“TA LÀ SỰ SÁNG THẾ GIAN”.
BÀI ĐỌC I: Đn 13, 1-9. 15-17. 19-30. 33-62 (Bài dài)
“Đây tôi phải chết, dù tôi không làm điều họ vu khống cho tôi”.
Trích sách Tiên tri Đaniel.
Trong những ngày ấy, có một người đàn ông ở Babylon tên là Gioakim cưới bà vợ tên là Susanna, con của Helcia, bà rất xinh đẹp và có lòng kính sợ Chúa, vì cha mẹ bà là những người công chính, đã dạy con cho biết giữ luật Môsê. Lúc đó Gioakim rất giàu có, ông có một khu vườn gần nhà ông, các người Do-thái năng lui tới nhà ông, vì ông là người đáng kính hơn mọi người khác.
Năm đó, người ta đã đặt lên hai vị thẩm phán trong dân. Chúa đã phán về những kẻ ấy rằng: “Sự gian ác phát sinh từ Babylon bởi những vị thẩm phán kỳ lão, là những người xem ra như cai quản dân chúng”. Các ông năng lui tới nhà ông Gioakim, nên tất cả những ai kiện tụng, thì tìm gặp các ông ở đó. Đến trưa, khi dân chúng trở về nhà, bà Susanna vào đi bách bộ trong vườn của chồng. Hai vị kỳ lão thấy bà mỗi ngày đi bách bộ trong vườn, thì phải lửa dục mê đắm; hai ông mất lương tâm, không còn muốn đưa mắt nhìn lên trời và không còn muốn nhớ đến sự xét xử công minh.
Hai ông chờ ngày thuận tiện, lúc bà Susanna vào vườn như hôm trước và hôm trước nữa, bà chỉ dẫn theo hai cô thiếu nữ, bà muốn tắm trong vườn, vì trời nóng bức. Lúc bấy giờ ở đó không có ai, ngoài hai vị kỳ lão đang ẩn núp và ngắm nhìn bà. Bà nói với hai cô thiếu nữ rằng: “Hãy mang dầu và thuốc thơm cho ta, rồi đóng cửa vườn lại để ta tắm”.
Khi hai cô thiếu nữ ra khỏi vườn, hai vị kỳ lão đứng lên, tiến lại gần bà Susanna và nói: “Kìa cửa vườn đã đóng hết; không ai trông thấy ta đâu, chúng tôi say mê bà, bà hãy chấp nhận lời yêu cầu của chúng tôi và hiến thân cho chúng tôi. Nếu bà không chấp nhận, chúng tôi sẽ làm chứng nói bà phạm tội với một thanh niên, và vì đó, bà đã bảo các cô thiếu nữ ra khỏi vườn”.
Bà Susanna thở dài và nói: “Tôi phải khốn cực tư bề; nếu tôi hành động như thế, tôi phải chết, và nếu tôi không hành động như thế, tôi cũng không thoát khỏi tay các ông. Nhưng thà tôi phải tay các ông mà không làm điều gì phạm tội trước mặt Chúa thì hơn!” Đoạn bà tri hô lên, nên hai vị kỳ lão cũng kêu lên tố cáo bà. Và một trong hai ông chạy ra mở cửa vườn. Khi người nhà nghe tiếng kêu la trong vườn, liền đổ xô ra cửa để xem coi việc gì đã xảy ra. Khi nghe hai vị kỳ lão kể lại, thì các đầy tớ rất lấy làm hổ thẹn, vì thiên hạ không khi nào nghe nói như thế về bà Susanna.
Ngày hôm sau, khi dân chúng tụ họp tại nhà ông Gioakim, chồng bà Susanna, hai vị kỳ lão cũng đến, lòng đầy những ý nghĩ bất chính để tố cáo bà Susanna cho người ta giết bà. Hai ông nói với dân chúng: “Các người hãy đi tìm bà Susanna, con ông Helcia, vợ của ông Gioakim”. Người ta liền sai đi bắt bà, bà đến với cả cha mẹ, con cái và tất cả họ hàng. Nhưng tất cả họ hàng và mọi kẻ biết rõ bà đều khóc lóc.
