây chà và thẳng tắp.
Sự tăm tối này được diễn tả bởi hình ảnh của một người mù ngồi ăn xin ở vệ đường.
Bài Tin mừng hôm nay được cả 3 thánh sử Nhất lãm tường thuật:
+ Matthêu: Mt 20: 29 -34;
+ Marcô: Mc 10, 46-52
+ Luca: Lc 18: 35 -43.
Nhưng có một sự khác biệt mà ta cần chú ý: CÓ MẤY NGƯỜI MÙ?
+ Ở Matthêu: CÓ 2 NGƯỜI MÙ:
Matthêu viết: “Khi Đức Giê-su và môn đệ ra khỏi thành Giê-ri-khô, dân chúng lũ lượt đi theo Người. Và kìa có hai người mù ngồi ở vệ đường” (Mt 20, 29 – 30).
+ Ở Marcô và Luca: CÓ 1 NGƯỜI MÙ
Marcô viết: “Khi ấy, Chúa Giêsu ra khỏi thành Giêricô. Khi Đức Giê-su cùng với các môn đệ và một đám người khá đông ra khỏi thành Giê-ri-khô, thì có một người mù đang ngồi ăn xin bên vệ đường, tên anh ta là Ba-ti-mê, con ông Ti-mê” (Mc 10, 46).
Sự khác biệt này mặc dù làm ta phải chú ý, nhưng nó không làm thay đổi nội dung và ý nghĩa phép lạ Chúa thực hiện để chữa cho người mù được sáng mắt.
Sự khác biệt này tùy vào quan điểm của mỗi thánh sử. Vì cùng một sự linh hứng của Chúa Thánh Thần nhưng khi viết Tin mừng, mỗi thánh sử đều có quyền thể hiện quan điểm riêng của mình.
Chẳng hạn: Matthêu nhấn mạnh đến tính CỘNG ĐOÀN, vì trong cảnh bất hạnh, trong đêm tối mịt mù này (vì bị mù). Có 2 người mù ở với nhau sẽ là nguồn động viên, nâng đỡ nhau, làm vơi đi nỗi khổ mà họ phải chịu.
Nhưng Luca và Marcô lại nhấn mạnh đến SỰ ĐAU KHỖ VÀ BẤT HẠNH, THÊM VÀO ĐÓ LÀ NỖI CÔ ĐƠN dường như cô đơn tuyệt đối, nên chỉ có 1 người mù thôi.
TÊN ANH TA LÀ BA-TI-MÊ, CON ÔNG TI-MÊ
Riêng Marcô còn nêu cả tên của người mù nữa, có lẽ đây là lần duy nhất trong Kinh thánh, người bất hạnh được Chúa chữa lành có một cái tên gọi. Anh ta tên là Ba-ti-mê.
Có tên gọi, anh ta còn hạnh phúc hơn ông phú hộ trong câu truyện Phú hộ và Ladarô. Ông Phú hộ giàu có thật đấy, ngày ngày yến tiệc linh đình, nhưng ông không có cái mà ai cũng có, đó là cái tên gọi, như vậy ông vẫn là một người nghèo.
Có lẽ người mù này sẽ là một thành viên trong cộng đoàn Giáo hội sơ khai, nên Marcô biết rất rõ, Marcô còn biết cả tên cha của anh ta nữa, “con ông Ti-mê”.
Người ta thường quan niệm TÊN LÀ NGƯỜI, như vậy, mặc dù người mù đã bị loại ra khỏi nhịp sống xã hội “ngồi ăn xin bên vệ đường”. Nhưng chính vì có tên, nên anh mù này vẫn hiện hữu mặc dù mọi người đã cố gạt anh ra ngoài chẳng thèm quan tâm. Nhưng với Chúa Giêsu, anh vẫn hiện hữu và hôm nay anh đã được gặp Chúa và được Chúa chữa khỏi.
Việc Chúa chữa cho anh mù được sáng mắt đã được Bài đọc I loan báo.
Tiên tri Giêrêmia viết:
“Đây, Ta sẽ dẫn dắt chúng từ đất bắc trở về, sẽ tụ họp chúng lại từ bờ cõi trái đất: trong bọn chúng sẽ có kẻ đui mù, què quặt, mang thai và sinh con đi chung với nhau, hợp thành một cộng đoàn thật đông quy tụ về đây”.
Khi Đấng Thiên sai xuất hiện, Ngài sẽ quy tụ tất cả mọi người, trong đó “có kẻ đui mù, què quặt, mang thai và sinh con đi chung với nhau”.
