Diễn từ Công việc của Chúa Con (tiếp theo và hết).
“CÓ NGƯỜI TỐ CÁO CÁC NGƯƠI, ĐÓ LÀ MÔSÊ, NGƯỜI MÀ CÁC NGƯƠI VẪN TIN TƯỞNG”.
BÀI ĐỌC I: Xh 32, 7-14
“Xin Chúa tỏ lòng khoan dung đối với tội lỗi dân Chúa”.
Trích sách Xuất Hành.
Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Môsê rằng: “Ngươi hãy đi xuống; dân mà ngươi dẫn ra khỏi đất Ai-cập đã phạm tội. Chúng đã sớm bỏ đường lối Ta đã chỉ dạy cho chúng, chúng đã đúc tượng bò con và sấp mình thờ lạy nó; chúng đã dâng lên nó của lễ hiến tế và nói rằng: “Hỡi Israel, này là Thiên Chúa ngươi, Đấng đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai-cập”. Chúa phán cùng Môsê: “Ta thấy rõ dân này là một dân cứng cổ. Ngươi hãy để Ta làm, Ta sẽ nổi cơn thịnh nộ với chúng và sẽ huỷ diệt chúng, rồi Ta sẽ làm cho ngươi trở nên tổ phụ một dân tộc vĩ đại”.
Môsê van xin Chúa là Thiên Chúa của ông rằng: “Lạy Chúa, tại sao Chúa nổi cơn thịnh nộ với dân mà Chúa đã dùng quyền lực và cánh tay hùng mạnh đưa ra khỏi đất Ai-cập? Xin Chúa đừng để cho người Ai-cập nói rằng: “Người đã khéo dẫn họ đến đây, để giết họ trên núi và huỷ diệt họ khỏi mặt đất”. Xin Chúa nguôi cơn giận và tỏ lòng khoan dung đối với tội lỗi dân Chúa. Xin Chúa nhớ đến Abraham, Isaac, và Israel tôi tớ Chúa, vì chính Chúa đã thề hứa rằng: “Ta sẽ làm cho con cháu các ngươi sinh sản ra nhiều như sao trên trời, Ta sẽ ban cho con cháu các ngươi toàn cõi xứ này như lời Ta đã hứa, và các ngươi sẽ chiếm hữu xứ này mãi mãi”. Chúa đã nguôi cơn giận, không thực hiện điều dữ mà Người đe doạ phạt dân Người.
Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 105, 19-20. 21-22. 23
Đáp: Lạy Chúa, xin nhớ chúng con khi gia ân huệ cho dân Ngài (c. 4a).
Xướng:
1) Họ đã đúc con bò tại Horeb, và lễ bái thần tượng đã đúc bằng vàng. Họ đem vinh quang của mình đánh đổi lấy hình tượng con bò ăn cỏ. – Đáp.
2) Họ đã quên Thiên Chúa là Đấng cứu độ mình, Đấng đã làm những điều trọng đại bên Ai-cập, Đấng đã làm những điều kỳ diệu trên lãnh thổ họ Cam, và những điều kinh ngạc nơi Biển Đỏ. – Đáp.
3) Chúa đã nghĩ tới chuyện tiêu diệt họ cho rồi, nếu như Môsê là người Chúa chọn, không đứng ra cầu khẩn với Ngài, để Ngài nguôi giận và đừng tiêu diệt họ. – Đáp.
CÂU XƯỚNG TRƯỚC PHÚC ÂM: Ed 33, 11
Chúa phán: “Ta không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối và được sống”.
PHÚC ÂM: Ga 5, 31-47
“Có người tố cáo các ngươi, đó là Môsê, người mà các ngươi vẫn tin tưởng”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu nói với dân Do-thái rằng: “Nếu chính Ta làm chứng về Mình, thì chứng của Ta sẽ không xác thực. Có một Đấng khác làm chứng về Ta, và Ta biết chứng Người làm về Ta thì xác thực. Các ngươi đã sai người đi hỏi Gioan, và Gioan đã làm chứng cho sự thật. Phần Ta, Ta không cần chứng của loài người, nhưng Ta nói những điều này để các ngươi được cứu thoát. Gioan là cây đèn cháy sáng. Các ngươi cũng muốn vui hưởng ánh sáng đó một thời gian. Nhưng Ta có một bằng chứng hơn chứng của Gioan: vì công việc Chúa Cha đã giao cho Ta hoàn thành, là chính công việc Ta đang làm. Các việc đó làm chứng về Ta rằng Chúa Cha đã sai Ta. Và Chúa Cha, Đấng đã sai Ta, chính Người cũng làm chứng về Ta. Nhưng chưa bao giờ các ngươi được nghe tiếng Người, chưa bao giờ nhìn thấy mặt Người, và lời Người, các ngươi cũng chẳng giữ lại được, vì các ngươi không tin Đấng Người đã sai đến. Các ngươi tra cứu Sách Thánh, vì tưởng rằng trong đó các ngươi sẽ tìm thấy sự sống muôn đời; chính Sách Thánh lại làm chứng về Ta, vậy mà các ngươi vẫn không chịu đến với Ta để được sống.
