Dụ ngôn Người cha nhân hậu.
“EM CON ĐÃ CHẾT NAY SỐNG LẠI”.
BÀI ĐỌC I: Gs 5, 9a. 10-12
“Dân Chúa tiến vào đất Chúa hứa và mừng Lễ Vượt Qua”.
Trích sách Giosuê.
Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Giosuê rằng: “Hôm nay, Ta đã cất sự dơ nhớp của Ai-cập khỏi các ngươi!” Con cái Israel tạm trú tại Galgali và mừng Lễ Vượt Qua vào ban chiều ngày mười bốn trong tháng, trên cách đồng Giêricô. Ngày hôm sau Lễ Vượt Qua, họ ăn các thức ăn địa phương, bánh không men và lúa mạch gặt năm ấy. Từ khi họ ăn các thức ăn địa phương, thì không có manna nữa. Và con cái Israel không còn ăn manna nữa, nhưng họ ăn thổ sản năm đó của xứ Canaan.
Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 33, 2-3. 4-5. 6-7
Đáp: Các bạn hãy nếm thử và hãy nhìn coi, cho biết Chúa thiện hảo nhường bao (c. 9a).
Xướng:
1) Tôi chúc tụng Chúa trong mọi lúc, miệng tôi hằng liên lỉ ngợi khen Người. Trong Chúa linh hồn tôi hãnh diện, bạn nghèo hãy nghe và hãy mừng vui. – Đáp.
2) Các bạn hãy cùng tôi ca ngợi Chúa, cùng nhau ta hãy tán tạ danh Người. Tôi cầu khẩn Chúa, Chúa đã nhậm lời, và Người đã cứu tôi khỏi mọi điều lo sợ. – Đáp.
3) Hãy nhìn về Chúa để các bạn vui tươi, và các bạn khỏi hổ ngươi bẽ mặt. Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe, và Người đã cứu họ khỏi mọi điều tai nạn. – Đáp.
BÀI ĐỌC II: 2 Cr 5, 17-21
“Thiên Chúa đã nhờ Đức Kitô giao hoà chúng ta với mình”.
Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.
em thân mến, nếu ai ở trong Đức Kitô, thì người đó sẽ là một thụ tạo mới, những gì là cũ đã qua đi: này đây tất cả mọi sự đã trở thành mới. Vì mọi sự bởi Thiên Chúa, Đấng đã nhờ Đức Kitô giao hoà chúng ta với mình, và trao phó cho chúng tôi chức vụ giao hoà. Thật vậy, Thiên Chúa là Đấng giao hoà thế gian với chính mình Người trong Đức Kitô, nên không kể chi đến tội lỗi của loài người, và đặt lên môi miệng chúng tôi lời giao hoà. Nên chúng tôi là sứ giả thay mặt Đức Kitô, như chính Chúa dùng chúng tôi mà khuyên bảo. Vì Đức Kitô, chúng tôi van nài anh em hãy giao hoà với Thiên Chúa. Đấng không hề biết tội, thì Thiên Chúa làm nên thân tội vì chúng ta, để trong Ngài, chúng ta trở nên sự công chính của Thiên Chúa.
Đó là lời Chúa.
CÂU XƯỚNG TRƯỚC PHÚC ÂM: Lc 15, 18
Tôi muốn ra đi trở về với cha tôi và thưa người rằng: Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha.
