DỤ NGÔN CON CHIÊN LẠC – DỤ NGÔN ĐỒNG BẠC BỊ MẤT
“TRÊN TRỜI SẼ VUI MỪNG VÌ MỘT NGƯỜI TỘI LỖI HỐI CẢI”.
BÀI ĐỌC I: Pl 3, 3-8
“Những điều xưa kia được kể là lợi ích cho tôi, thì nay tôi coi là bất lợi vì Đức Kitô”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Philipphê.
Anh em thân mến, chính chúng ta là những người chịu cắt bì, chúng ta phụng thờ Thiên Chúa theo thần trí, và khoe mình trong Đức Giêsu Kitô, chứ không tin tưởng vào xác thịt, mặc dầu chính tôi cũng có thể ỷ lại vào xác thịt. Nếu có ai khác nghĩ mình có lý để ỷ lại vào xác thịt, thì tôi còn có lý hơn: tôi đã chịu cắt bì từ ngày thứ tám, là người chủng tộc Israel, thuộc chi họ Bengiamin, là người Do-thái sinh bởi người Do-thái, là người biệt phái chiếu theo lề luật. Bởi lòng đạo đức nhiệt thành, tôi đã bách hại Hội Thánh Thiên Chúa, chiếu theo đức công chính do lề luật công bố, tôi được coi là người không có gì đáng trách.
Nhưng những điều xưa kia được kể là ích lợi cho tôi, thì nay vì Đức Kitô tôi coi là bất lợi. Vả lại tôi coi tất cả mọi sự như thua thiệt trước cái lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu Kitô, Chúa tôi. Vì Ngài, tôi đành thua lỗ mọi sự, và coi là phân bón cả, để lợi được Đức Kitô.
Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 104, 2-3. 4-5. 6-7
A+B=Tâm hồn những ai tìm Chúa, hãy mừng vui (c. 3b).
A=Hãy ca tụng Chúa, hãy hoan hô danh Người, hãy kể ra sự nghiệp Chúa ở giữa chư dân. Hãy xướng ca, đàn hát mừng Người, hãy tường thuật mọi điều kỳ diệu của Chúa. – Đáp.
B=Hãy coi trọng Chúa và quyền năng của Chúa, hãy tìm kiếm thiên nhan Chúa luôn luôn. Hãy nhớ lại những điều kỳ diệu Chúa đã làm, những phép lạ và những điều Ngài phán quyết. – Đáp.
A=Hỡi miêu duệ Abraham là tôi tớ của Người, hỡi con cháu Giacóp, những kẻ được Người kén chọn, chính Chúa là Thiên Chúa chúng ta, quyền cai trị của Người bao trùm khắp cả địa cầu. – Đáp.
ALLELUIA: 2 Cr 5, 19
-Thiên Chúa ở trong Đức Kitô đã giải hoà thế gian, để chúng ta nghe lời của Con Chúa. – Alleluia.
PHÚC ÂM: Lc 15, 1-10
“Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, những người thâu thuế và những người tội lỗi đến gần Chúa Giêsu để nghe Người giảng. Thấy vậy, những người Biệt phái và Luật sĩ lẩm bẩm rằng: “Ông này đón tiếp những kẻ tội lỗi, cùng ngồi ăn uống với chúng”. Bấy giờ Người phán bảo họ dụ ngôn này: “Ai trong các ông có một trăm con chiên, và nếu mất một con, lại không để chín mươi chín con khác trong hoang địa mà đi tìm con chiên lạc, cho đến khi tìm được sao? Và khi đã tìm thấy, người đó vui mừng vác chiên trên vai, trở về nhà, kêu bạn hữu và những người lân cận mà nói rằng: ‘Anh em hãy chia vui với tôi, vì tôi đã tìm thấy con chiên lạc!’ Cũng vậy tôi bảo các ông: Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần hối cải.
“Hay là người đàn bà nào có mười đồng bạc, nếu mất một đồng, mà lại không đốt đèn, quét nhà và tìm kỹ lưỡng cho đến khi tìm thấy sao? Và khi đã tìm thấy, bà mời các chị em bạn và những người láng giềng đến mà rằng: ‘Chị em hãy vui mừng với tôi, vì tôi đã tìm được đồng bạc tôi đã mất’. Cũng vậy, tôi bảo các ông: Các thiên thần của Thiên Chúa sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải”.
Đó là lời Chúa.