Khi hai vị kỳ lão ra đứng giữa dân chúng, hai ông đặt tay lên đầu bà. Bà Susanna thì khóc lóc, ngước mắt lên trời, vì tâm hồn bà tin tưởng nơi Chúa. Hai vị kỳ lão nói: “Khi chúng tôi đi bách bộ một mình trong vườn, bà này đi vào với hai đứa tớ gái. Bà bảo hai đứa đóng cửa vườn lại, rồi đi ra. Bấy giờ một chàng thanh niên đã ẩn núp trong vườn tiến tới gần bà và phạm tội với bà. Lúc đó chúng tôi núp ở góc vườn, nhìn thấy tội ác, chúng tôi liền chạy đến bắt quả tang hai người đang phạm tội. Chúng tôi không bắt được chàng thanh niên, vì anh ta khoẻ mạnh hơn chúng tôi, nên đã mở cửa tẩu thoát. Còn bà này chúng tôi bắt được, chúng tôi gạn hỏi chàng thanh niên đó là ai, nhưng bà không muốn nói cho chúng tôi biết. Đó là điều chúng tôi xin làm chứng”. Dân chúng tin lời hai ông nói, vì hai ông là bậc kỳ lão trong dân và là thẩm phán, nên họ lên án tử hình cho bà.
Bấy giờ bà Susanna kêu lớn tiếng rằng: “Lạy Chúa hằng hữu, Đấng thấu biết mọi bí ẩn và mọi sự trước khi xảy ra, Chúa biết họ làm chứng gian hại con; và đây con phải chết, dù con không làm điều gì mà họ ác ý vu khống cho con”.
Chúa nhậm lời bà. Khi họ dẫn bà đi xử tử, thì Chúa giục thần trí một đứa trẻ tên là Đaniel. Trẻ này kêu lớn rằng: “Còn tôi, tôi không vấy máu bà này”. Mọi người hướng mắt nhìn về đứa trẻ và nói: “Lời mi nói có ý nghĩa gì?” Đứa trẻ ra đứng giữa mọi người và nói: “Hỡi con cái Israel, các ngươi ngu muội thế sao, khi chưa xét xử và chưa biết sự thật thế nào, mà lại lên án một thiếu nữ Israel? Các người hãy xét xử lại, vì hai ông đã làm chứng dối hại bà”.
Bấy giờ dân chúng vội vã trở lại. Các kỳ lão nói với Đaniel: “Này, em hãy ngồi giữa chúng tôi và bảo cho chúng tôi, vì Thiên Chúa đã cho em danh dự của bậc kỳ lão”. Đaniel liền nói với họ: “Các người hãy tách biệt hai ông ra, và cho hai ông đứng xa nhau, rồi tôi xét xử hai vị kỳ lão cho”.
Khi hai ông đứng xa nhau, Đaniel gọi ông thứ nhất đến và nói: “Hỡi lão già độc ác, các tội xưa kia ông đã phạm, giờ đây lại tái phạm, ông đã xét xử bất công, đã lên án kẻ vô tội và tha cho người có tội, mặc dầu có lời Chúa phán: ‘Ngươi chớ giết kẻ vô tội và người công chính’. Vậy nếu ông thấy bà Susanna phạm tội, thì hãy nói hai người phạm tội dưới cây gì?” Ông ta trả lời: “Dưới cây chò”. Đaniel liền nói: “Đúng là ông nói dối. Đây sứ thần Chúa được lệnh phân thây ông”. Đaniel cho ông ta lui ra, và bảo dẫn ông kia đến. Đaniel nói với ông này rằng: “Hỡi dòng giống Canaan, chớ không phải dòng giống Giuđa, sắc đẹp đã mê hoặc ông, và tình dục đã làm cho tâm hồn ông ra đồi bại. Ông đã cư xử như thế đối với các thiếu nữ Israel, các cô vì sợ mà phạm tội với ông. Nhưng một thiếu nữ Giuđa không chiều theo tội ác của ông. Vậy bây giờ, ông hãy nói cho tôi biết ông đã bắt được hai người phạm tội dưới cây gì?” Ông ta trả lời: “Dưới cây sồi”. Đaniel liền nói: “Cả ông nữa, ông hoàn toàn nói dối, cho nên thiên thần Chúa, tay cầm gươm, chờ đợi phân thây tiêu diệt ông”.