PHÚC ÂM: Lc 15, 1-3. 11-32
“Em con đã chết nay sống lại”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, những người thu thuế và những kẻ tội lỗi đến gần Chúa Giêsu để nghe Người giảng; thấy vậy, những người biệt phái và luật sĩ lẩm bẩm rằng: “Ông này đón tiếp những kẻ tội lỗi và cùng ngồi ăn uống với chúng”. Bấy giờ Người phán bảo họ dụ ngôn này: “Người kia có hai con trai. Đứa em thưa với cha rằng: ‘Thưa cha, xin cha cho con phần gia tài thuộc về con’. Người cha liền chia gia tài cho các con. Ít ngày sau, người em thu nhặt tất cả của mình, trẩy đi miền xa và ở đó ăn chơi xa xỉ phung phí hết tiền của. Khi nó tiêu hết tiền của thì vừa gặp nạn đói lớn trong miền đó, và nó bắt đầu cảm thấy túng thiếu. Nó vào giúp việc cho một người trong miền, người này sai nó ra đồng chăn heo. Nó muốn ăn những đồ cặn bã heo ăn cho đầy bụng, nhưng cũng không ai cho. Bấy giờ nó hồi tâm lại và tự nhủ: ‘Biết bao người làm công ở nhà cha tôi được ăn uống dư dật, còn tôi, tôi ở đây phải chết đói. Tôi muốn ra đi trở về với cha tôi và thưa người rằng: “Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha, con không đáng được gọi là con cha nữa, xin cha đối xử với con như một người làm công của cha” ‘. Vậy nó ra đi và trở về với cha nó. Khi nó còn ở đàng xa, cha nó chợt trông thấy, liền động lòng thương; ông chạy ra ôm choàng lấy cổ nó và hôn nó hồi lâu… Người con trai lúc đó thưa rằng: ‘Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha, con không đáng được gọi là con cha nữa’. Nhưng người cha bảo đầy tớ: ‘Mau mang áo đẹp nhất ra đây và mặc cho cậu, hãy đeo nhẫn vào ngón tay cậu, và xỏ giầy vào chân cậu. Hãy bắt con bê béo làm thịt để chúng ta ăn mừng: vì con ta đây đã chết, nay sống lại, đã mất, nay lại tìm thấy’. Và người ta bắt đầu ăn uống linh đình.
“Người con cả đang ở ngoài đồng. Khi về gần đến nhà, nghe tiếng đàn hát và nhảy múa, anh gọi một tên đầy tớ để hỏi xem có chuyện gì. Tên đầy tớ nói: ‘Đó là em cậu đã trở về, và cha cậu đã giết bê béo, vì thấy cậu ấy về mạnh khoẻ’. Anh liền nổi giận và quyết định không vào nhà. Cha anh ra xin anh vào. Nhưng anh trả lời: ‘Cha coi, đã bao năm con hầu hạ cha, không hề trái lệnh cha một điều nào, mà không bao giờ cha cho riêng con một con bê nhỏ để ăn mừng với chúng bạn. Còn thằng con của cha kia, sau khi phung phí hết tài sản của cha với bọn đàng điếm, nay trở về thì cha lại sai làm thịt bê béo ăn mừng nó’. Nhưng người cha bảo: ‘Hỡi con, con luôn ở với cha, và mọi sự của cha đều là của con. Nhưng phải ăn tiệc và vui mừng, vì em con đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy’ “.
Đó là lời Chúa.
____________________________________
I/. BÀI SUY NIỆM (Lc 15, 1-3, 11-32)
Chủ đề:
CHÚA NHẬT MÀU HỒNG – CHÚA NHẬT CỦA NIỀM VUI.
(” Mừng vui lên … – Lætare) là chủ đề của Chúa nhật IV Mùa Chay hôm nay. Từ phụng vụ lễ ca cho đến màu sắc phụng vụ, từ TÍM chuyển sang HỒNG, màu của bình minh, đánh dấu nửa chặng đường sám hối, nay Giáo hội tạm dừng để chuẩn bị tốt hơn cho niềm vui Phục Sinh.
Ta tạm nghỉ để cảm tạ Chúa vì những gì ta đã làm, xin Chúa ban thêm nghị lực để ta bước tiếp chặng cuối của Mùa Chay.
Trong năm phụng vụ của Giáo Hội, Mùa Vọng và Mùa Chay được đánh dấu với màu tím, màu của tỉnh thức để đón Chúa và sám hối để trở về với Chúa.
Điều đáng lưu ý: trong các Chúa Nhật của hai mùa này, mỗi mùa có một Chúa Nhật nói về niềm vui, CHÚA NHẬT MÀU HỒNG:
+ Chúa Nhật III Mùa Vọng (niềm vui vì Chúa đã đến gần)
+ và Chúa Nhật IV Mùa Chay (niềm vui vì được Chúa tha thứ khi trở về).
Các bài đọc trong phần Phụng vụ Lời Chúa hôm nay đều diễn tả niềm vui đó.
+ TRONG BÀI ĐỌC I, trích sách Giosuê, Chúa phán cùng Giosuê rằng: “Hôm nay, Ta đã cất sự dơ nhớp của Ai-cập khỏi các ngươi!”
Và trong Chúa nhật IV Mùa Chay hôm nay, Kitô hữu chúng ta cũng được Chúa cất khỏi cho chúng ta nỗi ô nhục vì tội lỗi, để ta được làm con cái Chúa qua Tuần Tĩnh Tâm và qua Bí tích Cáo giải.