Ta không tìm vinh quang nơi loài người. Nhưng Ta biết các ngươi không có lòng yêu mến Thiên Chúa. Ta đến nhân danh Chúa Cha, nhưng các ngươi không chịu đón nhận. Nếu có một người nào khác nhân danh mình mà đến, các ngươi sẽ đón nhận nó. Các ngươi là những người nhận vinh quang lẫn nhau mà không tìm vinh quang do một Thiên Chúa, thì làm sao các ngươi có thể tin được? Các ngươi đừng tưởng rằng Ta sẽ tố cáo các ngươi với Chúa Cha. Kẻ tố cáo các ngươi là Môsê, tức là người mà các ngươi vẫn tin tưởng. Vì nếu các ngươi tin Môsê, thì có lẽ các ngươi cũng đã tin Ta, bởi vì chính Môsê đã viết về Ta. Nhưng mà nếu các ngươi không tin điều Môsê đã viết, thì làm sao các ngươi tin lời Ta được?”
Đó là lời Chúa.
_____________________________________
I/. BÀI SUY NIỆM (Ga 5, 31-47)
“CÓ NGƯỜI TỐ CÁO CÁC NGƯƠI, ĐÓ LÀ MÔSÊ, NGƯỜI MÀ CÁC NGƯƠI VẪN TIN TƯỞNG”.
Hôm nay, thứ Năm tuần IV Mùa Chay chúng ta vẫn tiếp tục ở trong DIỄN TỪ CÔNG VIỆC CỦA CHÚA CON.
Như ta biết các diễn từ trong Phúc âm Gioan bao giờ cũng có bố cục như sau:
+ Công bố diễn từ.
+ Làm chứng cho diễn từ.
+ Tố cáo những ai không công nhận diễn từ.
1/. CÔNG BỐ DIỄN TỪ.
Bài Tin mừng hôm qua (Ga 5, 17 – 30), Chúa Giêsu đã công bố diễn từ CÔNG VIỆC CỦA CHÚA CON. Gioan viết:
“”Thật, tôi bảo thật các ông: người Con không thể tự mình làm bất cứ điều gì, ngoại trừ điều Người thấy Chúa Cha làm; vì điều gì Chúa Cha làm, thì người Con cũng làm như vậy. Quả thật, Chúa Cha yêu người Con và cho người Con thấy mọi điều mình làm, lại sẽ còn cho người Con thấy những việc lớn lao hơn nữa, khiến chính các ông cũng phải kinh ngạc” (Ga 5, 19 – 20).
Bài Tin mừng hôm nay (Ga 5, 31-47), Gioan sẽ đề cập đến 2 phần còn lại:
2/. LÀM CHỨNG DIỄN TỪ.
Chúa khẳng định: Ngài không phải là người làm chứng cho diễn từ vì: “Nếu chính Ta làm chứng về Mình, thì chứng của Ta sẽ không xác thực” (Ga 5, 31).
Vì muốn làm chứng cho một ai đó, thì người làm chứng không được là người đó, mà phải là người khác.
Sẽ có rất nhiều nhân tố đứng ra làm chứng cho Chúa Giêsu là Con được Cha sai đến.
Gioan liệt kê ra sau đây:
+ Chúa Cha.
+ Gioan Tẩy Giả.
+ Sách Thánh
+ Chính phép lạ Chúa Giêsu đã thực hiện
Tất cả sẽ làm chứng cho Chúa Giêsu được Chúa Cha sai đến.
Ta có thể chứng minh :
+ Gioan Tẩy Giả làm chứng, thánh sử Gioan viết:
““Hôm sau, ông Gio-an thấy Đức Giê-su tiến về phía mình, liền nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian. Chính Người là Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng: Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi” (Ga 1, 29 – 30).
+ Chúa Cha làm chứng, thánh sử Matthêu viết:
“Khi Đức Giê-su chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì các tầng trời mở ra. Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người. Và có tiếng từ trời phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người.” (Mt 3, 16 – 17).
+ Sách thánh làm chứng, theo thánh sử Luca:
“Đức Giêsu sau một thời gian hoạt động, đã trở về Nazareth và giảng dạy trong hội đường. Ngài đọc một đoạn sách về lời sấm của tiên tri Isaia (61,1-2) và Ngài kết luận: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh thánh mà quí vị vừa nghe”(Lc 4,21).
Theo đó, Ngài xác nhận mình là Messia mà tiên tri Isaia đã loan báo từ lâu. Với tư cách là Messia vừa được xức dầu tấn phong, Ngài được sai đi loan báo Tin mừng cho mọi người, nhất là những người nghèo hèn, khốn khổ… và công bố năm hồng ân của Thiên Chúa. Sứ vụ của Ngài là mở ra một kỷ nguyên hồng ân, tức là kỷ nguyên của Tin mừng.
