“CÁC NGƯƠI GẶP BẤT CỨ AI, THÌ MỜI VÀO DỰ TIỆC CƯỚI”.
BÀI ĐỌC I: Ed 36, 23-28
“Ta sẽ ban cho các ngươi quả tim mới, và đặt giữa các ngươi một thần trí mới”.
Trích sách Tiên tri Êdêkiel.
Đây Chúa phán: Ta sẽ thánh hoá danh cao cả Ta đã bị xúc phạm giữa các dân tộc, nơi mà các ngươi đã xúc phạm danh thánh Ta, để các dân tộc biết Ta là Chúa, Thiên Chúa các đạo binh phán, khi Ta tự thánh hoá nơi các ngươi trước mặt họ. Ta sẽ kéo các ngươi ra khỏi các dân tộc, sẽ quy tụ các ngươi từ các nước, và dẫn dắt các ngươi trên đất các ngươi. Ta sẽ dùng nước trong sạch mà rảy trên các ngươi, và các ngươi sẽ được rửa sạch mọi vết nhơ. Ta sẽ thanh tẩy các ngươi sạch mọi vết nhơ các bụt thần. Ta sẽ ban cho các ngươi quả tim mới, đặt giữa các ngươi một thần trí mới, cất khỏi xác các ngươi quả tim bằng đá và ban cho các ngươi quả tim bằng thịt. Ta đặt thần trí Ta giữa các ngươi, làm cho các ngươi thực thi các huấn lệnh Ta, làm cho các ngươi tuân giữ và thực hành các lề luật Ta. Các ngươi sẽ cư ngụ trong xứ Ta đã ban cho tổ phụ các ngươi; các ngươi sẽ là dân Ta, còn Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi.
Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 50, 12-13. 14-15. 18-19
Đáp:Ta sẽ dùng nước trong sạch mà rảy trên các ngươi, và các ngươi sẽ được rửa sạch mọi vết nhơ (Ed 36, 25).
Xướng:
1) Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch, và canh tân tinh thần cương nghị trong người con. Xin đừng loại con khỏi thiên nhan Chúa, chớ thu hồi Thánh Thần Chúa ra khỏi con. – Đáp.
2) Xin ban lại cho con niềm vui ơn cứu độ; với tinh thần quảng đại, Chúa đỡ nâng con. Con sẽ dạy kẻ bất nhân đường nẻo Chúa, và người tội lỗi sẽ trở về với Ngài. – Đáp.
3) Bởi vì Chúa chẳng ưa gì sinh lễ, nếu con dâng lễ toàn thiêu, Chúa sẽ không ưng. Của lễ con dâng, lạy Chúa, là tâm hồn tan nát; lạy Chúa, xin đừng chê tấm lòng tan nát, khiêm cung. – Đáp.
ALLELUIA: Tv 147, 12a và 15a
Alleluia, alleluia! – Giêrusalem, hãy ngợi khen Chúa, Đấng đã sai Lời Người xuống cõi trần ai. – Alleluia.
PHÚC ÂM: Mt 22, 1-14
“Các ngươi gặp bất cứ ai, thì mời vào dự tiệc cưới”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu lại phán cùng các đầu mục tư tế và kỳ lão trong dân những dụ ngôn này rằng: “Nước Trời giống như vua kia làm tiệc cưới cho hoàng tử. Vua sai đầy tớ đi gọi những người đã được mời dự tiệc cưới, nhưng họ không chịu đến. Vua lại sai các đầy tớ khác mà rằng: ‘Hãy nói cùng những người đã được mời rằng: Này ta đã dọn tiệc sẵn rồi, đã hạ bò và súc vật béo tốt rồi, mọi sự đã sẵn sàng: xin mời các ông đến dự tiệc cưới’. Nhưng những người ấy đã không đếm xỉa gì và bỏ đi: người thì đi thăm trại, người thì đi buôn bán, những người khác thì bắt đầy tớ vua mà nhục mạ và giết đi. Khi vua nghe biết, liền nổi cơn thịnh nộ, sai binh lính đi tru diệt bọn sát nhân đó, và thiêu huỷ thành phố của chúng. Bấy giờ vua nói với các đầy tớ rằng: ‘Tiệc cưới đã dọn sẵn sàng, nhưng những kẻ đã được mời không đáng dự. Vậy các ngươi hãy ra các ngả đường, gặp bất cứ ai, thì mời vào dự tiệc cưới’. Các đầy tớ liền đi ra đường, gặp ai bất luận tốt xấu, đều quy tụ lại và phòng cưới chật ních khách dự tiệc.
Đoạn vua đi vào quan sát những người dự tiệc, và thấy ở đó một người không mặc y phục lễ cưới. Vua liền nói với người ấy rằng: ‘Này bạn, sao bạn vào đây mà lại không mặc y phục lễ cưới?’ Người ấy lặng thinh. Bấy giờ vua truyền cho các đầy tớ rằng: ‘Trói tay chân nó lại, ném nó vào nơi tối tăm, ở đó sẽ phải khóc lóc và nghiến răng!’ Vì những kẻ được gọi thì nhiều, còn những kẻ được chọn thì ít”.
Đó là lời Chúa.