__________________________________
I/. VÀI NÉT VỀ THÁNH ĐAMINH ĐINH ĐỨC MẬU, Linh mục, Tử Đạo
THÁNH ĐAMINH ĐINH ĐỨC MẬU (1794-1858)
Ðaminh Đinh Đức Mậu, Sinh năm 1794 tại Phú Nhai, Bùi Chu, Linh mục Dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 5 tháng 11 năm 1858 tại Hưng Yên dưới đời vua Tự Ðức, Đức Piô XII suy tôn cha Đaminh Đinh Đức Mậu, linh mục dòng Giảng Thuyết lên bậc Chân Phước ngày 29.04.1951. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh. Lễ kính vào ngày 5/11.
“Khi cha Đinh Đức Mậu bị điệu đến nơi xử, tôi thấy cha hết sức bình tĩnh, hai tay chắp lại như khi dâng lễ”.
Lời chứng của bà Maria Di có lẽ cũng nói lên được tâm tình của thánh Đaminh Đinh Đức Mậu trong ngày tử đạo. 30 năm linh mục, với bao nhiêu thánh lễ trên bàn thờ, chắc chắn giờ dây cha cũng hân hoan khi được hiến dâng chính mạng sống mình như Đức Giêsu xưa trên đồi Golgotha. Tại bờ sông Hưng Yên hôm ấy, giữa tiếng quát tháo ồn ào của quân lính và dân chúng, ngài đã quỳ đó thinh lặng, ngây ngất cầu nguyện và nghiêng mình lãnh nhận nhát gươm hồng phúc.
Năm 1794, làng Phú Nhai, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định, quê hương của thánh Tôma Dụ và Đaminh Đạt, đã được vinh dự chào đón ngày sinh của bé Đaminh Đinh Đức Mậu, vị tử đạo tương lai. Lớn lên cậu xin phép cha mẹ, ông bà Đaminh và Maria Mỹ, dâng mình cho Chúa và chung sống với những bạn đồng chí hướng. Như hạt giống tốt được ươm vào mảnh đất phì nhiêu, nơi đây cậu Mậu được học chữ nghĩa và tập tành các nhân đức. Càng thêm tuổi, cậu càng thêm khôn ngoan và đạo đức, càng được mọi người mến thương.
Tiếp đó, cậu nhận thấy Chúa muốn cho mình tiến xa hơn, nên cậu xin vào chủng viện và kiên trì học tập cho đến ngày thụ phong linh mục. Năm 1829, cùng với 10 linh mục khác trong giáo phận, cha Mậu xin vào dòng Đaminh để có thể kết hiệp mật thiết hơn với Chúa, và gắn bó với nhau trong sứ mạng rao giảng Tin Mừng. Năm sau, cả 11 vị khấn dòng. Lớp tập của cha sau này tử đạo bảy vị, sáu vị kia đều thuộc danh sách các Đấng đáng kính chờ được phong lên bậc Chân Phước.
Trải qua những ngày gian khổ dưới cuộc bách hại của vua Minh Mạng, rồi những ngày bình an hơn dưới thời vua Thiệu trị, cho đến mười năm đầy khó khăn, thời vua Tự Đức, cha luôn tỏ ra là một người tận tụy với đoàn chiên, không quản ngại vất vả, không lùi bước trước khó khăn, đem hết tâm trí sức lực mưu ích cho các linh hồn. Cha đảm nhiệm nhiều giáo xứ, nhưng bất cứ nơi nào cần, cha sẵn sàng đến, coi thường mọi hiểm nguy.
Ngày 27.08.1858, quan quân đến vây làng Kẻ Diền và bắt được cha Mậu, những người phục vụ trong nhà xứ và một số giáo dân khác, giải về Hưng Yên. Hơn hai tháng bị giam trong ngục, dầu phải mang gông xiềng và chịu tra tấn nhiều lần, cha vẫn cương quyết tuyên xưng niềm tin vào Thiên Chúa. Ngược lại, cha biến nhà giam thành một nơi hoạt động mới. Tại đây, cha gặp gỡ và khích lệ các giáo hữu cùng bị giam chấp nhận mọi khổ đau vì niềm tin. Tại đây, cha giúp nhiều tội nhân hoán cải đời sống. Đặc biệt, một số phụ nữ đạo đức tìm cách đưa giáo hữu ở ngoài vào thăm để được xưng tội với cha.
Mặc dù phải ra tòa nhiều lần, nhưng cha luôn giữ trong mình chuỗi tràng hạt Mân Côi. Cha cố dành ra những giờ rảnh rỗi để cầu nguyện và suy niệm về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Đối với mọi người, cha luôn cư xử cách nhân ái, yêu thương săn sóc, nên ai cũng quý mến cha. Bà Anna Ngoan, một người vẫn thường xuyên vào thăm cha trong tù, khẳng định rằng: “Các lính canh cũng kính nể và khâm phục cha”.