+ Các phép lạ Chúa thực hiện đã làm chứng cho Chúa
Cuối cùng, là những phép lạ của Chúa Giêsu đã làm, sáng tỏ rằng Người được Chúa Cha sai đến cũng chính Thiên Chúa đã và đang hành động với Ngài và trong Ngài. Phúc Âm có ghi lại những việc làm của Chúa: Chữa bệnh, trừ quỷ, giảng dạy về Thiên Chúa và nói về Nước Trời, làm cho người chết sống lại, bênh vực những người nghèo khổ và bất công.
Nhưng Chúa Giêsu nói: “Phần Ta, Ta không cần chứng của loài người” (Ga 5, 34).
Thật đúng vậy, vì muốn làm chứng cho Chúa Giêsu, thì người đó phải sống trong đời sống nội tại của Thiên Chúa, tức người đó phải ở trong Ba Ngôi Thiên Chúa.
Thử hỏi có ai đã sống trong đời sống đó. Như vậy, Chúa không cần đến lời chứng của loài người.
Nhưng trên thực tế cả Thiên Chúa và loài người đều làm chứng cho Ngài, không những cả trong thời Cựu ước lẫn thời Tân ước.
CÒN CHÚNG TA THÌ SAO ?
Ktô hữu chúng ta đang sống trong thời hôm nay, mặc dù Chúa không cần đến lời chứng của ta, nhưng mỗi Kitô hữu đều có bổn phận và nghĩa vụ LÀM CHỨNG CHO CHÚA TRONG CHÍNH HOÀN CẢNH SỐNG CỦA MÌNH.
Nhất là trong Mùa Chay Thánh 2019, ta càng phải làm chứng cho Chúa thiết thực hơn nữa, rõ ràng hơn nữa. Ta làm chứng Chúa Giêsu là Đấng được Chúa Cha sai đến.
Muốn cho lời chứng của ta có giá trị thì ta phải sống thế nào để mọi người nhìn vào cuộc sống của ta đều nhận ra khuôn mặt của Đức Giêsu.
3/.TỐ CÁO NHỮNG NGƯỜI KHÔNG TIN VÀO DIỄN TỪ CÔNG VIỆC CỦA CHÚA CON.
Gioan viết:
“”CÓ NGƯỜI TỐ CÁO CÁC NGƯƠI, ĐÓ LÀ MÔSÊ, NGƯỜI MÀ CÁC NGƯƠI VẪN TIN TƯỞNG”.
“Các ngươi đừng tưởng rằng Ta sẽ tố cáo các ngươi với Chúa Cha. Kẻ tố cáo các ngươi là Môsê, tức là người mà các ngươi vẫn tin tưởng” (Ga 5, 45 – 47)
Như trong Bài đọc I đã viết:
Môsê van xin Chúa là Thiên Chúa của ông rằng: “Lạy Chúa, tại sao Chúa nổi cơn thịnh nộ với dân mà Chúa đã dùng quyền lực và cánh tay hùng mạnh đưa ra khỏi đất Ai-cập? Xin Chúa đừng để cho người Ai-cập nói rằng: “Người đã khéo dẫn họ đến đây, để giết họ trên núi và huỷ diệt họ khỏi mặt đất”.
Như vậy chính Môsê đã van xin Chúa nguôi giận với Dân Ngài. Nhưng Dân Ngài lại không tin vào Con Thiên Chúa được Chúa Cha sai đến. Vậy giờ đây chính Môsê đứng lên tố cáo họ”
DIỄN TỪ CÔNG VIỆC CỦA CHÚA CON đến đây kết thúc vì đã đầy đủ các phần chính.
Với một vài suy niệm ngắn ngủi trên, chúng ta cùng nhau bước vào Bài Tin mừng:
______________________________________
II/. BÀI CHIA SẺ (Ga 5, 31-47)
“KHI ẤY, CHÚA GIÊSU NÓI VỚI DÂN DO-THÁI RẰNG: “NẾU CHÍNH TA LÀM CHỨNG VỀ MÌNH, THÌ CHỨNG CỦA TA SẼ KHÔNG XÁC THỰC. CÓ MỘT ĐẤNG KHÁC LÀM CHỨNG VỀ TA, VÀ TA BIẾT CHỨNG NGƯỜI LÀM VỀ TA THÌ XÁC THỰC”.
Đứng trước một mạc khải quá cao vời và cũng xa lạ về Chúa Cha như vậy, độc giả, cũng như người Do Thái thời đó có thể đặt vấn đề:
Lấy gì làm bằng chứng cho Lời Chúa Giêsu vừa nói là xác thực. Ai sẽ làm chứng cho những lời đó.
Gioan không nói gì về đòi hỏi của người Do Thái, đòi Ngài phải làm chứng, vì ngay từ đầu họ đã không tin rồi, mà còn cho Chúa Giêsu lộng ngôn.
LÀM CHỨNG – BIỆN HỘ:
Chúa Giêsu thấu hiểu những suy nghĩ của họ mặc dù không nói ra, nên Ngài mới nói: “Nếu tôi làm chứng về chính mình, thì lời chứng của tôi không thật”. Có nghĩa, Chúa Giêsu muốn trả lời cho những suy nghĩ mà họ đang nghĩ, và lại bắt đầu những mạc khải cao siêu mới.