__________________________________________
I/. VÀI NÉT VỀ THÁNH BÊNAĐÔ, Viện phụ, Tiến sĩ Hội thánh (20/8)
(1090 – 1153)
1. Đôi hàng tiểu sử
Thánh Bernađô sinh năm 1090 tại lâu đài Fontaine-les-Dijon, nước Pháp. Nhờ sinh trưởng trong một gia đình thượng lưu và gia giáo, Bernađô sau này đã trở thành người bặt thiệp biết xử sự khôn ngoan với mọi người. Trong số 7 anh em, Bernađô là người con thứ ba. Cậu được gia đình cưng chiều hơn cả vì có tư cách nết na và đạo hạnh hơn các anh em.
Tới tuổi khôn, Bernađô được cha mẹ cho theo học tại trường các thầy kinh sĩ ở Chatillon-sur-Seine. Nhờ sự rèn cặp của các thầy, Bernađô đã dần dần bỏ được tính rụt rè và câu nệ thái quá. Năm 16 tuổi giữa lúc cuộc đời đang lên với nhiều hứa hẹn thì bà thân mẫu của Bernađô từ trần khiến cậu phải trải qua một cơn khủng hoảng tinh thần nặng nề khiến cậu trở nên trầm lặng và suy tư. Nhưng rồi bỗng người ta thấy cuộc đời của chàng thanh niên ấy xoay hẳn một góc 180o. Chàng đứng lên, cương quyết chống lại mọi thử thách và quyến rũ của gia đình và bạn bè để dâng mình phụng sự Chúa trong dòng Xi-tô. Không những thế Bernađô còn lần lượt lôi cuốn được các anh em và cả ông thân sinh cùng nhiều người khác theo gương mình vào dòng.
Năm 1115 thầy được cử làm tu viện trưởng Clairvaux một chi nhánh của dòng Xi-tô. Đây là một dịp để thầy hy sinh hãm mình nhiều hơn, dù yếu đuối và sức khỏe rất mỏng manh thầy cũng không chịu thua kém ai trong sự ăn uống kham khổ. Ngài còn mắc chứng đau bụng kinh niên. Tuy nhiên Ngài vẫn cố gắng tham dự các buổi phụng vụ như mọi người khác. Chỉ khi nào không chịu nổi cơn đau Ngài mới bỏ cộng đồng.
Nhận thấy tu viện trưởng Bernađô là người có đầy nhân đức và uy tín nên đức Giám mục Guillaume de Champeaux cho ngài được nhận chức linh mục và sai ngài đi giảng thuyết ở nhiều nơi. Ngài đã vâng lời vui vẻ ra đi. Nhờ đức khiêm nhường sâu thẳm, Chúa đã ban cho ngài nhiều ơn lạ như nói tiên tri, làm nhiều phép lạ. Hết nhiệm vụ Ngài lại trở về nhà dòng phục vụ. Trong 38 năm làm bề trên, Ngài lập thêm được 68 tu viện chi nhánh của Clervaux. Ngài viết nhiều tác phẩm để bênh vực đức tin, truyền bá lòng yêu mến Chúa và đức bác ái.
Sau khi tận tụy và nỗ lực làm việc cho sáng danh Chúa, thánh nhân đã qua đời tại Clairvaux ngày 20 tháng 8 năm 1153 lúc ba giờ chiều ngày thứ năm, thọ 63 tuổi.
Mười năm sau, các tu viện trưởng họp lại lập án xin phong thánh cho cha Bernađô. Ngày 18 tháng 1 năm 1174, án được đức Alexandro III châu phê. Và năm 1830 Đức Piô VIII tôn phong Ngài lên hàng tiến sĩ Giáo hội.
2. Cuộc sống chứng nhân
Như đã nói ở trên, Bernađô là một người rất khiêm nhường và thánh thiện cho nên Chúa đã thưởng công cho Ngài. Chúa đã ban cho Ngài nhiều ơn lạ như nói tiên tri, làm nhiều phép lạ.
Đây là một giai thoại nổi tiếng khi Ngài ở Clairvaux. Hôm ấy nhà dòng hết muối. Cha Bernađô liền gọi một thầy tên là Guibert đến và bảo:
– Con hãy lấy con lừa (vì đây là con vật duy nhất mà tu viện sở hữu) và đi ra phố mua muối.
– Xin Cha cho con tiền để trả – thầy Guiber nói.
– Con ơi – Bernađô trả lời -, đã khá lâu Cha không còn tiền cũng không còn vàng. Nhưng trên cao kia có Đấng giữ túi tiền và kho tàng của Cha!
Nghe nói thế thầy Guiber suýt nữa phì cười, nhưng thầy không thể không lưu ý Cha thánh điều này:
– Thưa Cha, nếu con đi với hai bàn tay không thì con cũng trở về chắc chắn với hai bàn tay không.
– Đừng sợ con ạ, hãy tin tưởng. Đấng giữ kho báu của Cha sẽ ở với con và người sẽ tìm cách giúp con có những gì cần thiết để làm xong công tác.
Guiber cúi đầu nhận phúc lành từ tay vị tu viện trưởng và dẫn con lừa ra đi. Các mối nghi ngờ của thầy không hoàn toàn tan biến. Nhưng khi thấy sắp băng qua cửa thành thì có một vị Linh mục đến gần và hỏi:
– Thầy từ đâu đến và đi đâu vậy?