Khi thấy không thể làm cho vị chiến sĩ đức tin bỏ đạo, quan tỉnh Nam Định làm án trảm quyết cho cha và 21 giáo hữu khác. Khi biết tin này, cha Mậu tỏ ra hân hoan, giứp đỡ các giáo hữu xưng tội và chuẩn bị đón nhận hồng phúc tử đạo.
Ngày 05.11.1858, trên đường ra pháp trường, mọi người đi dự đều có cảm tưởng cha đang nghiêm trang cử hành thánh lễ. Ngước mắt lên trời, đôi khi tay chắp lại, cha dẫn đầu đoàn người tử đạo. Khi đến nơi xử, bên bờ sông Hưng Yên, cha quỳ gối xuống, tiếp tục cầu nguyện ít lâu, rồi đưa cổ cho lý hình chém. Thi thể cha được mai táng trọng thể tại nhà thờ xứ Mai Linh, tỉnh Nam Định.
Đức Piô XII suy tôn cha Đaminh Đinh Đức Mậu, linh mục dòng Giảng Thuyết lên bậc Chân Phước ngày 29.04.1951. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.
(Nguồn: Giáo phận Hưng Hóa).
_________________________________________
II/. BÀI SUY NIỆM (Lc 15, 1-10)
“TRÊN TRỜI SẼ VUI MỪNG VÌ MỘT NGƯỜI TỘI LỖI HỐI CẢI”.
Hôm nay thứ Năm tuần XXXI Thường niên, Phụng vụ đưa chúng ta bước vào Chương 15, Phúc âm Luca.
Có lẽ ai cũng nhận thấy Chương 15 là áng văn đẹp nhất không những trong Phúc âm Luca mà nó còn đẹp nhất trong Kinh thánh, vì nó diễn tả 3 DỤ NGÔN VỀ LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA. Ba dụ ngôn đó là:
+ Dụ ngôn Con chiên bị mất (Lc 15, 4 – 7)
+ Dụ ngôn Đồng bạc bị mất (Lc 15, 8 – 10).
+ Dụ ngôn Người cha nhân hậu (Lc 15, 11 – 32).
Cả 3 dụ ngôn đều diễn tả chủ đề MẤT – NIỀM VUI TÌM THẤY trong Phúc âm Luca.
Ba dụ ngôn có một thứ tự đặc biệt mà ta phải chú ý:
+ XÉT VỀ CHẤT: Đầu tiên là con vật bị mất, sau đó là đồng tiền, và cuối cùng là một người con, có nghĩa giá trị tìm được càng lúc càng có giá trị to lớn, khởi đầu là vật vô tri vô giác (con vật, đồng tiền) đích đến cuối cùng là con người. Đó là nói về chất.
+ XÉT VỀ LƯỢNG: Ban đầu 1 trong 100 con chiên bị mất (1/100) – Tiếp đến 1 đồng tiền trong 10 đồng tiền bị mất (1/10) – Cuối cùng là một người con trong hai người con (1/2).
Như vậy xét về lượng, thì giá trị tìm thấy càng lúc càng to lớn. (1/100) – (1/10) – (1/2)
Bài Tin mừng hôm nay, Phụng vụ cho chúng ta nghe 2 dụ ngôn đầu tiên.
Cả 2 dụ ngôn đều kết kết thúc bằng NIỀM VUI TO LỚN TÌM THẤY:
+ Dụ ngôn Con chiên bị mất:
Chúa phán:
“TRÊN TRỜI SẼ VUI MỪNG VÌ MỘT NGƯỜI TỘI LỖI HỐI CẢI HƠN LÀ VÌ CHÍN MƯƠI CHÍN NGƯỜI CÔNG CHÍNH KHÔNG CẦN HỐI CẢI”
Niềm vui đó không những chỉ ở dưới đất dành cho mục tử tìm thấy chiên, mà đó còn là NIỀM VUI TRÊN TRỜI.
Độc giả có thể đặt câu hỏi: Không lẽ 99 NGƯỜI CÔNG CHÍNH KIA KHÔNG LÀ NIỀM VUI SAO ?
Có chứ ! 99 người công chính kia cũng là niềm vui trên thiên đàng. Nhưng Luca nhấn mạnh đến cụm từ “KHÔNG CẦN HỐI CẢI”.
Niềm vui vì 99 người này làm sao có thể so sánh với niềm vui “MỘT NGƯỜI TỘI LỖI HỐI CẢI.
Niềm vui vì 99 người kia là niềm vui đơn điệu, tẻ nhạt, nó như một bản nhạc ru ngủ mà không có chút gì BÙNG NỖ.