Như vậy việc Chúa Giêsu chữa cho anh mù này chứng tỏ Ngài là Đấng Thiên Sai, được Chúa Cha sai đến.
Bị mù về thể lý đã đau khổ thế nào thì ai cũng biết. Nhưng có một thứ mù còn tệ hại hơn nữa, đó là bệnh mù thiêng liêng.
Mắt chúng ta vẫn sáng thật đó, nhưng ta lại không thấy bao kẻ bất hạnh chung quanh ta, ta không thấy những hồng ân Chúa ban cho ta trong cuộc đời này.
Vì vậy ngày hôm nay, ta hãy bắt chước anh mù thưa với Chúa rằng:
“”THƯA THẦY, XIN CHO TÔI NHÌN THẤY ĐƯỢC.” (Mc 10, 51).
Xin cho con được sáng mắt, để con được thấy Chúa, để con được thấy người anh em chung quanh con, và để cho con được thấy chính con.
Xin cho con được sáng mắt để nhìn rõ cuộc đời đục trong này, để con có một thái độ sống đúng đắn, chứ đừng bám chặt vào nó mà quên mất Chúa. Xin cho con được sáng mắt, để con được nhìn thấy bao vẻ đẹp thiên nhiên mà ca tụng kỳ công của Chúa.
Mặc dù ta không bị mù, nhưng ta đừng nhắm mắt lại, mà hãy mở mắt ra để nhìn cho rõ.
Với một vài dòng suy niệm ngắn ngủi trên, chúng ta cùng nhau bước vào Bài Tin mừng:
_______________________________________
“KHI ẤY, CHÚA GIÊSU RA KHỎI THÀNH GIÊRICÔ CÙNG VỚI CÁC MÔN ĐỆ VÀ MỘT ĐÁM ĐÔNG, THÌ CON ÔNG TIMÊ TÊN LÀ BARTIMÊ, MỘT NGƯỜI MÙ ĐANG NGỒI ĂN XIN Ở VỆ ĐƯỜNG”.
GIÊRICÔ:
Trong chuyến đi lên Giêrusalem, Chúa Giêsu và các môn đệ đến Giêricô, thành phố cây chà là, cách Giêrusalem 23 km về phía đông bắc, nằm ở 250m dưới mặt biển, tại một ốc đảo trong vùng trũng bên sông Giođan.
Ở đây Đức Giêsu và đoàn người đã không dừng lại Giêricô; cả đoàn đang đi ra khỏi thành thì gặp anh hành khất mù Báctimê. Vị trí của hai bên là hai vị trí không thể gặp nhau: Đức Giêsu và các môn đệ cùng đám đông thì đang di chuyển trên đường; anh mù thì đang ngồi ở vệ đường.
Mc 10,32 ghi: “Đức Giêsu và các môn đệ đang trên đường lên Giêrusalem. Người dẫn đầu các ông. Các ông kinh hoàng, còn những kẻ theo sau cũng sợ hãi”. Nhưng rồi Giêricô cũng chỉ là một chặng trên con đường đó: “Khi ấy, Chúa Giêsu ra khỏi thành Giêricô”
CON ÔNG TIMÊ TÊN LÀ BARTIMÊ
Người hành khất mù ấy tên là Batimê. Chỉ mình Maccô đã ghi lại tên của người này. Rất có thể Batimê thuộc cộng đoàn những người Kitô hữu đầu tiên, lúc Marcô viết trình thuật này. Đó là một người mà người ta biết rõ: Một người đã được Đức Giêsu ban phép lạ.
Bạn có biết Thiên Chúa cũng biết tên bạn, và Người thương yêu bạn với một tình thương cá biệt, không phải là nặc danh sao?
Tên tôi là Tý, là Tèo, là Tâm, là Tự, Chúa biết rất rõ, không hể nhầm lẫn với vười khác
“KHI ANH TA NGHE BIẾT ĐÓ LÀ CHÚA GIÊSU NADARÉT, LIỀN KÊU LÊN RẰNG: “HỠI ÔNG GIÊSU CON VUA ĐAVÍT, XIN THƯƠNG XÓT TÔI”.
Như ta biết người mù có một thính giác rất đặc biệt. Bằng lỗ tai, anh ta đã nhận ra sự hiện diện của Đức Giêsu, người Nagiarét. Ngồi trên mô đất ngoài của thành Giêrikhô, anh ta nghe tiếng ồn ào của một nhóm người đi qua trước mặt mình. Người ta nói cho anh biết rằng, đó là Đức Giêsu.
“Tôi chưa bao giờ thấy Thánh nhan Người nhưng những kẻ biết Người, đã nói với tôi về Người. Từ ngày đó, tôi mong Người đi qua và tôi nghe nói. Hôm nay Người đến.