Guiber không do dự thú nhận sự túng thiếu tột độ của tu viện sự bối rối hiện nay của thầy. Rất cảm động, vị Linh mục dẫn thầy về nhà và cho thầy nửa thùng muối và một số tiền là 30 xu (tương đương với 300 quan Pháp thời nay).
Hãy tưởng tượng xem niềm vui của thầy Guiber lớn thế nào. Thầy trở về lại tu viện và chỉ còn việc phải làm là ngay lập tức là kể lại câu chuyện cho bề trên của thầy nghe.
– Cha đã nói rõ với con, cha Bernađô đáp, và cha lặp lại với con điều đó: Đối với người Kitô hữu không có cái gì khác ngoài đức tin!
Lịch sử cũng còn ghi, Ngài có lòng sùng kính Mẹ Maria rất lạ lùng. Truyền thuyết cho hay: Mỗi khi đi ngang qua ảnh tượng Đức Mẹ, thánh nhân thường hay chào Mẹ bằng câu: “Kính chào Mẹ Maria!” và một ngày kia, Đức Mẹ đã đáp lại lời chào của ngài: “Chào con, Bernađô!” Bằng cách này, Đức Mẹ cho biết tình yêu và lòng sùng kính thánh Bernađô đã dành cho Đức Mẹ thật lớn lao chừng nào; và Đức Mẹ cũng hài lòng biết bao!
Xin được kết thúc bằng chính lời của thánh Bernađô trích trong bài giảng về sách Diễm Ca Của Ngài: “Khi Thiên Chúa yêu, thì Người không muốn điều gì khác hơn là được yêu: Thật vậy, Thiên Chúa yêu, thì Người không nhằm điều gì khác ngoài việc được yêu lại, vì Người biết ai yêu mến Người thì sẽ được hạnh phúc nhờ chính tình yêu đó.”
(Nguồn: Lm. Giuse Đinh Tất Quý – tgpsaigon.net)
____________________________________________
II/. BÀI SUY NIỆM (Mt 22, 1-14) – DỤ NGÔN TIỆC CƯỚI
“CÁC NGƯƠI GẶP BẤT CỨ AI, THÌ MỜI VÀO DỰ TIỆC CƯỚI.
Hôm nay thứ Năm tuần XX Thường niên, chúng ta bước vào Chương 22 Phúc âm Matthêu.
Chương 22 được bắt đầu bằng một dụ ngôn rất kinh điển, sâu sắc: DỤ NGÔN TIỆC CƯỚI.
Đây cũng là một dụ ngôn về Nước trời vì ta căn cứ vào câu đầu tiên, Matthêu viết:
“KHI ẤY, CHÚA GIÊSU LẠI PHÁN CÙNG CÁC ĐẦU MỤC TƯ TẾ VÀ KỲ LÃO TRONG DÂN NHỮNG DỤ NGÔN NÀY RẰNG: “NƯỚC TRỜI GIỐNG NHƯ VUA KIA LÀM TIỆC CƯỚI CHO HOÀNG TỬ”.
Matthêu cũng không xếp dụ ngôn này vào Chương 13, mà tách riêng ra cho vào Chương 22.
Chương 22, cho ta biết Chúa Giêsu và các môn đệ đã vào thành Giêrusalem cách long trọng (Mt 21, 1 – 11).
Bài Tin mừng hôm nay được 2 thánh sử tường thuật:
+ Matthêu: Mt 22, 1-14;
+ Luca: Lc 14, 15 – 21).
Như vậy các dụ ngôn được công bố sau khi Chúa vào thành Giêrusalem sẽ là những dụ ngôn có tác động mạnh đến mối quan hệ với các thượng tế, kỳ lão,… là những thành phần lãnh đạo Do Thái giáo, vì những dụ ngôn này nhắm thẳng vào họ..
Vì thế, ngay câu mở đầu, Matthêu đã giới thiệu những đối tượng mà Chúa muốn nhắm đến trong dụ ngôn:
“CHÚA GIÊSU LẠI PHÁN CÙNG CÁC ĐẦU MỤC TƯ TẾ VÀ KỲ LÃO TRONG DÂN NHỮNG DỤ NGÔN NÀY RẰNG.
Ngày xưa, khi còn ở Galilê, Chúa chỉ xung đột với nhóm Pharisiêu và luật sĩ, đó là các nhóm tôn giáo, chứ không phải các nhóm có thế lực chính trị, nên sự xung đột chỉ dừng lại ở các cuộc tranh luận về lề luật.
Nhưng nay đã bước vào Giêrusalem, thì tình thế đã khác, Chúa Giêsu sẽ phải đối diện với giới “chóp bu” Do Thái, thì không còn là cuộc tranh luận về lề luật nữa, mà sẽ đi đến kết án và giết chết.
Bước vào Giêrusalem, Chúa ý thức rất rõ, cuộc khổ nạn đã hiện ra trước mặt, nó là điểm tới tất yếu của Công trình cứu chuộc, đó là Chén đắng mà Chúa Cha đã trao cho Ngài.