Bấy giờ tất cả dân chúng hô lớn tiếng và chúc tụng Chúa đã cứu thoát những kẻ trông cậy vào Chúa. Đoạn họ nghiêm trị hai vị kỳ lão mà Đaniel đã minh chứng rằng hai ông đã vu khống, họ đã xử với hai ông như hai ông đã xử độc ác với kẻ khác. Chiếu theo luật Môsê, họ lên án xử tử hai ông, và ngày hôm đó máu người vô tội khỏi đổ oan.
Đó là lời Chúa.
Hoặc đọc bài vắn này: Đn 13, 41c-62
Trong những ngày ấy, dân chúng lên án tử hình bà Susanna. Bấy giờ bà Susanna kêu lớn tiếng rằng: “Lạy Chúa hằng hữu, Đấng thấu biết mọi bí ẩn và mọi sự trước khi xảy ra, Chúa biết họ làm chứng gian hại con; và đây con phải chết, dù con không làm điều gì mà họ ác ý vu khống cho con”.
Chúa nhậm lời bà. Khi họ dẫn bà đi xử tử, thì Chúa giục thần trí một đứa trẻ tên là Đaniel. Trẻ này kêu lớn rằng: “Còn tôi, tôi không vấy máu bà này”. Mọi người hướng mắt nhìn về đứa trẻ và nói: “Lời mi nói có ý nghĩa gì?” Đứa trẻ ra đứng giữa mọi người và nói: “Hỡi con cái Israel, các ngươi ngu muội thế sao, khi chưa xét xử và chưa biết sự thật thế nào, mà lại lên án một thiếu nữ Israel? Các người hãy xét xử lại, vì hai ông đã làm chứng dối hại bà”.
Bấy giờ dân chúng vội vã trở lại. Các kỳ lão nói với Đaniel: “Này, em hãy ngồi giữa chúng tôi và bảo cho chúng tôi, vì Thiên Chúa đã cho em danh dự của bậc kỳ lão”. Đaniel liền nói với họ: “Các người hãy tách biệt hai ông ra, và cho hai ông đứng xa nhau, rồi tôi xét xử hai vị kỳ lão cho”.
Khi hai ông đứng xa nhau, Đaniel gọi ông thứ nhất đến và nói: “Hỡi lão già độc ác, các tội xưa kia ông đã phạm, giờ đây lại tái phạm. Ông đã xét xử bất công, đã lên án kẻ vô tội và tha cho người có tội, mặc dầu có lời Chúa phán: ‘Ngươi chớ giết kẻ vô tội và người công chính’. Vậy nếu ông thấy bà Susanna phạm tội, thì hãy nói hai người phạm tội dưới cây gì?” Ông ta trả lời: “Dưới cây chò”. Đaniel liền nói: “Đúng là ông nói dối. Đây sứ thần Chúa được lệnh phân thây ông”. Đaniel cho ông ta lui ra, và bảo dẫn ông kia đến. Đaniel nói với ông này rằng: “Hỡi dòng giống Canaan, chứ không phải dòng giống Giuđa, sắc đẹp đã mê hoặc ông, và tình dục đã làm cho tâm hồn ông ra đồi bại. Ông đã cư xử như thế đối với các thiếu nữ Israel, các cô vì sợ mà phạm tội với ông. Nhưng một thiếu nữ Giuđa không chiều theo tội ác của ông. Vậy bây giờ, ông hãy nói cho tôi biết ông đã bắt được hai người phạm tội dưới cây gì?” Ông ta trả lời: “Dưới cây sồi”. Đaniel liền nói: “Cả ông nữa, ông hoàn toàn nói dối, cho nên thiên thần Chúa, tay cầm gươm, chờ đợi phân thây tiêu diệt ông”.
Bấy giờ tất cả dân chúng hô lớn tiếng và chúc tụng Chúa đã cứu thoát những kẻ trông cậy vào Chúa. Đoạn họ nghiêm trị hai vị kỳ lão mà Đaniel đã minh chứng rằng hai ông đã vu khống; họ đã xử với hai ông như hai ông đã xử độc ác với kẻ khác. Chiếu theo luật Môsê, họ lên án xử tử hai ông, và ngày hôm đó máu người vô tội khỏi đổ oan.
Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 22, 1-3a. 3b-4. 5. 6
Đáp: Dù bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con (c. 5ab).
Xướng:
1) Chúa chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi; trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi; tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng. – Đáp.