Trong khi niềm vui vì MỘT NGƯỜI TỘI LỖI HỐI CẢI MỚI LÀ NIỀM VUI BÙNG NỔ THẬT SỰ, làm cho cả triều thần phải náo động.
Như vậy, cái yếu tố HỐI CẢI, NÓ MỚI LÀM NÊN MỘT NIỀM VUI TRỌN VẸN.
+ Trong dụ ngôn đồng bạc bị mất, nó cũng được kết thúc bằng câu:
“CÁC THIÊN THẦN CỦA THIÊN CHÚA SẼ VUI MỪNG VÌ MỘT NGƯỜI TỖI LỖI HỐI CẢI”.
Dụ ngôn cũng diễn tả niềm vui của đồng bạc được tìm thấy. Người đàn bà vẫn còn 9 đồng trong túi, nhưng nó không ngăn được bà vui mừng vì tìm thấy đồng bạc bị mất.
Làm sao đồng bạc tìm thấy có giá trị hơn 9 đồng kia, nhưng nó đã đem lại cho bà niềm vui khôn tả, không phải vì giá trị của đồng tiền mà ở chỗ NÓ BỊ MẤT NHƯNG ĐƯỢC TÌM THẤY.
Trong dụ ngôn thứ hai, Chúa không nói: TRÊN TRỜI VUI MỪNG như dụ ngôn đầu, mà ở đây, Luca sử dụng cụm từ “CÁC THIÊN THẦN CỦA THIÊN CHÚA, nó có tính cách cụ thể và rõ ràng hơn. Còn “Trên trời vui mừng”, nó diễn tả cái gì đó chung chung.
Ở đây ta lại thấy cái lý do làm nên niềm vui, đó là SỰ HỐI CẢI.
Chắc chắn cả triều thần trên trời và các Thiên thần đều rất vui mừng cùng với Chúa Giêsu.
Ta có thể nói rằng: Tội lỗi đối với Chúa không là vấn đề, Chúa không hề bận tâm đến tội lỗi của con người, vì không có tội lỗi nào có thể ngăn cản được Lòng thương xót của Ngài.
Chúa chỉ cần con người biết tỏ lòng ăn năn sám hối. Chính sự SÁM HỐI mới làm cho ta trở thành con người mới với một quả tim và lòng nhiệt thành mới.
Thánh vịnh 51 đã diễn tả rất hay về lòng SÁM HỐI:
Lạy Chúa Trời, xin mở miệng con,
cho con cất tiếng ngợi khen Ngài.
Chúa chẳng ưa thích gì tế phẩm,
con có thượng tiến lễ toàn thiêu,
Ngài cũng không chấp nhận.
Lạy Thiên Chúa, tế phẩm dâng Ngài là tâm thần tan nát,
một tấm lòng tan nát giày vò, Ngài sẽ chẳng khinh chê.
Xin rộng lòng tuôn đổ hồng phúc xuống Xi-on,
thành luỹ Giê-ru-sa-lem, xin Ngài xây dựng lại.
Bấy giờ Ngài vui nhận tế phẩm luật truyền,
lễ vật toàn thiêu, lễ vật hiến tế.
Bấy giờ thiên hạ giết bò tơ dâng trên bàn thờ Chúa.
Thiên Chúa không thích gì của lễ toàn thiêu, của lễ đền tội, nhưng Ngài ưa thích tấm lòng tan nát khiêm cung.
Khi đọc bài Tin mừng hôm nay, chúng ta không thể bỏ qua phần nhập đề chung cho cả 3 dụ ngôn, và đây chính là động lực và nguyên nhân để Chúa đưa ra 3 dụ ngôn đặc sắc. Luca viết:
“KHI ẤY, NHỮNG NGƯỜI THÂU THUẾ VÀ NHỮNG NGƯỜI TỘI LỖI ĐẾN GẦN CHÚA GIÊSU ĐỂ NGHE NGƯỜI GIẢNG. THẤY VẬY, NHỮNG NGƯỜI BIỆT PHÁI VÀ LUẬT SĨ LẨM BẨM RẰNG: “ÔNG NÀY ĐÓN TIẾP NHỮNG KẺ TỘI LỖI, CÙNG NGỒI ĂN UỐNG VỚI CHÚNG”. BẤY GIỜ NGƯỜI PHÁN BẢO HỌ DỤ NGÔN NÀY.
“ÔNG NÀY ĐÓN TIẾP NHỮNG KẺ TỘI LỖI, CÙNG NGỒI ĂN UỐNG VỚI CHÚNG”.