Vì thế, Bài Tin mừng hôm nay như một LỜI TỐ CÁO ĐANH THÉP DÀNH CHO CÁC THƯỢNG TẾ, KỲ LÃO KHI HỌ TỪ CHỐI ƠN CỨU ĐỘ, TỪ CHỐI TIỆC CƯỚI CỦA HOÀNG TỬ.
Tiệc cưới dành cho Hoàng tử. Vị hoàng tử đó chính là Chúa Giêsu, ắt hẳn phải là một bữa tiệc linh đình và trang trọng với tất cả những nghi thức cao trọng bậc nhất.
Nhưng các Thượng tế, Kỳ lão lại từ chối, không đến dự
Họ cũng giống như các khách mời hôm nay đưa ra những lời từ chối rất tầm thường không xứng đối với tiệc cưới của hoàng tử, như:
“NGƯỜI THÌ ĐI THĂM TRẠI, NGƯỜI THÌ ĐI BUÔN BÁN, NHỮNG NGƯỜI KHÁC THÌ BẮT ĐẦY TỚ VUA MÀ NHỤC MẠ VÀ GIẾT ĐI”.
“ĐI THĂM TRẠI” thì lúc nào thăm mà không dược, cái trại còn đó chứ mất đi đâu.
“ĐI BUÔN BÁN”: ngày nào mà chẳng buôn bán, nghỉ một ngày có chết ai đâu. “Không có mợ, chợ vẫn đông”.
Thế mà họ đã nại đến những lý do rất tầm thường này để từ chối tiệc cưới.
Trong khi họ là con dân của nhà vua, hàng ngày được hưởng ơn mưa móc của nhà vua. Thế mà họ không dành cho nhà vua lấy một ngày. Thật đáng trách và quá tệ !
Trong trình thuật của Luca, Luca đã liệt kê ra một số lý do còn tầm thường hơn nữa:
“Đến giờ tiệc, ông sai đầy tớ đi thưa với quan khách rằng: “Mời quý vị đến, cỗ bàn đã sẵn. Bấy giờ mọi người nhất loạt bắt đầu xin kiếu. Người thứ nhất nói: “Tôi mới mua một thửa đất, cần phải đi thăm; cho tôi xin kiếu. Người khác nói: “Tôi mới tậu năm cặp bò, tôi đi thử đây; cho tôi xin kiếu. Người khác nói: “Tôi mới cưới vợ, nên không thể đến được.” (Lc 14, 17 – 20).
Luca đã đưa ra các lý do để từ chối như sau:
+ “Tôi mới mua một thửa đất, cần phải đi thăm; cho tôi xin kiếu”.
+ “Tôi mới tậu năm cặp bò, tôi đi thử đây; cho tôi xin kiếu”.
+ “Tôi mới cưới vợ, nên không thể đến được”.
Toàn là những lý do rất tầm thường. “THƯỞ ĐẤT – 5 CẶP BÒ – 1 CÔ VỢ thì vẫn còn đó, có mất đi đâu mà sợ. Người ta ăn ở với vợ cả đời chứ đâu phải 1 ngày, thế mà họ không dám hy sinh cho nhà vua một ngày để vui với niềm vui của nhà vua.
Họ đã đi đến tận cùng của sự vô ơn và bất kính, họ sẽ bị tru diệt.
Chưa hết, họ còn BẮT ĐẦY TỚ VUA MÀ NHỤC MẠ VÀ GIẾT ĐI”.
Và lịch sử đã ứng nghiệm vào chính Chúa Giêsu khi Ngài bị họ bắt và giết đi như vậy.
Và phần cuối của Dụ ngôn, Matthêu đã cho biết cái kết đắng dành cho những kẻ vô ơn và ngỗ nghịch.
Matthêu viết:
“KHI VUA NGHE BIẾT, LIỀN NỔI CƠN THỊNH NỘ, SAI BINH LÍNH ĐI TRU DIỆT BỌN SÁT NHÂN ĐÓ, VÀ THIÊU HUỶ THÀNH PHỐ CỦA CHÚNG. BẤY GIỜ VUA NÓI VỚI CÁC ĐẦY TỚ RẰNG: ‘TIỆC CƯỚI ĐÃ DỌN SẴN SÀNG, NHƯNG NHỮNG KẺ ĐÃ ĐƯỢC MỜI KHÔNG ĐÁNG DỰ. VẬY CÁC NGƯƠI HÃY RA CÁC NGẢ ĐƯỜNG, GẶP BẤT CỨ AI, THÌ MỜI VÀO DỰ TIỆC CƯỚI’
“KHI VUA NGHE BIẾT, LIỀN NỔI CƠN THỊNH NỘ, SAI BINH LÍNH ĐI TRU DIỆT BỌN SÁT NHÂN ĐÓ, VÀ THIÊU HUỶ THÀNH PHỐ CỦA CHÚNG”.
Lời này đã được ứng nghiệm: vào năm 70, quân đội La Mã đã đến tiêu hủy thành thánh Giêrusalem, đến nỗi: “Không còn hòn đá nào nằm trên hòn đá nào, tất cả đã bị tiêu hủy.