2) Ngài dẫn tôi qua những con đường đoan chính, sở dĩ vì uy danh Người. (Lạy Chúa), dù bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con. Cây roi và cái gậy của Ngài, đó là điều an ủi lòng con. – Đáp.
3) Chúa dọn ra cho con mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối phương. Đầu con thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu con đầy tràn chan chứa. – Đáp.
4) Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi, hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài. – Đáp.
CÂU XƯỚNG TRƯỚC PHÚC ÂM: 2 Cr 6, 2b
Đây là lúc thuận tiện, đây là ngày cứu độ.
PHÚC ÂM: Ga 8, 12-20
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
“Ta là sự sáng thế gian”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu nói với những người biệt phái rằng: “Ta là sự sáng thế gian. Ai theo Ta sẽ không đi trong tối tăm, nhưng sẽ có ánh sáng ban sự sống”. Những người biệt phái nói: “Ông tự làm chứng cho mình, nên chứng của ông không xác thực”.
Chúa Giêsu trả lời: “Cho dầu Ta tự làm chứng về Ta, thì chứng của Ta cũng xác thực, vì Ta biết rõ Ta từ đâu tới và đi về đâu. Còn các ông, các ông không biết Ta từ đâu tới, cũng chẳng biết Ta đi đâu. Các ông đoán xét theo xác thịt; còn Ta, Ta không đoán xét ai. Hoặc nếu Ta có đoán xét, thì sự đoán xét của Ta cũng xác thực, bởi vì không phải chỉ có mình Ta, nhưng còn có Cha Ta là Đấng đã sai Ta. Vả lại trong luật của các ông có ghi: Chứng của hai người thì xác thực. Ta tự làm chứng về Ta, và Đấng đã sai Ta, là Chúa Cha, cũng làm chứng cho Ta nữa”.
Họ nói: “Cha của ông đâu?” Chúa Giêsu trả lời: “Các ông không biết Ta, cũng chẳng biết Cha Ta. Nếu các ông biết Ta thì cũng sẽ biết Cha Ta”.
Chúa Giêsu nói những lời trên gần nơi để Kho Tiền, khi Người giảng dạy trong đền thờ. Thế mà không ai bắt Người, vì chưa đến giờ Người.
Đó là lời Chúa.
_______________________________
I/. BÀI SUY NIỆM (Ga 8, 12-20)
“TA LÀ SỰ SÁNG THẾ GIAN”.
Đó là lời khẳng định của Chúa Giêsu với người Biệt phái. Không những Ngài là Ánh sáng thế thế gian mà Ngài còn khẳng định:
“AI THEO TA SẼ KHÔNG ĐI TRONG TỐI TĂM, NHƯNG SẼ CÓ ÁNH SÁNG BAN SỰ SỐNG” (Ga 8, 12).
Có lẽ “ÁNH SÁNG – BÓNG TỐI” là một trong những chủ đề lớn trong Phúc âm Gioan, và ngay lời tựa mở đầu cuốn Phúc âm, Gioan đã viết:
“Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người.
Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người.
Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận.
Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa. (Ga 1, 9 – 12).
“Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người.
Là ánh sáng thật, chứ không phải ánh sáng giả tạo, ánh sáng gian dối, ánh sáng cuả những hiệu ứng.
Trên trần gian có biết bao thứ ánh sáng, ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, ánh sáng của điện khí hóa, ánh sáng của những học thuyết sai lầm. Tất cả các thứ ánh sáng đó không thể đem lại ơn cứu rỗi cho con người, ngoại trừ ÁNH SÁNG CHÚA KITÔ.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, thánh Gioan muốn nói đến ánh sáng và bóng tối trong mối tương quan giữa sự thật và gian dối. Qua đó, ngài mời gọi mỗi kitô hữu hãy là con cái của ánh sáng và làm chứng cho sự thật và đứng về phía sự thật trong mọi cảnh vực của cuộc sống.
Nhìn vào thực trạng xã hội hiện nay, chúng ta thấy bóng tối của sự gian dối đã đi vào mọi ngõ ngách, mọi lĩnh vực, từ kính tế, chính trị và ngay cả trong những ngành được coi là ngành có trách nhiệm phải bảo vệ, làm chứng và đứng về phía sự thật thì dường như cũng để cho bóng tối của sự gian dối len lỏi vào như giáo dục, y tế và pháp luật.