Trước tiên Chúa Giêsu khẳng định: Ngài sẽ không làm chứng về mình, sẽ có một Đấng khác làm chứng cho Ngài
Vâng đúng vậy, đây là nguyên tắc bất di bất dịch: Trước toà án, không ai đi làm chứng cho mình, sự làm chứng phải đến từ nơi khác, người làm chứng phải là người khác thì lời chứng mới có giá trị. Nhưng mình vẫn có quyền biện hộ cho mình trước tòa án, có quyền trình bày về mình. Người ta gọi đó là biện hộ, chứ không phải làm chứng.
Như vậy, những gì Chúa Giêsu nói với người Do Thái: không phải Ngài làm chứng về mình, mà là Chúa Giêsu đang biện hộ cho mình vậy.
“CÓ MỘT ĐẤNG KHÁC LÀM CHỨNG VỀ TA, VÀ TA BIẾT CHỨNG NGƯỜI LÀM VỀ TA THÌ XÁC THỰC”
Vậy đó là Đấng nào? Ai cũng biết: Khi đọc Phúc Âm của Gioan thì chính Chúa Cha đã làm chứng cho Chúa Con, và Chúa Giêsu đã xác quyết lời chúng đó xác thực.
Nhưng ở đây Chúa Giêsu chưa muốn đề cập ngay, Ngài muốn cho họ biết, trước khi xác định Đấng ấy, thì đã có lời chứng từ nhiều phía khác, và những lời chứng đó cũng đủ tính xác thực.
“CÁC NGƯƠI ĐÃ SAI NGƯỜI ĐI HỎI GIOAN, VÀ GIOAN ĐÃ LÀM CHỨNG CHO SỰ THẬT”
1/. LỜI CHỨNG CỦA GIOAN TẨY GIẢ.
“Chính các ông đã cử người đến gặp ông Gio-an, và ông ấy đã làm chứng cho sự thật.”
Thánh sử Gioan viết: “Và đây là lời chứng của ông Gio-an, khi người Do-thái từ Giê-ru-sa-lem cử một số tư tế và mấy thầy Lê-vi đến hỏi ông: “Ông là ai?” Ông tuyên bố thẳng thắn, ông tuyên bố rằng: “Tôi không phải là Đấng Ki-tô.” Họ lại hỏi ông: “Vậy thì thế nào? Ông có phải là ông Ê-li-a không? ” Ông nói: “Không phải.” – “Ông có phải là vị ngôn sứ chăng? ” Ông đáp: “Không.” (Ga 1, 19-21)
Hôm sau, ông Gio-an thấy Đức Giê-su tiến về phía mình, liền nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian. Chính Người là Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng: Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi.” (Ga 1, 29-30)
Gioan Tẩy Giả lúc này đang có uy tín rất lớn đối với người Do Thái. Nghe lời của ông, người ta từng hàng lớp lớp đến nghe ông giảng và chịu phép rửa. Uy tín của ông lớn đến nỗi, người Do Thái lầm tưởng: Ông là Đấng Cứu Thế.
Như vậy với lợi thế này, khi Gioan làm chứng cho ai, người ta sẽ tin, vì chính đời sống của ông và việc ông làm đảm bảo cho lời ông nói. Gioan đã làm chứng: Đức Giêsu là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian.
Gioan Tẩy Giả làm chứng cho sự thật và đã chết cho sự thật. Ông dũng cảm ngăn vua Hêrôđê không được cướp vợ anh mình, và việc này dẫn đến cái chết cho ông. Cái chết của ông làm tăng uy tín ông trước mặt người Do Thái, họ vô cùng ngưỡng mộ, và một hệ quả kéo theo, lời ông nói sẽ được họ ghi vào trong lòng.
Trong các lời Gioan Tẩy Giả nói, có một lời chứng: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian.” Và ngày nay Giáo hội đã nhắc lại lời này trong mỗi thánh lễ để tôn vinh Đức Giêsu: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian.”
“PHẦN TA, TA KHÔNG CẦN CHỨNG CỦA LOÀI NGƯỜI, NHƯNG TA NÓI NHỮNG ĐIỀU NÀY ĐỂ CÁC NGƯƠI ĐƯỢC CỨU THOÁT. GIOAN LÀ CÂY ĐÈN CHÁY SÁNG. CÁC NGƯƠI CŨNG MUỐN VUI HƯỞNG ÁNH SÁNG ĐÓ MỘT THỜI GIAN.
NHƯNG TA CÓ MỘT BẰNG CHỨNG HƠN CHỨNG CỦA GIOAN: VÌ CÔNG VIỆC CHÚA CHA ĐÃ GIAO CHO TA HOÀN THÀNH, LÀ CHÍNH CÔNG VIỆC TA ĐANG LÀM. CÁC VIỆC ĐÓ LÀM CHỨNG VỀ TA RẰNG CHÚA CHA ĐÃ SAI TA. VÀ CHÚA CHA, ĐẤNG ĐÃ SAI TA, CHÍNH NGƯỜI CŨNG LÀM CHỨNG VỀ TA.