Matthêu viết tiếp:
“NHƯNG NHỮNG KẺ ĐÃ ĐƯỢC MỜI KHÔNG ĐÁNG DỰ. VẬY CÁC NGƯƠI HÃY RA CÁC NGẢ ĐƯỜNG, GẶP BẤT CỨ AI, THÌ MỜI VÀO DỰ TIỆC CƯỚI”
Tiệc cưới đã dọn sẵn dành cho dân tộc Do Thái, nhưng họ đã không trân trọng, vì thế họ đã bị loại ra, không xứng đáng được dự.
Vua liền sai các đầy tớ ra các ngả đường, gặp bất cứ ai, không cần phân biệt tốt xấu, sang hèn, đều được mời vào dự tiệc cưới.
Như vậy, chính từ sự từ chối của dân Do Thái, mà ƠN CỨU ĐỘ ĐÃ ĐƯỢC BAN CHO CÁC DÂN TỘC TRÊN THẾ GIỚI.
Rõ ràng DỤ NGÔN TIỆC CƯỚI, là một cú tát thật mạnh vào các Thượng tế, những người lãnh đạo Do Thái giáo. Họ đã từ chối ƠN CỨU ĐỘ CỦA THIÊN CHÚA, và họ đã bị loại trừ để Tiệc cưới Nước trời sẽ dành cho mọi dân tộc trên thế giới.
Dĩ nhiên các Thượng tế, kỳ lão căm tức tột độ, vì dụ ngôn này cố ý nhắm vào họ, và họ đã đồng lòng với nhau lên án tử cho Chúa Giêsu.
Với một vài dòng suy niệm trên, chúng ta cùng nhau bước vào Bài Tin mừng:
________________________________________
III/. BÀI CHIA SẺ (Mt 22, 1-14) – DỤ NGÔN TIỆC CƯỚI.
“KHI ẤY, CHÚA GIÊSU LẠI PHÁN CÙNG CÁC ĐẦU MỤC TƯ TẾ VÀ KỲ LÃO TRONG DÂN NHỮNG DỤ NGÔN NÀY RẰNG: “NƯỚC TRỜI GIỐNG NHƯ VUA KIA LÀM TIỆC CƯỚI CHO HOÀNG TỬ.”
Chúa Giêsu đưa ra hình ảnh Tiệc cưới cho Hoàng tử để nói về Nước Trời.
+ Ông Vua, ý ám chỉ Thiên Chúa.
+ Hoàng tử: Con vua, ý ám chỉ Con Thiên Chúa, là Chúa Giêsu.
+ Tiệc cưới, ý ám chỉ Triều đại Nước Thiên Chúa.
Tiệc cưới cho hoàng tử dĩ nhiên phải là một đại lễ của đất nước, tất cả mọi người phải vui mừng hoà với niềm vui của nhà vua. Mọi người sẽ được nghỉ ngơi để ăn mừng. Nhiều khi còn có các đặc ân khác, như giảm thuế, phóng thích tù nhân, giảm án phạt cho tội nhân,… nói chung đó là ngày vui mừng của đất nước.
Tiệc cưới của hoàng tử được ví như tiệc cưới Nước Trời mà Tiên tri Isaia đã mô tả:
Tiên tri Isaia trong một thị kiến đã trình bày viễn cảnh thời Cánh chung ( tận thế), ông đã mô tả Nước Trời như một bữa tiệc của Thiên Chúa, ở đó con người không còn đau khổ và chết chóc, trái lại sẽ tràn ngập niềm vui và hạnh phúc. Isaia viết:
“Ngày ấy, Chúa các đạo binh sẽ thết tất cả các dân trên núi này một bữa tiệc đầy thịt rượu, thịt thì béo, rượu thì ngon. Trên núi này, Người sẽ cất khăn tang bao trùm muôn dân và tấm khăn liệm trải trên mọi nước. Người tiêu diệt sự chết đến muôn đời. Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt trên mọi khuôn mặt, và cất bỏ khỏi toàn mặt đất sự tủi hổ của dân Người, vì Người đã phán. Ngày đó, người ta sẽ nói: Này đây Chúa chúng ta.” (Is 25, 6-10a)
Niềm vui đó không chỉ dành riêng cho người Do Thái mà dành cho mọi dân, mọi nước.
“VUA SAI ĐẦY TỚ ĐI GỌI NHỮNG NGƯỜI ĐÃ ĐƯỢC MỜI DỰ TIỆC CƯỚI, NHƯNG HỌ KHÔNG CHỊU ĐẾN”
Tiệc cưới của hoàng tử phải là bữa tiệc long trọng nhất, dĩ nhiên những người được mời phải là các bậc vị vọng, danh giá, có địa vị trong xã hội, chứ không thể là thứ dân, kẻ đầu đường xó chợ.
Nhà vua chu đáo và cẩn thận đến nỗi: sợ họ quên nên đã phát thiệp mời trước, đến ngày cưới, nhà vua còn cho các đầy tớ (ý ám chỉ các thiên thần) đi mời lần nữa. Như vậy có tất cả 2 lần mời: mời bằng thiệp và mời bằng miệng, thì không có lý do gì khách mời không đến, trừ khi họ cố tình.