Thật vậy, Kitô hữu chúng ta đang sống trong thời đại “Điện khí hóa”, ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng đầy ánh sáng. Ánh sáng lung linh, huyền ảo, nhất là trong những đại lễ như Giáng sinh, Phục sinh,… tất cả mọi miền đều bừng sáng, ngay tại các ngõ ngách, hang cùng ngõ hẻm.
Đó là thứ ánh sáng vật lý, không phải là ánh sáng của Chúa Kitô.
Xét trên bình diện siêu nhiên, thế giới này đang CHÌM NGẬP TRONG BÓNG TỐI, bóng tối của sự gian dối, thủ đoạn, lừa lọc, bạo lực, bóng tối của sự ích kỷ và văn hóa sự chết.
Xã hội Việt Nam hôm nay đang bị bao phủ một màn đêm, bao tệ nạn đang hoành hành, nào là xì ke, ma túy, ma túy đá, xâm hại tình dục, ăn chơi thác loạn, tham nhũng tràn lan, nạo phá thai, hàng gian, hàng giả, hàng độc hại, ô nhiễm môi trường,… Đất nước này sẽ đi về đâu nếu không phải đang đến chỗ hủy diệt.
Tất cả chỉ vì người ta không chịu đón nhận Ánh sáng của Chúa Kitô, như Gioan viết: “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận”.
Những ai đón nhận Chúa Giêsu, họ sẽ không đi trong tối tăm, nhưng sẽ có ánh sáng ban sự sống, có nghĩa họ sẽ trở nên con Thiên Chúa.
“TA LÀ SỰ SÁNG THẾ GIAN. AI THEO TA SẼ KHÔNG ĐI TRONG TỐI TĂM, NHƯNG SẼ CÓ ÁNH SÁNG BAN SỰ SỐNG “.
Là một mạc khải vĩ đại của Chúa trong Chương 8 trong thời gian diễn ra Lễ Lều.
Nhưng người Biệt phái lại đòi hỏi chứng cứ cho những lời đó. Họ nói:
“Ông tự làm chứng cho mình, nên chứng của ông không xác thực”
Người Biệt phái nói đúng, vì chính Chúa cũng đã nói:
“Nếu tôi làm chứng về chính mình, thì lời chứng của tôi không thật” (Ga 5, 31).
Nhưng trong Bài Tin mừng hôm nay, Chúa lại nói:
“Chúa Giêsu trả lời: “Cho dầu Ta tự làm chứng về Ta, thì chứng của Ta cũng xác thực, vì Ta biết rõ Ta từ đâu tới và đi về đâu. Còn các ông, các ông không biết Ta từ đâu tới, cũng chẳng biết Ta đi đâu”. (Ga 8, 14).
Quả đúng như vậy, ngày nay trong các phiên tòa, ngoài việc đòi hỏi các lời chứng của những người khác, Bị cáo vẫn có quyền TỰ BIỆN HỘ CHO MÌNH, đó là lời chứng của chính người đang bị thẩm vấn.
Nhưng vấn đề lời chứng đó có đúng và khách quan không hay chủ quan.
Để cho lời chứng của bị cáo được đúng thì đòi hỏi bị cáo phải biết rõ về mình.
Đối với Chúa Giêsu, Ngài biết rõ Ngài từ đâu tới và đi về đâu. Như vậy: “Cho dầu Ta tự làm chứng về Ta, thì chứng của Ta cũng xác thực”.
Còn với phàm nhân, thì tòa án luôn đòi hỏi chứng cứ từ phía khác chứ không phải bị cáo, và những người làm chứng này phải tuyên thệ nói sự thật.
Nhưng Cho dù có thực hiện đầy đủ các thủ tục tòa án đi nữa, thì vẫn xảy ra các vụ oan sai, vì người làm chứng có sự gian dối, che lấp, lắt léo, cho dù bản thân người làm chứng có uy tín, có địa vị trong xã hội.
Như ta thấy rõ trong Bài đọc I, Trích sách Tiên tri Đaniel.
Trong bài đọc I, ta thấy hai vị kỳ mục, những người được dân tin tưởng đặt làm thẩm phán để cầm cân nảy mực, để bảo vệ công lý và sự thật, thế mà vì tư dục họ đã bẻ gẫy sự thật, đã cáo gian bà Su-san-na, một người ngay chính, đầy lòng trông cậy vào Chúa.