“PHẦN TA, TA KHÔNG CẦN CHỨNG CỦA LOÀI NGƯỜI”:
Cho dù lời chứng của Gioan có tốt đẹp đến đâu, có xác thực đến đâu, thì nó vẫn là lời chứng của con người bằng xương bằng thịt. Chúa Giêsu không cần lời chứng như vậy.
Tại sao?
Vì rõ ràng muốn làm chứng về đời sống nội tại của Ba Ngôi, muốn làm chứng Thiên Chúa là Cha, Chúa Giêsu là Con, thì người làm chứng phải sống trong đời sống nội tại Ba Ngôi Thiên Chúa đó. Khi sống như vậy, người ấy mới hiểu và mới có thể làm chứng.
Nhưng thử hỏi rằng có ai được như vậy, nếu không phải phát xuất từ Thiên Chúa. Có nghĩa không một người nào trong con cái loài người có thể làm chứng cho Chúa Giêsu, như vậy Chúa mới nói: “Phần Ta, Ta không cần chứng của loài người”
“NHƯNG TA NÓI NHỮNG ĐIỀU NÀY ĐỂ CÁC NGƯƠI ĐƯỢC CỨU THOÁT. GIOAN LÀ CÂY ĐÈN CHÁY SÁNG. CÁC NGƯƠI CŨNG MUỐN VUI HƯỞNG ÁNH SÁNG ĐÓ MỘT THỜI GIAN”
Văn phong của thánh sử Gioan rất kỳ lạ: Ông khẳng định: Chúa Giêsu không cần đến lời chứng của loài người, cụ thể là của Gioan Tảy Giả, nhưng ở đây Chúa Giêsu lại làm chứng cho Gioan, thật là một nghịch lý. Gioan Tảy Giả làm chứng cho Chúa Giêsu, thì bây giờ Chúa Giêsu lại làm chứng cho ông.
Sự nghịch lý này thể hiện điều gì? Có ích lợi không?
Thưa: “ĐỂ CÁC NGƯƠI ĐƯỢC CỨU THOÁT”vì “Ông Gio-an là ngọn đèn cháy sáng”.
Thánh sử Gioan đã viết về ông như sau: “Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gio-an. Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng, để mọi người nhờ ông mà tin. Ông không phải là ánh sáng, nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng.” (Ga 1, 6-8). Như vậy ông cũng được sáng trong ánh sáng mà ông làm chứng, Đức Giêsu mới nói: “Ông Gio-an là ngọn đèn cháy sáng”.
Đức Giêsu đã xác nhận sự cao cả của Gioan khi nói: “Trong những người do người nữ sinh ra không ai cao trọng bằng Gioan Tẩy Giả, nhưng kẻ nhỏ hơn trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông” (Mt 11,11). Ngài khẳng định Gioan là một con con người cao cả, là ngọn đèn cháy sáng, như vậy người Do Thái không cần đi tìm bằng chứng ở đâu khác ngoài Gioan, họ cũng được cứu rỗi rồi.
“NHƯNG TA CÓ MỘT BẰNG CHỨNG HƠN CHỨNG CỦA GIOAN: VÌ CÔNG VIỆC CHÚA CHA ĐÃ GIAO CHO TA HOÀN THÀNH, LÀ CHÍNH CÔNG VIỆC TA ĐANG LÀM”
2/. LỜI CHỨNG TỪ NHỮNG VIỆC ĐỨC GIÊSU LÀM.
“Nhưng phần tôi, tôi có một lời chứng lớn hơn lời chứng của ông Gio-an: đó là những việc Chúa Cha đã giao cho tôi để tôi hoàn thành; chính những việc tôi làm đó làm chứng cho tôi rằng Chúa Cha đã sai tôi.”
Trong lần về thăm quê hương Nadarét, Đức Giêsu vào hội đường, người ta mời Ngài đọc và diễn giải lời Chúa. Chúa Giêsu mở sách thánh và đọc đúng đoạn tiên tri Isaia:
“Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa.” (Lc 4, 18-19)
Chúa Giê-su cuộn sách lại, trả cho người giúp việc hội đường, rồi ngồi xuống. Ai nấy trong hội đường đều chăm chú nhìn Người. Người bắt đầu nói với họ: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe.” Mọi người đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người. (Lc 4, 20-22).
Như vậy ngay thời Cựu ước đã tiên báo về Đức Giêsu, và Ngài đã thực hiện các phép lạ trong suốt thời gian rao giảng tin mừng. Ngài cho người què được đi, điếc được nghe, mù được sáng, câm được nói …… đặc biệt kẻ chết được sống lại.
Mỗi phép lạ Đức Giêsu thực hiện đều gây chấn động, dân chúng chỉ còn biết thán phục và tôn vinh. Người ta chỉ cần thành tâm thành ý, không mang sẵn mặc cảm, không mang sẵn thành kiến đều công nhận Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Chỉ có vậy Ngài mới làm được các phép lạ cả thể, còn với con người thì không thể làm được.