Chúng ta hãy nhìn ngắm cách Đức Giê-su đón tiếp những người tội lỗi, những người yếu kém, những người nhỏ bé : họ đến để lắng nghe Ngài ; và Ngài không chỉ đón tiếp họ, nhưng còn dùng bữa với họ.
Đón tiếp và dùng bữa với ai, đó chính là làm bạn, thậm chí trở nên một với người đó. Chúng ta hãy hình dung ra khung cảnh Đức Giê-su ở giữa những người tội lỗi, bởi vì hình ảnh này rất đánh động và an ủi đối với chúng ta.
Thái độ của người Biệt phái và Luật sĩ luôn tỏ ra khinh miệt với người tội lỗi và xa lánh họ. Không những họ khinh bỉ người tội lỗi mà còn cười nhạo cả Đức Giêsu vì Ngài thích gần gũi với những con người tội lỗi và đưa họ trở về. Vì thế Chúa đã ban cho họ 3 dụ ngôn để nói cho họ biết rằng:
““TRÊN TRỜI SẼ VUI MỪNG VÌ MỘT NGƯỜI TỘI LỖI HỐI CẢI HƠN LÀ VÌ CHÍN MƯƠI CHÍN NGƯỜI CÔNG CHÍNH KHÔNG CẦN HỐI CẢI”
Khi người Biệt phái và Luật sĩ khinh chê người tội lỗi và họ tự cho mình là công chính, thì họ đang đóng vai trò là NGƯỜI CÔNG CHÍNH KHÔNG CẦN HỐI CẢI. Họ tự tách ra ngoài lòng thương xót Chúa, họ sẽ bị loại ra ngoài cả 3 dụ ngôn này.
Với một vài suy niệm ngắn ngủi trên, chúng ta cùng nhau bước vào Bài Tin mừng:
_______________________________________
III/. BÀI CHIA SẺ (Lc 15, 1-10)
“KHI ẤY, NHỮNG NGƯỜI THÂU THUẾ VÀ NHỮNG NGƯỜI TỘI LỖI ĐẾN GẦN CHÚA GIÊSU ĐỂ NGHE NGƯỜI GIẢNG. THẤY VẬY, NHỮNG NGƯỜI BIỆT PHÁI VÀ LUẬT SĨ LẨM BẨM RẰNG: “ÔNG NÀY ĐÓN TIẾP NHỮNG KẺ TỘI LỖI, CÙNG NGỒI ĂN UỐNG VỚI CHÚNG”.
Đây là phần nhập đề chung cho cả 3 dụ ngôn.
Bối cảnh của Bài Tin Mừng hôm nay Thánh Luca ghi lại, Những thính giả đến với Chúa nghe giảng không chỉ là người dân bình thường mà còn có cả những người tội lỗi, Biệt phái, Luật sĩ. Điều đó cho thấy tất cả đều là đối tượng của lòng thương xót Chúa.
Nhưng thái độ đón nhận của mỗi hạng người lại không giống nhau.
+ NGƯỜI THÂU THUẾ VÀ NHỮNG NGƯỜI TỘI LỖI ĐẾN GẦN CHÚA GIÊSU.
Người đến gần Chúa để nghe giảng không phải là người công chính như Biệt phái và Luật mà là những kẻ tội lỗi: Người thâu thuế, người tội lỗi, có lẽ có cả các cô gái điếm nữa mà Luca không kể ra.
Họ đang rất cần nghe những lời giảng về Tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa, đó là phương thuốc cứu rỗi khi họ đang chìm ngập trong vũng bùn tội lỗi, lòng họ day dứt khôn nguôi và muốn làm lại từ đầu, vì thế họ mới đến gần Chúa Giêsu để nghe cho rõ..
+ “NGƯỜI BIỆT PHÁI VÀ LUẬT SĨ LẨM BẨM RẰNG”
Còn những người tự cho mình là công chính như Biệt Phái và Luật sĩ, họ lại ở đàng xa, có lẽ họ không cần nghe vì họ đã công chính rồi, nghe làm gì nữa.
Luca nói: “ HỌ LẨM BẨM”
Không những không muốn nghe lại còn lẩm bẩm với nhau. Lẩm bẩm, đó là thái độ khinh miệt.
Họ lẩm bẩm về tư cách của Chúa Giêsu, Luca viết: “ÔNG NÀY ĐÓN TIẾP NHỮNG KẺ TỘI LỖI, CÙNG NGỒI ĂN UỐNG VỚI CHÚNG”. Vậy có khác gì họ nói Chúa Giêsu không có tư cách của Đấng Mêsia, Đấng Cứu thế.