Chúng ta cũng vậy, chúng ta cũng ở trong tình trạng của người mù trên: ta chưa bao giờ thấy khuôn mặt của Đức Giêsu. Nhờ đức tin, chúng ta đã tin vào chứng tá của những kẻ biết Người và chúng ta cũng ngóng đợi bước chân Người đi ngang qua”, Người “đang đến”. Một ngày nào đó, chúng ta sẽ thấy Người.
“VÀ NHIỀU NGƯỜI MẮNG ANH BẢO IM ĐI, NHƯNG ANH CÀNG KÊU TO HƠN: “HỠI CON VUA ĐAVÍT, XIN THƯƠNG XÓT TÔI”.
Thời nào cũng có người bắt kẻ đáng thương phải im miệng. Đó là những kẻ có tiền và có quyền, họ muốn nạn nhân phải im lặng không được lên tiếng tố cáo.
Nhưng luôn có những người nghèo khó muốn cho kẻ khác hiểu mình: đó là những di dân, những người sống ngoài lề xã hội, những kẻ khuyết tật và những nạn nhân đủ loại. Tiếng kêu của người mù Batimê vẫn còn vang lên.
Bây giờ, đám đông đã trở thành một trở ngại thật đáng kể; nhiều người muốn bắt anh im đi. Trong các Tin Mừng, sáng kiến đi đến với Đức Giêsu không bao giờ phát xuất từ dân chúng hay các môn đệ.
Ở đây, chính sự ngăn cản của họ trở thành một thử thách đức tin cho anh, nhưng anh càng kêu to hơn. Danh Giêsu đã biến khỏi công thức khẩn cầu, chỉ còn lại danh hiệu “con vua Đavít”.
Đám đông can thiệp nhiều lần. Lần đầu tiên, họ cho biết đó là “Đức Giêsu Nadarét”. Báctimê nhận thông tin này bằng thính giác (“đã nghe”): vì mù loà nên xa cách. Nhưng có sự gần gũi: Giêsu người Nadarét là một con người; và hình như anh cũng đã được thông tin về Người rồi. Tuy nhiên, sự gần gũi này cũng chưa giúp gì cho anh. Anh kêu lên (vì xa cách): “Lạy Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!”.
Đáng ngạc nhiên là đám đông chỉ giới thiệu Đức Giêsu như một con người (“người Nadarét”), mà anh này lại kêu cầu Ngài bằng một danh hiệu của Đấng Mêsia (“con vua Đavít”). Dù sao, truyền thống Do-thái chờ đợi Đấng Mêsia nhà Đavít đến giải phóng dân Ít-ra-en và can thiệp để cứu độ, chứ không chờ Người chữa bệnh.
“CHÚA GIÊSU DỪNG LẠI VÀ TRUYỀN GỌI ANH ĐẾN.”.
Chúa Giêsu cắt ngang cuộc tiến bước.
Khi làm như thế, Người tách khỏi những kẻ đang ở với Người trên cùng một con đường, Người phá vỡ một sức năng động mà Người đã phát động và lôi kéo, đám đông đang theo Ngài bởi một một sức hút mãnh liệt và tất cả đã dừng lại.
Chúa Giêsu nhờ người ta dẫn anh mù đến, cũng như Ngài đã sai các “môn đệ” bắt đầu phục vụ những kẻ nhỏ bé. Người nhờ các ông chuyển lời mời gọi của Người. Thiên Chúa cần con người. Vậy Chúa nói với nhân loại nhờ Giáo Hội của Người.
Và Giáo Hội, chính là chúng ta, chúng ta có lắng nghe tiếng kêu luôn vọng lên chung quanh chúng ta không? Chúng ta có dội lại cho người anh em chúng ta tiếng kêu gọi của Chúa hay không? Để dẫn họ đến với Đấng cứu chuộc duy nhất?
NGƯỜI TA GỌI NGƯỜI MÙ VÀ BẢO ANH: “HÃY VỮNG TÂM ĐỨNG DẬY, NGƯỜI GỌI ANH”. ANH TA LIỆNG ÁO CHOÀNG, ĐỨNG DẬY, ĐẾN CÙNG CHÚA GIÊSU”
ANH TA LIỆNG ÁO CHOÀNG, ĐỨNG DẬY, ĐẾN CÙNG CHÚA GIÊSU.
+Tấm áo choàng ở đây có thể là tấm vải dùng như áo choàng mà một người nghèo có thể dùng làm mền đắp, còn anh mù có thể trải ra trước mặt mà nhận các món bố thí (những người hành khất Đông phương thường làm như thế).