Như vậy, chính các việc Đức Giêsu làm, cũng đủ chứng minh Ngài được Chúa Cha sai đến chứ không thể khác đi được.
Nhưng người Do Thái vẫn không công nhận Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, các phép lạ Ngài thực hiện đã bị họ bóp méo, xuyên tạc, có khi còn cho Đức Giêsu dựa vào thế quỷ vương để làm.
“NHƯNG CHƯA BAO GIỜ CÁC NGƯƠI ĐƯỢC NGHE TIẾNG NGƯỜI, CHƯA BAO GIỜ NHÌN THẤY MẶT NGƯỜI, VÀ LỜI NGƯỜI, CÁC NGƯƠI CŨNG CHẲNG GIỮ LẠI ĐƯỢC, VÌ CÁC NGƯƠI KHÔNG TIN ĐẤNG NGƯỜI ĐÃ SAI ĐẾN”
Chúa Giêsu trách người Do Thái, sở dĩ họ không thấy được Chúa Cha, không để lời Ngài trong lòng họ, chỉ vì họ không chịu tin vào Đấng Chúa Cha sai đến. Chỉ khi nào họ tin vào Đấng được Chúa Cha sai đến họ mới có thể nhận biết Chúa Cha.
Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là Mầu nhiệm cao siêu nhất, quan trọng nhất trong Đạo Công Giáo, Một Thiên Chúa có Ba Ngôi, nhưng Ba Ngôi chỉ có Một Chúa. Đức Giêsu từng khẳng định: Ta và Cha Ta là Một.
Ta phải nói, đây là Mầu nhiệm gai góc nhất, gai góc ở chỗ, ta là con người tương đối, chịu lệ thuộc vào nhiều định luật vật lý, ta khó có thể hình dung được sự hiệp nhất Chúa Cha và Chúa Con thế nào. Ta không thể hình dung Chúa Cha ở trong Chúa Con và Chúa Con ở trong Chúa Cha ra sao.
Vì thế Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, trước hết phải được mặc khải từ phía Thiên Chúa, thứ hai ta phải có thái độ chân thành, không thành kiến, thứ ba ta phải có ơn Chúa mới có thể lãnh hội được. Lãnh hội, có nghĩa là tin, chứ không phải biến Mầu nhiệm thành cái gì để có thể nghiên cứu.
“VÌ CÁC NGƯƠI KHÔNG TIN ĐẤNG NGƯỜI ĐÃ SAI ĐẾN”
Với mầu nhiệm: “Ta và Cha Ta là Một”, như vậy: Ai không tin Chúa Giêsu thì cũng đồng nghĩa với việc không tin Chúa Cha. Ai không chịu nghe tiếng Chúa Giêsu, thì họ cũng không thể nghe được tiếng Chúa Cha.
Độc giả hẳn còn nhớ sự kiện ông Philipphê.
Gioan viết: “Ông Phi-líp-phê nói: “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện.” Đức Giê-su trả lời: “Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Phi-líp-phê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: “Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha”? Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao?” (Ga 14, 8-10).
Ngay như môn đệ, là người ở với Chúa thường xuyên, được Ngài dạy dỗ đến nơi đến chốn, thế mà các ông còn chưa xác tín được Chúa Cha ở trong Chúa Con thế nào, đối với các ông, Chúa Cha và Chúa Con vẫn là 02 thực thể tách biệt. Thấy Chúa Giêsu, Chúa Con chưa hẳn là thấy Chúa Cha, nên Philliphê mới xin Chúa Giêsu tỏ cho ông thấy Chúa Cha.
Đức Giêsu cũng hiểu nỗi khó khăn của người Do Thái, họ khó mà nuốt nổi lời Ngài nói. Nhưng Ngài muốn nói với họ, việc nhìn thấy Chúa Cha không gì khó hết, miễn là họ tin vào Ngài thì họ sẽ hiểu.
Không cần phải đi tìm chứng cứ đâu xa, cứ nhìn vào việc Ngài đã làm cũng đủ cho họ tin rồi, với những phép lạ Chúa Giêsu đã làm, thì chỉ có Thiên Chúa mới làm được mà thôi.
Muốn vậy, họ phải có thái độ chân thành. Cái thái độ chân thành, đó mới là vấn đề, vì chân thành đâu phải là cái gì ta có thể sờ được, thấy được, ta mới tin, mà là phải có một thái độ nội tâm bên trong, một con mắt đức tin.
Con mắt đức tin đó chỉ có đối với người chân thành, không thành kiến, không ganh ghét,….
“CÁC NGƯƠI TRA CỨU SÁCH THÁNH, VÌ TƯỞNG RẰNG TRONG ĐÓ CÁC NGƯƠI SẼ TÌM THẤY SỰ SỐNG MUÔN ĐỜI; CHÍNH SÁCH THÁNH LẠI LÀM CHỨNG VỀ TA, VẬY MÀ CÁC NGƯƠI VẪN KHÔNG CHỊU ĐẾN VỚI TA ĐỂ ĐƯỢC SỐNG.