+ TRONG BÀI ĐỌC II, Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô, nói đến niềm vui trở về với Thiên Chúa qua hình ảnh “thọ tạo mới” mà Chúa Giêsu mang lại cho chúng ta: “Thưa anh em, phàm ai ở trong Đức Ki-tô đều là thọ tạo mới. Cái cũ đã qua, và cái mới đã có đây rồi”.
Theo Thánh Phaolô, chỉ trong Đức Giêsu Kitô chúng ta mới có được niềm vui đích thật, vì chỉ qua Ngài mà chúng ta được hoà giải với Chúa Cha. Không những thế, khi đã được hoà giải với Thiên Chúa trong Đức Kitô, chúng ta trở thành những người “công bố lời hoà giải”.
+ TRONG BÀI TIN MỪNG theo thánh Luca, cũng diễn tả niềm vui của người cha khi thấy đứa con đi hoang trở về. Ông nói với người con cả như sau:
“EM CON ĐÃ CHẾT NAY SỐNG LẠI”.
Đó là niềm vui được sống lại, niềm vui của người đã tìm thấy cái quý nhất bị mất.
Nhưng niềm vui của người cha lại không phải là niềm vui của người con cả.
Tình thương và niềm vui của người cha, diễn tả niềm vui của Thiên Chúa khi một người tội lỗi biết ăn năn sám hối và trở về.
Chính Chúa Giêsu đã nói: “Vậy, tôi nói cho các ông hay: trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn” (Lc 15, 7).
Niềm vui của người cha bùng nổ và cao cả bao nhiêu, thì người con cả lại hẹp hòi bấy nhiêu. Anh ta không thấy vui gì khi người em trở về mà còn buông lời chì chiết:
“Còn thằng con của cha kia, sau khi phung phí hết tài sản của cha với bọn đàng điếm, nay trở về thì cha lại sai làm thịt bê béo ăn mừng nó’.
Tình yêu của Thiên Chúa luôn cao vời, trong khi trái tim của con người luôn hẹp hòi, ích kỷ.
Nhưng người cha nói với người con cả như sau:
“’Hỡi con, con luôn ở với cha, và mọi sự của cha đều là của con. Nhưng phải ăn tiệc và vui mừng, vì em con đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy’.
NHƯNG PHẢI ĂN TIỆC VÀ VUI MỪNG”
Thiên Chúa muốn kéo Kitô hữu chúng ta đi vào niềm vui đó. Kệ bỏ đi, cái gì đã qua cho nó qua đi, đừng nhắc đến nữa, bây giờ phải vui mừng, vì:
“EM CON ĐÃ CHẾT NAY SỐNG LẠI, ĐÃ MẤT NAY LẠI TÌM THẤY’ “.
Viết đến đây tự nhiên nhớ đến bài hát “MỘT CÕI ĐI VỀ” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, có đoạn:
“Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi
Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt
Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt
Rọi suốt trăm năm một cõi đi về
…………
Trong khi ta về lại nhớ ta đi
Đi lên non cao đi về biển rộng
Đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng
Ngọn gió hoang vu thổi buốt xuân thì.
“Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi
Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”.
Khi năm 10, 20 tuổi ta đã nghe Dụ ngôn Người cha nhân hậu, Đến năm 30, 40, 50, 60, 70,… ta vẫn nghe lại dụ ngôn đó, vẫn là tiếng thôi thúc mời gọi ta trở về.
Tại sao lại trở về?
Thưa vì trước đó ta đã bỏ nhà đi hoang, đi ra khỏi Nhà Cha, ra khỏi tình yêu Thiên Chúa để được sống tự do theo ý mình muốn, nhưng ta chỉ đi loanh quanh rồi đến lúc mệt mỏi chán chường ta lại quay trở về.
Vậy hóa ra cả cái kiếp nhân sinh này chỉ là cái điệp khúc: RA ĐI – TRỞ VỀ mà chẳng làm được trò trống gì, chẳng làm được việc gì cho ra trò.
Nhưng vấn đề là vào cái giây phút cuối cùng, cái tích tắc cuối cùng của cuộc đời là RA ĐI hay TRỞ VỀ.
Đó mới là THÀNH BẠI của kiếp nhân sinh.