“ÔNG NÀY ĐÓN TIẾP NHỮNG KẺ TỘI LỖI, CÙNG NGỒI ĂN UỐNG VỚI CHÚNG”
Chúng ta không thể phủ nhận những người biệt phái là những người giữ luật chặt chẽ. Trong mắt nhiều người, họ là những người đạo đức thánh thiện. Trong thâm tâm, họ cũng nghĩ mình như thế. Đúng ra, người đạo đức phải ngày càng yêu mến Chúa, yêu thương tha nhân, nhất là những người bé mọn, yếu kém và tội lỗi.
Tuy nhiên, họ lại rơi vào thái độ tự mãn: tự mãn với Chúa và tự mãn với tha nhân.
Với Chúa, họ kể công lao của mình. Còn với tha nhân, họ lại xa lánh và tỏ ra khinh khi, nhất là những người mà họ cho là tội lỗi như thu thuế và các cô gái điếm. Anh biệt phái cầu nguyện trong đền thờ là tiêu biểu cho thái độ này (Lc 18,9-14).
Chúa Giêsu đã dùng 3 dụ ngôn để trả lời cho họ. Tất cả những dụ ngôn này đều đề cao hình ảnh một Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Ngài xót xa khi một người lầm đường rơi vào tội lỗi. Do đó Ngài tha thiết tìm cứu người tội lỗi. Khi cứu được một người tội lỗi, Ngài rất vui mừng.
A/. DỤ NGÔN 1: CON CHIÊN LẠC:
“BẤY GIỜ NGƯỜI PHÁN BẢO HỌ DỤ NGÔN NÀY”.
Chúa Giêsu muốn dùng dụ ngôn này để đánh thẳng vào thái độ tự hào vô lối và khinh miệt kẻ tội lỗi của đám người tự cho mình là công chính, đó là Luật sĩ và Biệt phái.
“AI TRONG CÁC ÔNG CÓ MỘT TRĂM CON CHIÊN, VÀ NẾU MẤT MỘT CON, LẠI KHÔNG ĐỂ CHÍN MƯƠI CHÍN CON KHÁC TRONG HOANG ĐỊA MÀ ĐI TÌM CON CHIÊN LẠC, CHO ĐẾN KHI TÌM ĐƯỢC SAO?”
Chúa Giêsu đặt một câu hỏi cho Biệt phái và Luật sĩ. Giả sử họ có 100 con chiên, nếu một con bị mất, họ không đi tìm sao?
Cho dù con chiên đó chẳng đáng gì so với 99 con còn lại, nhưng họ vẫn sẵn sàng bỏ lại 99 con trong hoang địa để đi tìm con chiên lạc đó.
Suy nghĩ của Thiên Chúa luôn đi ngược với suy nghĩ của con người.
Tại sao lại để 99 con còn lại trong hoang địa để đi tìm con chiên lạc. Liệu rằng 99 con kia có bị nguy hiểm không, không chừng chúng còn bị thú dữ ăn thịt nữa. Như vậy liệu việc đi tìm con chiên lạc có liều lĩnh lắm không?
Nhưng Chúa Giêsu nói dụ ngôn này có vẻ như thách thức họ. Con chiên bị lạc kia dù sao cũng là của họ, họ không thể bình chân như vại được, mà phải đi tìm.
“VÀ KHI ĐÃ TÌM THẤY, NGƯỜI ĐÓ VUI MỪNG VÁC CHIÊN TRÊN VAI, TRỞ VỀ NHÀ, KÊU BẠN HỮU VÀ NHỮNG NGƯỜI LÂN CẬN MÀ NÓI RẰNG: ‘ANH EM HÃY CHIA VUI VỚI TÔI, VÌ TÔI ĐÃ TÌM THẤY CON CHIÊN LẠC!”.
“VUI MỪNG VÁC CHIÊN TRÊN VAI”
Chúa Giêsu mô tả tâm trạng của mục tử tìm thấy chiên qua những cụm từ: “VUI MỪNG VÁC CHIÊN TRÊN VAI”.
Vui mừng là chuyện đương nhiên, nhưng hành động “vác trên trên vai” nó diễn tả một sự âu yếm vỗ về, ông không để nó tự nhiên đi về nhà, sợ nó đi lạc nữa, mà vác đi cho nhanh hơn.
Sau đó là tổ chức tiệc mừng.
‘ANH EM HÃY CHIA VUI VỚI TÔI, VÌ TÔI ĐÃ TÌM THẤY CON CHIÊN LẠC!
Con chiên đi lạc là vì lỗi của nó, nó không chịu nghe theo chủ; nhưng ông chủ chẳng những không xét lỗi, mà còn đi tìm cho kỳ được. Ông đi tìm vì nó là của ông, cho dẫu vẫn còn 99 chiên khác.