Nhưng trớ trêu thay, Matthêu viết: “HỌ KHÔNG CHỊU ĐẾN”. Như vậy, đây là sự cố tình từ chối, không thèm đếm xỉa gì tới lời mời của vua.
“VUA LẠI SAI CÁC ĐẦY TỚ KHÁC MÀ RẰNG: ‘HÃY NÓI CÙNG NHỮNG NGƯỜI ĐÃ ĐƯỢC MỜI RẰNG: NÀY TA ĐÃ DỌN TIỆC SẴN RỒI, ĐÃ HẠ BÒ VÀ SÚC VẬT BÉO TỐT RỒI, MỌI SỰ ĐÃ SẴN SÀNG: XIN MỜI CÁC ÔNG ĐẾN DỰ TIỆC CƯỚI’.
Sau thất bại của lần mời thứ nhất, nhà vua vẫn chưa tỏ thái độ buồn bực và giận dữ, vì đây là Tiệc cưới của Hoàng tử, vua không muốn có điều gì không hay xảy ra.
Vua vẫn kiên nhẫn sai các đầy tớ khác đến mời lần nữa, với lời mời khẩn thiết hơn. Vua dặn các đầy tớ phải nói như thế này, hy vọng khách mời sẽ đến: “NÀY TA ĐÃ DỌN TIỆC SẴN RỒI, ĐÃ HẠ BÒ VÀ SÚC VẬT BÉO TỐT RỒI, MỌI SỰ ĐÃ SẴN SÀNG: XIN MỜI CÁC ÔNG ĐẾN DỰ TIỆC CƯỚI”.
Điều này đã được thể hiện trong lịch sử nước Israel, Thiên Chúa cũng sai các tiên tri và ngôn sứ đến với dân để kêu gọi họ ăn năn sám hối, không chỉ một lần, mà là rất nhiều lần
Nhưng khách mời vẫn không đến, thật quá tệ!. Có lẽ chúng ta khi đọc dụ ngôn này cũng phải bực mình, và không còn kiên nhẫn được nữa.
Chúng ta cứ thử tưởng tượng: “Một tiệc cưới đã chuẩn bị sẵn sàng”, nhưng khách mời không đến thì gia chủ sẽ buồn thế nào. Không những buồn mà còn bị mất mặt, đó quả là mối nhục không gì có thể rửa được.
Ta đã từng chứng kiến các tiệc cưới diễn ra trong những ngày mưa tầm tã, khách mời đến lưa thưa có vài người thì đôi tân hôn buồn thế nào. Ngoài chuyện thiệt hai về tiền bạc, nhưng đau đớn hơn là niềm vui lớn nhất trong cuộc đời cũng không đạt được.
Như vậy ta có thể hiểu được nỗi buồn của nhà vua.
Như vậy người Do Thái đã cương quyết từ chối ơn cứu độ, họ quay lưng lại với Triều đại Thiên Chúa, từ chối Con Thiên Chúa là Chúa Giêsu cách thẳng thừng.
Người Do Thái như vậy, còn Kitô hữu chúng ta thì sao, đã bao lần ta cũng từ chối lời mời của Chúa khi không tham dự bữa tiệc Thánh Thể. Qua các vị mục tử và người hướng dẫn (cha mẹ,…) Chúa cũng mời ta đến với Ngài trong thánh lễ, nhưng ta đã từ chối.
Như vậy Dụ ngôn này không những nói với người Do Thái mà còn nói với cả chúng ta ngày nay.
“NHƯNG NHỮNG NGƯỜI ẤY ĐÃ KHÔNG ĐẾM XỈA GÌ VÀ BỎ ĐI: NGƯỜI THÌ ĐI THĂM TRẠI, NGƯỜI THÌ ĐI BUÔN BÁN, NHỮNG NGƯỜI KHÁC THÌ BẮT ĐẦY TỚ VUA MÀ NHỤC MẠ VÀ GIẾT ĐI”.
Như vậy Nhà vua lại bị thất bại lần thứ hai, khách mời “KHÔNG ĐẾM XỈA GÌ VÀ BỎ ĐI”. Thật quá đáng! Không một chút nghĩ ngợi mà quay ngoắt bỏ đi.
Nhưng lý do mà họ đưa ra quá tầm thường, vụn vặt, không xứng với lời mời của nhà vua:
+ Thăm trại.
+ Buôn bán.
“THĂM TRẠI”, thì lúc nào thăm mà không được. Cái trại nó còn đó chứ có mất đi đâu mà nhất thiết phải đi thăm hôm nay. Ngày mai, ngày mốt đi thăm cũng được.
“BUÔN BÁN” ngày nào chả buôn bán, nghỉ bán một ngày có chết ai đâu, nghỉ bán một ngày không làm cho họ giàu thêm và cũng chẳng làm họ nghèo đi. Tại sao không dành cho vua một ngày, trong khi họ đang được hưởng biết bao ơn mưa móc của nhà vua, vả lại hôm nay là ngày cưới của hoàng tử.
Như vậy, các lý do họ đưa ra không có lý do nào đáng kể. Chẳng thà họ đưa ra lý do: CHA MẸ MẤT còn có thể chấp nhận được.
“NGƯỜI KHÁC THÌ BẮT ĐẦY TỚ VUA MÀ NHỤC MẠ VÀ GIẾT ĐI”.