Như vậy, hôm nay Chúa tự làm chứng cho mình và lời chứng cuả Ngài xác thực, vì Ngài nói:
“Cho dầu Ta tự làm chứng về Ta, thì chứng của Ta cũng xác thực, vì Ta biết rõ Ta từ đâu tới và đi về đâu”.
Chúa làm chứng cho Ngài:
“Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống”.
Lời mạc khải đó đã được chứng minh trong cuộc sống:
Bất cứ ai tin theo Chúa và đi theo Ngài, họ sẽ không đi trong bóng tối và họ đã nhận được sự sống do Ánh sáng Chúa Kitô đem lại.
Lịch sử của Giáo hội, cuộc đời của các thánh nhân trải qua hàng ngàn năm đã chứng minh điều đó. Bằng chứng:
Khi mừng Lễ Các Thánh Nam nữ, ta sẽ chứng kiến cảnh nhộn nhịp trên trời, như Gioan trong sách Khài huyền đã viết:
“Tôi là Gioan, tôi đã nhìn thấy đoàn người đông đảo không thể đếm được, họ thuộc đủ mọi nước, mọi chi họ, mọi dân tộc và mọi thứ tiếng. Họ đứng trước ngai vàng và trước mặt Con Chiên, mình mặc áo trắng tinh, tay cầm nhành lá thiên tuế. Họ lớn tiếng tung hô rằng: “Kính lạy Thiên Chúa chúng tôi, Ðấng ngự trên ngai vàng, và Con Chiên” (Kh 7, 9 – 10).
Số người tin và đi theo Chúa Kitô đông vô kể và bây giờ họ đang sống trong Ánh sáng Chúa Kitô
Lời Chúa mac khải hôm nay:
“TA LÀ SỰ SÁNG THẾ GIAN. AI THEO TA SẼ KHÔNG ĐI TRONG TỐI TĂM, NHƯNG SẼ CÓ ÁNH SÁNG BAN SỰ SỐNG”
Nếu lời mạc khải đó không đúng thì sẽ không có cảnh nhộn nhịp trên Thiên quốc mà Gioan đã nhìn thấy như vậy.
Bài Tin mừng hôm nay là cuộc Tranh luận về lời chứng của Đức Giê-su liên quan đến bản thân Người.
Cho ta thấy lời Chúa nói rất chính xác:
“Cho dầu Ta tự làm chứng về Ta, thì chứng của Ta cũng xác thực, vì Ta biết rõ Ta từ đâu tới và đi về đâu”.
Như vậy Kitô hữu chúng ta không cần đi tìm lời chứng ở đâu khác vì lời chứng đó đã ở ngay bản thân Chúa Giêsu.
Trong tuần lễ chuẩn bị bước vào Tuần thánh, ta càng xác tín mạnh mẽ hơn nữa vào Chúa, và bước theo Chúa vào Cuộc Khổ nạn, vì:
“AI THEO TA SẼ KHÔNG ĐI TRONG TỐI TĂM, NHƯNG SẼ CÓ ÁNH SÁNG BAN SỰ SỐNG”.
Với một vài suy niệm ngắn ngủi trên chúng ta cùng nhau bước vào Bài Tin mừng:
_______________________________________
II/. BÀI CHIA SẺ (Ga 8, 12-20)
KHI ẤY, CHÚA GIÊSU NÓI VỚI NHỮNG NGƯỜI BIỆT PHÁI RẰNG: “TA LÀ SỰ SÁNG THẾ GIAN. AI THEO TA SẼ KHÔNG ĐI TRONG TỐI TĂM, NHƯNG Sẽ CÓ ÁNH SÁNG BAN SỰ SỐNG”.
Bài Tin mừng hôm nay đi liền sau câu truyện Người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình.
Chúng ta đang ở trong thời gian Lễ Lều của người Do Thái, diễn ra 7 ngày.
Sau khi cứu người phụ nữ bị bắt vì phạm tội ngoại tình kia thoát khỏi cuộc ném đá của Luật sĩ và Biệt phai. Chúa lại vào Đền thờ để tiếp tục giảng dạy cho dân chúng.
Nếu đọc Phúc âm của Gioan, ta sẽ thấy ngay cái bố cục sau đây dành cho mỗi chương:
+ Khởi đầu là một dấu lạ, phép lạ hay một sự kiện.