Hành vi “LIỆNG ÁO” có thể là cách diễn tả một sự hứng khởi tột độ; nhưng dựa theo ý nghĩa của động từ ấy, có thể nói hầu chắc là anh mù làm một hành vi từ bỏ dứt khoát.
Ý nghĩa chính của động từ này là “vất đi, quẳng ra sau (với sức mạnh)” và “bỏ lại bằng cách quăng ra” hoặc “đánh mất”.Anh mù đã làm một động tác dứt khoát, nhằm bỏ cái áo đi.
Hành vi này chứng tỏ sự liều lĩnh của anh mù, nhưng cũng cho thấy anh hết sức tin tưởng vào sự trợ giúp của Đức Giêsu và không muốn để cho ngay cả một vật cần thiết cho cuộc sống gây cản trở cho mình. Cũng có thể coi động tác ấy có ý nghĩa biểu tượng là từ bỏ chính mình, cắt đứt với quá khứ.
“BẤY GIỜ CHÚA GIÊSU BẢO RẰNG: “ANH MUỐN TA LÀM GÌ CHO ANH?”
Đức Giêsu lưu tâm đến cá nhân anh mù. Người đã cho gọi anh đến như cho vào một cuộc tiếp kiến; bây giờ Người hỏi về điều anh muốn.
Chắc hẳn, Đức Giêsu biết rõ người mù đang mong đợi điều gì nơi Người. Nhưng Chúa Giêsu vẫn phải hỏi để anh tự mình nói ra Đó cũng là một phần trong Nghi thức Rửa tội: Người dự tòng cần phải được “soi sáng” để tự mình “tuyên xưng Đức tin”. Nếu còn quá nhỏ thì cha mẹ hay người đỡ đầu sẽ nói thay.
NGƯỜI MÙ THƯA: “LẠY THẦY, XIN CHO TÔI ĐƯỢC THẤY”.
Vào thời Marcô, người ta gọi phép Rửa là “việc khai sáng”. Đó là bí tích mở mắt. Lạy Chúa, xin cho con được thấy: Lạy Chúa, xin mở mắt con ra.
Phản ứng của anh mù rất rõ ràng và quyết liệt qua sự diễn tả của Marcô: Khi được biết Chúa Giêsu cho gọi anh, “anh mù liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giêsu.” Anh không muốn bất cứ sự gì ngăn cản anh trong việc đến với Chúa. Khi nghe Chúa Giêsu hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Anh mù đáp không chút do dự: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được.”
“LạY THẦY, XIN CHO TÔI ĐƯỢC THẤY”.
.
Ðây có phải là tiếng kêu của chúng ta không? Khả năng thấy là một khả năng mỏng dòn. Ta có thể thấy điều này mà không thấy điều kia. Ta có thể lúc thấy lúc không, hay cố ý không muốn thấy.
Lắm khi tôi không đủ sức để ra khỏi sự mù lòa của mình. Tôi có kêu gào với Chúa để xin được ơn thấy lại không? Một người mù chữ, dù đã được xóa mù, vẫn có thể mù lại vì những cuộc cải cách chữ viết vớ vẩn.
Chính vì thế tôi cứ phải xin cho mình được thấy luôn. Thấy mình bé nhỏ, thấy Chúa bao la, thấy anh em dễ mến. Thấy là đi vào một con đường dài hun hút. Chúng ta phải được Chúa xóa mù suốt đời. Chỉ trong ánh sáng của Chúa, tôi mới nhìn thấy ánh sáng.
“CHÚA GIÊSU ĐÁP: “ĐƯỢC, ĐỨC TIN CỦA ANH ĐÃ CHỮA ANH”. TỨC THÌ ANH TA THẤY ĐƯỢC VÀ ĐI THEO NGƯỜI.
Phép Rửa đó là bước vượt qua từ bóng tối tới ánh sáng. Đó là công cuộc cứu độ: điều không thể đối với con người, nếu chỉ dựa vào sức riêng của mình, nay đã trở nên có thể và đó là bắt đầu theo Đức Giêsu.
Luca sẽ nói về các môn đệ làng Emmau: “Lúc bấy giờ mắt họ mở ra”. Vâng, họ đã mù, dù là với đôi mắt vẫn mở rộng. Về phần anh Batimê, anh sẽ nhớ mãi “khuôn mặt đầu tiên” mà anh đã thấy, khi mắt anh đã được mở ra. Lạy Chúa, khi nào mắt chúng con sẽ được mở ra. Lạy Đức Giêsu, xin hãy đến!
Amen.
__________________________________
Giuse Nguyễn Viết Tâm.