Không những không đáp ứng lời mời của nhà vua lại còn nhục mạ, giết người nhà vua sai đến. Thật quá đáng, không thể chấp nhận. Đến nước này Nhà vua bắt buộc phải tỏ thái độ.
Câu này có ý ám chỉ đến các tiên tri, các ngôn sứ đã bị người Do Thái ngược đãi và giết chết trong thời Cựu Ước.
Như vậy, các quan khách được mời nhưng không đến. Mỗi người đã theo đuổi lợi ích riêng. Họ đã không đáp trả lời mời, từ chối dự phần vào vương quốc thiên sai, hình ảnh của Giáo Hội.
Chúa Giêsu đã mô tả hai hạng người:
1/. những người “thờ ơ” với một sự lãnh đạm hầu như tự nhiên không có vẻ gì quan tâm đến việc mình được mời, và một cách rất đơn giản họ để cho công việc cuốn họ đi…
2/. Những người “phản bác” họ từ chối lời mời một cách có ý thức và tham gia dùng bạo lực giết hại các đầy tớ.
“KHI VUA NGHE BIẾT, LIỀN NỔI CƠN THỊNH NỘ, SAI BINH LÍNH ĐI TRU DIỆT BỌN SÁT NHÂN ĐÓ, VÀ THIÊU HUỶ THÀNH PHỐ CỦA CHÚNG.”
Sau những sự kiện vừa xảy ra, nhà vua không còn kiên nhẫn được nữa và ông buộc phải tỏ thái độ đối với những kẻ đã phụ bạc lòng tốt của ông, họ không còn xứng đáng để được hưởng ơn mưa móc của vua ban cho, họ không xứng đáng để được sống. Matthêu mô tả: “SAI BINH LÍNH ĐI TRU DIỆT BỌN SÁT NHÂN ĐÓ. Và thêm một hình phạt nữa:
“THIÊU HUỶ THÀNH PHỐ CỦA CHÚNG”, ý ám chỉ thành Giêrusalem bị phá huỷ vào năm 70 sau Công nguyên..
BẤY GIỜ VUA NÓI VỚI CÁC ĐẦY TỚ RẰNG: ‘TIỆC CƯỚI ĐÃ DỌN SẴN SÀNG, NHƯNG NHỮNG KẺ ĐÃ ĐƯỢC MỜI KHÔNG ĐÁNG DỰ. VẬY CÁC NGƯƠI HÃY RA CÁC NGẢ ĐƯỜNG, GẶP BẤT CỨ AI, THÌ MỜI VÀO DỰ TIỆC CƯỚI’. CÁC ĐẦY TỚ LIỀN ĐI RA ĐƯỜNG, GẶP AI BẤT LUẬN TỐT XẤU, ĐỀU QUY TỤ LẠI VÀ PHÒNG CƯỚI CHẬT NÍCH KHÁCH DỰ TIỆC”
“CÁC NGƯƠI HÃY RA CÁC NGẢ ĐƯỜNG, GẶP BẤT CỨ AI, THÌ MỜI VÀO DỰ TIỆC CƯỚI”
Vậy đây là những khách mời mà người ta không chờ đợi và chính họ đã chấp nhận lời mời của nhà vua. Người Do Thái, những người khách mời đầu tiên, vì thế sẽ nhường chỗ cho dân ngoại.
Đức Giêsu đã báo trước cho chúng ta: Căn phòng tiệc cưới sẽ đầy cho dù các “ông lớn” không thèm đáp lại. Ngài sẽ làm đầy phòng tiệc với những người rách rưới, bị loại trừ, những người đầu đường xó chợ.
Thánh Luca trong bài dụ ngôn song song xác định rõ thành phần: “Các người nghèo khó, tàn tật, đui mù, què quặt” sẽ thế chỗ cho những người được mời đầu tiên (Luca 14, 21). Và Mát-thêu, trong một đoạn văn khác cũng nói với chúng ta điều đó: Những người thu thuế và những cô gái.điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông”
“GẶP AI BẤT LUẬN TỐT XẤU, ĐỀU QUY TỤ LẠI”.
Đó cũng là hình ảnh của Giáo hội Chúa sau này. Giáo hội không phải chỉ toàn những người thánh thiện mà còn có những con người tội lỗi, họ không bị loại trừ mà vẫn được mời gọi vào Tiệc cưới Nước trời. Họ đều quy tụ lại dưới Vị Mục tử nhân lành là Chúa Giêsu.
“ĐOẠN VUA ĐI VÀO QUAN SÁT NHỮNG NGƯỜI DỰ TIỆC, VÀ THẤY Ở ĐÓ MỘT NGƯỜI KHÔNG MẶC Y PHỤC LỄ CƯỚI. VUA LIỀN NÓI VỚI NGƯỜI ẤY RẰNG: ‘NÀY BẠN, SAO BẠN VÀO ĐÂY MÀ LẠI KHÔNG MẶC Y PHỤC LỄ CƯỚI?’ NGƯỜI ẤY LẶNG THINH.
Độc giả có thể thắc mắc không hiểu tại sao nhà vua bắt khách qua đường tham dự bất đắc dĩ phải mặc y phục lễ cưới.