+ Tiếp đến Chúa mạc khải cho người Do thái về một mầu nhiệm, hay có khi là cả một diễn từ liên quan đến dấu lạ đó.
+ Cuối cùng là cuộc tranh luận giữa Chúa và người Do Thái, cụ thể là giới lãnh đao về diễn từ, mạc khải.
Bài Tin mừng hôm nay cũng theo bố cục trên:
Sau khi cứu người phụ nữ khỏi bị ném đá.
1/. Chúa mạc khải cho người Do Thái biết Ngài là ÁNH SÁNG THẾ GIAN.
“TA LÀ SỰ SÁNG THẾ GIAN. AI THEO TA SẼ KHÔNG ĐI TRONG TỐI TĂM, NHƯNG SẼ CÓ ÁNH SÁNG BAN SỰ SỐNG”
SỰ SÁNG – SỰ SỐNG:
Đó là 2 cụm từ Chúa Giêsu muốn mac khải về Ngài và đó cũng là 2 chủ đề lớn trong Phúc âm Gioan.
Hai cụm từ này luôn đi liền với nhau: Không thể có sự sống nếu không có sự sáng và ngược lại.
Bằng chứng đó rất cụ thể. Nếu ngày nào mặt trời không còn chiếu sáng thì mọi sinh vật trên trái đất này sẽ chết vì mất năng lượng.
Người phụ nữ phạm tội ngoại tình đã được cứu sống trong Chúa nhật V Mùa Chay là một bằng chứng hùng hồn.
Như vậy có sự sáng thì mới có sự sống. Chúa Giêsu chính là SỰ SÁNG – SỰ SỐNG cho thế gian.
Nếu không có Chúa Giêsu hay gạt Ngài ra ngoài cuộc sống trần gian thì thế giới này sẽ bị hủy diệt bởi chính sự tối tăm và tội lỗi.
Chúng ta bước sang phần hai:
Cuộc Tranh luận về lời chứng của Đức Giê-su liên quan đến bản thân Người
“NHỮNG NGƯỜI BIỆT PHÁI NÓI: “ÔNG TỰ LÀM CHỨNG CHO MÌNH, NÊN CHỨNG CỦA ÔNG KHÔNG XÁC THỰC”.
Người Biệt phái không phục vì lý do Chúa tự làm chứng cho Ngài. Vì họ căn cứ vào Lời Chúa đã nói: “Nếu tôi làm chứng về chính mình, thì lời chứng của tôi không thật” (Ga 5, 31).
CHÚA GIÊSU TRẢ LỜI: “CHO DẦU TA TỰ LÀM CHỨNG VỀ TA, THÌ CHỨNG CỦA TA CŨNG XÁC THỰC, VÌ TA BIẾT RÕ TA TỪ ĐÂU TỚI VÀ ĐI VỀ ĐÂU. CÒN CÁC ÔNG, CÁC ÔNG KHÔNG BIẾT TA TỪ ĐÂU TỚI, CŨNG CHẲNG BIẾT TA ĐI ĐÂU.
Tại sao người Biệt Phái lại dám cho Lời chứng của Chúa không xác thực. Họ không biết Chúa Giêsu từ đâu tới và cũng không biết Ngài đi đâu mà dám quả quyết lời chứng của Chúa không xác thực.
Muốn xác quyết về một người nào, ta phải biết rõ nhân thân của người đó, tức phải biết rõ xuất xứ và cả hoàn cảnh sống của người đó. Nếu không nắm được những thông tin quan trọng này thì mọi lời nói của ta về người đó chỉ là hàm hồ, nhảm nhí.
CÁC ÔNG ĐOÁN XÉT THEO XÁC THỊT; CÒN TA, TA KHÔNG ĐOÁN XÉT AI. HOẶC NẾU TA CÓ ĐOÁN XÉT, THÌ SỰ ĐOÁN XÉT CỦA TA CŨNG XÁC THỰC, BỞI VÌ KHÔNG PHẢI CHỈ CÓ MÌNH TA, NHƯNG CÒN CÓ CHA TA LÀ ĐẤNG ĐÃ SAI TA. VẢ LẠI TRONG LUẬT CỦA CÁC ÔNG CÓ GHI: CHỨNG CỦA HAI NGƯỜI THÌ XÁC THỰC. TA TỰ LÀM CHỨNG VỀ TA, VÀ ĐẤNG ĐÃ SAI TA, LÀ CHÚA CHA, CŨNG LÀM CHỨNG CHO TA NỮA.