Đức Kitô cũng thế, Ngài đến là để tìm kiếm chiên lạc và đem về cùng một đàn; để chỉ có một đàn chiên theo một Chúa Chiên. Người tội lỗi cũng là con của Thiên Chúa; linh hồn của họ quí giá trước mặt Thiên Chúa, vì Người đã dựng nên họ và máu của Con Ngài đã đổ ra để cứu chuộc họ.
“CŨNG VẬY TÔI BẢO CÁC ÔNG: TRÊN TRỜI SẼ VUI MỪNG VÌ MỘT NGƯỜI TỘI LỖI HỐI CẢI HƠN LÀ VÌ CHÍN MƯƠI CHÍN NGƯỜI CÔNG CHÍNH KHÔNG CẦN HỐI CẢI”
Kết thúc dụ ngôn, Chúa Giêsu hướng thính giả của Ngài đến một thực tại cao siêu hơn “TRÊN TRỜI”.
Nếu mục tử vui mừng vì đã tìm thấy chiên lạc, thì trên trời cả triều thần còn vui mừng hơn nữa.
Vui mừng vì con số 1, một người tội lỗi biết hối cải, chứ không vui mừng vì con số 99, đó là những người tự cho mình là công chính, không cần hối cải.
Như vậy, theo suy nghĩ của con người thì 99>1 (99 lớn hơn 1). Nhưng đối với Thiên Chúa: 1>99 (1 lớn hơn 99). Quy luật toán học đã bị đổ vỡ. Nó bị đổ vỡ vì chính sự HỐI CẢI. Như vậy chính do hối cải mà một người tội lỗi còn quý giá hơn 99 người công chính không cần hối cải.
B/. DỤ NGÔN 2: ĐỒNG TIỀN BỊ MẤT:
“Hay là người đàn bà nào có mười đồng bạc, nếu mất một đồng, mà lại không đốt đèn, quét nhà và tìm kỹ lưỡng cho đến khi tìm thấy sao? Và khi đã tìm thấy, bà mời các chị em bạn và những người láng giềng đến mà rằng: ‘Chị em hãy vui mừng với tôi, vì tôi đã tìm được đồng bạc tôi đã mất’. Cũng vậy, tôi bảo các ông: Các thiên thần của Thiên Chúa sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải”.
Dụ ngôn thứ hai cũng một ý với dụ ngôn trên nên không cần phân tích, ta chỉ để ý một số điểm”
‘CHỊ EM HÃY VUI MỪNG VỚI TÔI, VÌ TÔI ĐÃ TÌM ĐƯỢC ĐỒNG BẠC TÔI ĐÃ MẤT”
Đồng tiền bị mất là vì chẳng may, cũng như bao con người sa ngã vì hoàn cảnh chẳng may đưa tới. Người phụ nữ thắp đèn, quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được vì nó là của bà, cho dẫu bà vẫn còn 9 đồng tiền khác. Khi tìm thấy Bà mở tiệc ăn mừng!
Việc người đàn bà tổ chức tiệc ăn mừng thật hoang phí, vì bà tìm được 1 đồng trong khi phải bỏ ra 9 đồng để đãi tiệc vì 1 đồng tiền đã tìm thấy. Như vậy quá lỗ.
Vấn đề ở đây không phải lời hay lỗ mà là NIỀM VUI.
“Cũng vậy, tôi bảo các ông: CÁC THIÊN THẦN CỦA THIÊN CHÚA SẼ VUI MỪNG VÌ MỘT NGƯỜI TỘI LỖI HỐI CẢI”.
Ở đây không phải là những con số mà là lòng nhân từ của Thiên Chúa. Con người chỉ nhìn theo con số để tính hơn thiệt, nhưng Thiên Chúa lại nhìn vào tận đáy lòng con người tội lỗi biết ăn năn hối cải.
Ngài nhấn mạnh: “Các thiên thần của Thiên Chúa sẽ vui mừng vì MỘT người tội lỗi hối cải”. Chỉ cần một người tội lỗi biết ăn năn sám hối và trở lại, đủ để cho các tầng trời vui mừng rồi.
Cả 2 dụ ngôn đều kết thúc bằng câu kết luận của Chúa Giêsu: “Cũng thế, tôi nói cho các ông hay: giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn.”
HOÁN CẢI – SỰ THA THỨ:
Trọng tâm của đoạn Tin Mừng hôm nay nêu bật khía cạnh sâu xa nhất của tình yêu đó là sự tha thứ, một sự tha thứ được gói trọn trong tình yêu khoan dung vì tình yêu này không đóng khung kẻ mình yêu trong những ngục tù của lỗi lầm, của quá khứ.