Một người có thể trả lời ngược lại: tại sao người qua đường lại có thời gian mặc y phục lễ cưới!
Nhưng điều Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh ở đây là phải có những điều kiện tối thiểu để được vào Nước Trời, chứ không phải ai cũng vào được.
Câu truyện người không mặc áo cưới là một lời cảnh giác chúng ta : để xứng đáng với tấm lòng của Chúa, chúng ta phải cố gắng hoán cải, có một nếp sống mới. Không phải nguyên việc ở trong Giáo Hội là bảo đảm cho ơn cứu độ đâu.
Thánh Phaolô đã kêu gọi hãy từ bỏ con người cũ để mặc lấy con người mới. Đó chính là y phục lễ cưới của ta.
Khi Kitô hữu cởi bỏ con người cũ và mặc lấy con người mới, có nghĩa họ lúc nào cũng mặc y phục lễ cưới để dự tiệc cho dù lời mời có đến bất ngờ (ý ám chỉ đến cái chết)
BẤY GIỜ VUA TRUYỀN CHO CÁC ĐẦY TỚ RẰNG: ‘TRÓI TAY CHÂN NÓ LẠI, NÉM NÓ VÀO NƠI TỐI TĂM, Ở ĐÓ SẼ PHẢI KHÓC LÓC VÀ NGHIẾN RĂNG!
Những người thay thế cho những khách mời đầu tiên không phải là những người có quyền ưu tiên: nếu họ tỏ ra bất xứng với tiệc cưới của Thiên Chúa, họ cũng sẽ bị ném “ra ngoài”.
Lời cảnh báo rất nghiêm khắc. Nó cáo giác sự an toàn dễ dãi của chúng ta. Người tín hữu được nhắc nhở đến trách nhiệm của mình.
“VÌ NHỮNG KẺ ĐƯỢC GỌI THÌ NHIỀU, CÒN NHỮNG KẺ ĐƯỢC CHỌN THÌ ÍT”.
Câu nói này của Chúa Giêsu cũng có nghĩa ẩn dụ, vì theo mạch văn, chỉ có 1 người không mặc y phục lễ cưới bị loại thôi, những người còn lại được xem như được chọn.
Như vậy số người được chọn trong dụ ngôn này vẫn rất đông xấp xỉ bằng số được gọi.
Nhưng câu nói của Chúa Giêsu mang nhiều ý nghĩa trong đời sống tâm linh.
Chúa mời gọi tất cả mọi người theo Ngài, nhưng thử hỏi có mấy ai dám can đảm vác thánh giá của mỉnh mà đi theo Ngài. Cụ thể chỉ có 12 tông đồ được chọn trong muôn người được mời gọi thôi.
Các Kitô hữu chúng ta đã được ngồi trong phòng tiệc của Thiên Chúa. Chúng ta đã được mời và được gọi để sống trong Giáo hội, nhưng chưa chắc chúng ta nằm trong số những người được tuyển chọn.
Số người được chọn bao giờ cũng ít hơn số người được gọi. Để vào số những người được chọn, chúng ta phải biết trân trọng ơn ban. Có khi chúng ta cũng coi chuyện buôn bán làm ăn của mình quan trọng hơn những lời mời khẩn thiết đến từ Thiên Chúa. Làm thế nào để chúng ta giữ được ơn cứu độ Chúa đang ban hôm nay?
TRONG BÀI ĐỌC I Trích sách Tiên tri Êdêkiel, vì người Do-thái khinh thường tình yêu và sự bảo vệ của Thiên Chúa, Ngài để cho quân thù đến phá tan tất cả và đem họ đi lưu đày. Sống trong nơi lưu đày, họ có thời gian suy nghĩ và nhận ra tình yêu và đặc quyền Thiên Chúa đã ban, họ hối hận và trở lại cùng Ngài.
Với Bài Tin mừng hôm nay, chúng ta hãy dâng lên Chúa lời cầu nguyện sau đây:
Lạy Chúa! khác xa ông vua trong câu truyện, Chúa chẳng bao giờ chối bỏ con. Trái lại, Chúa vẫn tiếp tục gõ cửa nhà từng người chúng con để mời gọi chúng con dự phần vào sự sống và niềm vui của Chúa, nhưng nhiều khi chúng con đã khước từ. Xin tha thứ và cho chúng con luôn biết đến với Chúa với tấm lòng của người con thảo.
Amen.
___________________
Giuse Vĩnh Tâm.
LỜI CHÚA THỨ NĂM TUẦN XX THƯỜNG NIÊN NĂM CHẴN 2020 (20/8/2020) – (Mt 22, 1 – 14) – DỤ NGÔN TIỆC CƯỚI THÁNH BÊNAĐÔ, Viện phụ, Tiến sĩ Hội thánh, Lễ nhớ.
Trang Chủ » Bài Giảng - Suy Niệm Tin Mừng » LỜI CHÚA THỨ NĂM TUẦN XX THƯỜNG NIÊN NĂM CHẴN 2020 (20/8/2020) – (Mt 22, 1 – 14) – DỤ NGÔN TIỆC CƯỚI THÁNH BÊNAĐÔ, Viện phụ, Tiến sĩ Hội thánh, Lễ nhớ.