Khi không biết Chúa Giêsu từ đâu tới và đi về đâu mà dám nói lời của Ngài không xác thực, thì theo Chúa, đó là những lời xét đoán theo xác thịt, theo dục vọng.
Để trả lời, Đức Giê-su không dựa vào lời chứng của bất cứ ai, nhưng chỉ dựa vào lời nói của chính mình và lời của Chúa Cha:
Tôi có làm chứng cho chính mình đi nữa, thì lời chứng của tôi vẫn là chứng thật, bởi vì tôi biết tôi từ đâu tới và đi đâu. Tôi làm chứng cho chính mình, và Chúa Cha là Đấng đã sai tôi cũng làm chứng cho tôi.
Cũng như khi nói về căn tính «Người Con» của Ngài, về tương quan duy nhất và đồng nhất của Ngài với Thiên Chúa (Ga 5, 17-30), Đức Giê-su không dựa vào bất cứ văn bản Kinh Thánh nào hay lời chứng của bất cứ ai, kể cả ngôn sứ Gioan Tẩy Giả (Ga 5, 31-47). Ngài chỉ khẳng định mình «cách không không» như thế thôi.
Tại sao vậy?
Đơn giản, vì đó là chân lý liên quan đến ngôi vị không có bằng chứng nào khác ngoài chính mình. Muốn nghiệm xem có là thật hay không, thì không có cách nào khác, là đến gặp gỡ, đón nhận, là sống với và sống nhờ ; tương tự để biết trái soài thơm ngon hay không, người ta chỉ có thưởng thức trực tiếp mà thôi !
“HỌ NÓI: “CHA CỦA ÔNG ĐÂU?” CHÚA GIÊSU TRẢ LỜI: “CÁC ÔNG KHÔNG BIẾT TA, CŨNG CHẲNG BIẾT CHA TA. NẾU CÁC ÔNG BIẾT TA THÌ CŨNG SẼ BIẾT CHA TA”.
Cuôc tranh luận lúc này không dừng lại ở Chúa Giêsu nữa mà đã chuyển qua một đối tượng khác là CHÚA CHA.
Vì Chúa nói: “CHÚA CHA, CŨNG LÀM CHỨNG CHO TA NỮA” nên người Biệt phái muốn biết Chúa Cha là Đấng nào, có phải là Thiên Chúa mà họ đang tôn thờ trong Đền thờ Giêrusalem này không?
Khi họ nói: “CHA CỦA ÔNG ĐÂU?”, chứng tỏ họ nghĩ rằng Thiên Chúa mà họ đang tôn thờ không phải là Chúa Cha, Cha của Chúa Giêsu.
Chính Chúa đã xác quyết, Thiên Chúa mà họ đang tôn thờ trong Đền thờ là Cha của Ngài khi Chúa đuồi bọn buôn bán ra khỏi đền thờ, Ngài nói: “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán” (Ga 2, 16).
Nhân tiện Chúa cũng mạc khải cho họ Mầu nhiệm “ Ta và Cha Ta là Một” khi Ngài nói:
“CÁC ÔNG KHÔNG BIẾT TA, CŨNG CHẲNG BIẾT CHA TA. NẾU CÁC ÔNG BIẾT TA THÌ CŨNG SẼ BIẾT CHA TA
CHÚA GIÊSU NÓI NHỮNG LỜI TRÊN GẦN NƠI ĐỂ KHO TIỀN, KHI NGƯỜI GIẢNG DẠY TRONG ĐỀN THỜ. THẾ MÀ KHÔNG AI BẮT NGƯỜI, VÌ CHƯA ĐẾN GIỜ NGƯỜI”.
Chính tại vị trí này Chúa đã chứng kiến cảnh bà góa bỏ 2 đồng xu nhỏ vào thùng tiền, đó là nơi công khai, gần bàn thờ “THẾ MÀ KHÔNG AI BẮT NGƯỜI, VÌ CHƯA ĐẾN GIỜ NGƯỜI”.
Cái điệp khúc đó cứ lặp đi lặp lại trong Phúc âm Gioan.
Amen.
___________________________________
Giuse Nguyễn Viết Tâm.