Trong cách hành xử của Chúa Giêsu, chúng ta thấy Ngài sẵn sàng tha thứ để biểu lộ một tình yêu chân thành qua việc Ngài tiếp xúc với những người thu thuế, làm bạn với những người bị xã hội thời bấy giờ gán cho là kẻ tội lỗi. Ngài không ngăn cấm họ năng lui tới nghe Ngài giảng dạy, hơn nữa Ngài còn cùng ăn uống đồng bàn với họ.
Chúa Giêsu qua 2 dụ ngôn này đã diễn tả rất sống động tình yêu Thiên Chúa, một vị Thiên Chúa sẵn sàng ra đi tìm kiếm những đứa con lạc loài, muốn lìa bỏ Ngài. Và khi tìm được rồi, Ngài lại vui mừng như người mục tử tìm được chiên lạc vác lên vai đem về mời gọi mọi người chia sẻ niềm vui.
Thiên Chúa luôn là người đi bước trước, Ngài chủ động tìm kiếm người tội lỗi., chứ không chờ đợi họ trở về.
Khác hẳn với Dụ ngôn Người Cha nhân hậu là dụ ngôn thứ ba: Người tội lỗi chủ động trở về với Chúa. Nhưng Người Cha hằng mong ngóng con trở về.
Nhưng cả 3 dụ ngôn đều diễn tả một tình yêu sâu thẳm của Thiên Chúa.
Chính tình yêu đó, Thiên Chúa đi tìm người tội lỗi. Và cũng Tình yêu đó là động lực để cho người tôi lỗi đủ cản đảm để trở về.
Như vậy Chính Tình yêu Thiên Chúa là động lực mãnh liệt để cả 2 phía xích lại với nhau và gặp nhau.
TRONG BÀI ĐỌC I, Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Philipphê.
thánh Phaolô kêu gọi mọi người hãy ý thức về vai trò và sứ vụ của mình trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Ta đừng tự hào mình là người đã chịu cắt bì theo lề luật, chúng ta phụng thờ Thiên Chúa theo thần trí, và khoe mình trong Đức Giêsu Kitô.
Thánh Phaolô khẳng định với các tín hữu Philipphê:
“”Những điều xưa kia được kể là lợi ích cho tôi, thì nay tôi coi là bất lợi vì Đức Kitô”.
Những điều xưa kia là những điều gì ? Thánh Phaolô kể:
“tôi đã chịu cắt bì từ ngày thứ tám, là người chủng tộc Israel, thuộc chi họ Bengiamin, là người Do-thái sinh bởi người Do-thái, là người biệt phái chiếu theo lề luật”.
Tất cả những điều ấy làm cho Phaolô trở thành người Biệt phái, người Do Thái nhiệt thành. Nhưng nay, khi Phaolô được biết Đức Kitô thì nó chẳng có ích gì nữa.
“Vả lại tôi coi tất cả mọi sự như thua thiệt trước cái lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu Kitô, Chúa tôi. Vì Ngài, tôi đành thua lỗ mọi sự, và coi là phân bón cả, để lợi được Đức Kitô.
Với Bài Tin mừng hôm nay, chúng ta hãy dâng lên Chúa lời cầu nguyện sau đây:
“Lạy Chúa, Chúa muốn tìm và cứu tất cả chúng con, nhưng nhiều khi chúng con lại muốn tự mình đi lạc. Xin Chúa giúp chúng con luôn biết hoán cải để tìm về với Chúa là nguồn mạch bình an. Amen.
Trong tháng 11 cầu cho các tín hữu đã qua đời, luôn nhắc nhở cho chúng ta về ngày kết thúc của mình, chắc chắn ta sẽ chết. Vậy khi còn sống ta hãy thức tỉnh về đời sống để trở về với Chúa.
Amen.
________________________
Giuse Vĩnh Tâm.
LỜI CHÚA THỨ NĂM TUẦN XXXI THƯỜNG NIÊN NĂM CHẴN 2020 (05/11/2020) – (Lc 15, 1 – 10) – THÁNG CẦU CHO CÁC LINH HỒN THÁNH ĐAMINH ĐINH ĐỨC MẬU, Linh mục, Tử Đạo, Lễ nhớ.
Trang Chủ » Bài Giảng - Suy Niệm Tin Mừng » LỜI CHÚA THỨ NĂM TUẦN XXXI THƯỜNG NIÊN NĂM CHẴN 2020 (05/11/2020) – (Lc 15, 1 – 10) – THÁNG CẦU CHO CÁC LINH HỒN THÁNH ĐAMINH ĐINH ĐỨC MẬU, Linh mục, Tử Đạo, Lễ nhớ.