3/. LỜI CHỨNG TỪ KINH THÁNH:
Người Do Thái, nhất là giới luật sĩ, Pharisêu,… họ rất am hiểu Kinh thánh, họ am hiểu Kinh thánh không những cho họ mà còn cho người khác, vì họ sẽ là người dạy dỗ dân chúng. Họ đi tìm sự sống đời đời, có nghĩa họ đi tìm thời gian Đấng Cứu Thế xuất hiện và tìm hiểu về thời Thiên Sai.
Họ thuộc lòng sách Tiên tri Isaia và nắm bắt thời Thiên Sai thế nào. Cái thời mà Isaia mô tả giống thời Chúa Giêsu, thời Thiên Sai. Như vậy, một cách mặc nhiên Kinh thánh cũng làm chứng về Chúa Giêsu. Rồi còn bao ngôn sứ khác cũng tiên báo về Ngài, đến phiên Đức Giêsu, Ngài đã thực hiện những lời tiên báo đó, để mọi lời tiên báo được ứng nghiệm.
Nhưng độc giả sẽ thấy có một điều vô lý:
Họ rất am tường Kinh thánh, thế mà họ lại không nhận ra Chúa Giêsu.
Hình như có cái gì che mắt họ.
Vâng, có cái gì đã che mắt họ, đó là thành kiến, ghen ghét,…. Thành kiến, ghen ghét, đó là bức tường dày đặc ngăn cản con người đến với sự thật.
Lịch sử nhân loại qua bao đời nay đã nói lên điều đó. Chỉ vì thành kiến, người ta có thể đổi trắng thành đen và ngược lại. Đối với Chúa Giêsu cũng thế, chỉ vì thành kiến mà họ đã không tin vào Ngài, họ không tin Chúa Giêsu được Chúa Cha sai đến, cho dù đã có rất nhiều lời chứng.
“TA KHÔNG TÌM VINH QUANG NƠI LOÀI NGƯỜI. NHƯNG TA BIẾT CÁC NGƯƠI KHÔNG CÓ LÒNG YÊU MẾN THIÊN CHÚA. TA ĐẾN NHÂN DANH CHÚA CHA, NHƯNG CÁC NGƯƠI KHÔNG CHỊU ĐÓN NHẬN.
NẾU CÓ MỘT NGƯỜI NÀO KHÁC NHÂN DANH MÌNH MÀ ĐẾN, CÁC NGƯƠI SẼ ĐÓN NHẬN NÓ. CÁC NGƯƠI LÀ NHỮNG NGƯỜI NHẬN VINH QUANG LẪN NHAU MÀ KHÔNG TÌM VINH QUANG DO MỘT THIÊN CHÚA, THÌ LÀM SAO CÁC NGƯƠI CÓ THỂ TIN ĐƯỢC?”
“TA KHÔNG TÌM VINH QUANG NƠI LOÀI NGƯỜI”
Đứng trước thái độ chống đối và luôn tìm cách giết Chúa, Chúa Giêsu khẳng định mạnh mẽ: Ngài không đến để tìm vinh quang nơi con người, thứ vinh quang rẻ tiền, mau qua, vinh quang đó có là gì trước vinh quang Thiên Chúa.
Người ta có thể tung hô, thán phục Chúa sau mỗi phép lạ Ngài thực hiện, những lời thán phục đó không thêm gì vào vinh quang Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu mà chỉ mưu cầu ích lợi cho con người mà thôi.
Chính vì không tìm vinh quang nơi loài người nên Chúa Giêsu vẫn khẳng khái mạc khải những màu nhiệm cao siêu về Chúa Cha là cái cớ để họ chống đối và phủ nhận.
Nếu Chúa Giêsu đi tìm vinh quang nơi con người, ắt hẳn Ngài sẽ phản bội sứ vụ của mình vì chỉ nói những lời dễ nghe, những lời có cánh, ru ngủ như các tay chính trị vẫn hay sử dụng.
“TA ĐẾN NHÂN DANH CHÚA CHA”
Chúa Giêsu khẳng định, Ngài đến trần gian là để thi hành Thánh ý Cha. Ngài đã từng nói: Lương thực của Thầy là làm theo ý Đấng đã sai Thầy. Ý Chúa Cha cần cho Ngài giống như lương thực cần cho con người.
Như vậy, Ngài không cần người đời tôn vinh, vì Ngài không đến để làm theo ý riêng, nhưng là để vinh danh Cha, Đấng mà con người phải tôn vinh,. Nhưng nếu người đời tôn vinh Ngài, cũng là tôn vinh Chúa Cha, vì Ngài và Cha là Một.
“CÁC NGƯƠI LÀ NHỮNG NGƯỜI NHẬN VINH QUANG LẪN NHAU MÀ KHÔNG TÌM VINH QUANG DO MỘT THIÊN CHÚA”
Nhưng con người qua mọi thời đại, có mấy khi họ biết nhìn vào những kỳ công của Thiên Chúa, có mấy khi họ nhận ra ơn lành của Thiên Chúa ban xuống cho họ.
Trong tất cả các sự kiện, họ chỉ nhìn thấy mình trong đó, nhìn thấy mình để vênh vang tự đắc, để tự cao tự đại, và rốt cuộc họ tôn vinh lẫn nhau mà gạt Thiên Chúa sang một bên.
Chính vì thế Đức Giêsu nói: “Các ông tôn vinh lẫn nhau và không tìm kiếm vinh quang phát xuất từ Thiên Chúa duy nhất, thì làm sao các ông có thể tin được?”. Khi ta không biết tôn vinh Thiên Chúa trong đời ta, thì làm sao ta có thể thấy Thiên Chúa.
“CÁC NGƯƠI ĐỪNG TƯỞNG RẰNG TA SẼ TỐ CÁO CÁC NGƯƠI VỚI CHÚA CHA. KẺ TỐ CÁO CÁC NGƯƠI LÀ MÔSÊ, TỨC LÀ NGƯỜI MÀ CÁC NGƯƠI VẪN TIN TƯỞNG. VÌ NẾU CÁC NGƯƠI TIN MÔSÊ, THÌ CÓ LẼ CÁC NGƯƠI CŨNG ĐÃ TIN TA, BỞI VÌ CHÍNH MÔSÊ ĐÃ VIẾT VỀ TA. NHƯNG MÀ NẾU CÁC NGƯƠI KHÔNG TIN ĐIỀU MÔSÊ ĐÃ VIẾT, THÌ LÀM SAO CÁC NGƯƠI TIN LỜI TA ĐƯỢC?”
“CÁC NGƯƠI ĐỪNG TƯỞNG RẰNG TA SẼ TỐ CÁO CÁC NGƯƠI VỚI CHÚA CHA”
Một lần nữa thánh sử Gioan khẳng định: Chúa Giêsu không phải là người tố cáo người Do Thái với Chúa Cha.
Ta còn nhớ trong cuộc đàm đạo với Nicôđêmô. Gioan viết: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.
Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa” (Ga 3, 16-18).
Như vậy Chúa Giêsu không phải là người lên án họ, mà chính thế gian đã lên án mình khi từ bỏ ánh sáng và chỉ thích sống trong bóng tối.
“KẺ TỐ CÁO CÁC NGƯƠI LÀ MÔSÊ, TỨC LÀ NGƯỜI MÀ CÁC NGƯƠI VẪN TIN TƯỞNG”.
Chúa Giêsu không lên án ai hết, và ai tin vào Ngài sẽ được cứu độ. Bài Tin mừng hôm nay Đức Giêsu khẳng định mạnh mẽ hơn nữa, Ngài không tố cáo họ với Chúa Cha, vì đây không phải là việc của Ngài.
Vậy người tố cáo họ với Chúa Cha là ai?
Đức Giêsu chỉ đích danh, đó là Môsê người mà họ tin cậy. Người Do Thái luôn dựa vào những gì Môsê đã thiết lập làm tôn chỉ cho đời sống tôn giáo. Luật Môsê chi phối và điều khiển toàn bộ xã hội Do Thái.
“VÌ NẾU CÁC NGƯƠI TIN MÔSÊ, THÌ CÓ LẼ CÁC NGƯƠI CŨNG ĐÃ TIN TA, BỞI VÌ CHÍNH MÔSÊ ĐÃ VIẾT VỀ TA”.
Thực vậy, ông Môsê đã tiên báo về Đức Giêsu, sách Tông đồ công vụ viết: “ông Mô-sê đã nói: Từ giữa đồng bào của anh em, Đức Chúa là Thiên Chúa của anh em sẽ cho trỗi dậy một ngôn sứ như tôi để giúp anh em; tất cả những gì vị ấy nói với anh em, anh em hãy nghe. Kẻ nào mà không nghe ngôn sứ ấy, thì sẽ bị diệt trừ khỏi dân.” (Tđcv 3, 22-23).
Như vậy quá rõ, chính ông Môsê cũng làm chứng cho Chúa Giêsu
Đức Giêsu nói, nếu người Do Thái không tin vào những gì ông Môsê thì họ làm sao tin được Ngài.
Tóm lại Bài Tin mừng hôm nay Đức Giêsu đã đưa ra lời chứng từ mọi phía, làm chứng cho Ngài là Con Thiên Chúa, được Chúa Cha sai đến. Ngài đã liệt kê các lời chứng từ con người cho đến lời chứng của Chúa Cha.
Với bằng ấy chứng cứ, đủ cho con người qua mọi thời đại tin chắc rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Niềm tin đó có cơ sở vững chắc, không mông lung, không ảo tưởng và mơ hồ.
Nhưng vấn đề đặt ra cho ta: ta có tin không?
Vì niềm tin nó là cái gì sâu xa, nó có liên quan đến toàn bộ cuộc đời. Đây không chỉ là lời nói mà có được, nó còn đòi thể hiện trong cuộc sống. Vậy cuộc sống của ta thế nào đây?
Nó có phải là cuộc sống của một người tin vào Đức Giêsu không?
Amen.
__________________________
Giuse Nguyễn Viết Tâm.