Các Bài đọc lời Chúa hôm nay, nhất là Dụ ngôn Người Cha nhân hậu, cho Kitô hữu chúng ta bài học sâu sắc trong Mùa chay Thánh 2019 này:
+ Phải can đảm, dứt khoát và mau mắn trở về để được sống trong Tình yêu Thiên Chúa.
+ Phải vui mừng, bao dung, quảng đại khi thấy người anh em biết sám hối trở về.
Với một vài suy niệm ngắn ngủi trên, chúng ta cùng nhau bước vào Bài Tin mừng:
__________________________________
II/. BÀI CHIA SẺ (Lc 15, 1-3. 11-32)
Luca đã dành hẳn Chương 15 để nói về Lòng Chúa thương xót. Đây là Chương Tin mừng đẹp nhất trong toàn bộ Kinh thánh, và trong chương 15 này Luca đã trình bày cho chúng ta 3 dụ ngôn về Lòng thương xót.
1/- Dụ ngôn con chiên bị thất lạc (Lc 15, 4 – 7), dụ ngôn này được tường thuật chung với Matthêu.
2/- Dụ ngôn đồng tiền bị mất (15, 8 – 10).
3/- Dụ ngôn Người cha nhân hậu (Lc 15, 11 – 32).
Đoạn trích dẫn đã được tách thành 2 đoạn:
+ (Lc 15 – 1 – 3) là phần nhập đề chung cho cả 3 dụ ngôn trong Chương 15.
Như vậy, 2 dụ ngôn sau chỉ có mình Luca tường thuật và nó đã nói lên nét đặc sắc Chương 15 Phúc âm của ông, Luca luôn xúc động với lòng thương xót của Thiên Chúa.
Hai dụ ngôn đầu 1/. và 2/. Diễn tả tình yêu Thiên Chúa đi tìm người tội lỗi, tìm cái đã mất.
Dụ ngôn 3/. Diễn tả chiều ngược lại: người tội lỗi trở về với Thiên Chúa.
Như vậy trong cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa với con người, Luca muốn cho ta biết luôn xảy ra theo 2 chiều ngược nhau và xích lại với nhau, chứ không thể diễn ra chỉ 1 phía.
DỤ NGÔN : NGƯỜI CHA NHÂN HẬU
CÁC TÊN GỌI CỦA DỤ NGÔN:
+ Dụ ngôn người con hoang đàng.
+ Dụ ngôn hai người con hoang đàng.
+ Dụ ngôn người cha phung phí.
+ Dụ ngôn người cha nhân hậu.
Sở dĩ Dụ ngôn có đến 4 tên gọi, vì khi phân tích, tùy theo ta nhấn mạnh Dụ ngôn theo quan điểm nào, mà dụ ngôn có tên gọi theo quan điểm đó.
Nhưng cái tên gọi “Dụ ngôn Người Cha nhân hậu” mới diễn tả chính xác nhất Tình yêu Thiên Chúa dành cho người tội lỗi. Đây là dụ ngôn kinh điển trong Kinh thánh, tức tiêu biểu cho mọi dụ ngôn, là áng văn sâu sắc và hay nhất trong Kinh thánh.
Toàn bộ Dụ ngôn chỉ có 3 vai, nhưng ba vai đó như muốn bao gồm các mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa:
+ Người con thứ: đại diện cho người tội lỗi, thu thuế và gái điếm.
+ Người con cả: đại diện cho người Biệt phái, người công chính nhưng sống ích kỷ.
+ Người Cha: Hình ảnh của Thiên Chúa.
ĐỘC GIẢ CÓ THỂ THẮC MẮC
Tại sao lại có tên gọi: “Dụ ngôn hai người con hoang đàng”.?
Rõ ràng trong Bài Tin mừng, chỉ có người con thứ là hoang đàng, vì anh đã bỏ nhà đi hoang.
Còn người con cả? Cũng là người con hoang đàng luôn
Mặc dù người con cả luôn sống trong nhà cha, nhưng anh lại sống ngoài tình thương của cha, anh đang sống trong tình trạng đi hoang, anh sống như người làm công chứ không phải như người con đúng nghĩa. Như vậy dụ ngôn này cũng sẽ có tên: “ Dụ ngôn 02 người con hoang đàng”.
“KHI ẤY, NHỮNG NGƯỜI THÂU THUẾ VÀ NHỮNG NGƯỜI TỘI LỖI ĐẾN GẦN CHÚA GIÊSU ĐỂ NGHE NGƯỜI GIẢNG”
Phụng vụ Lời Chúa hôm nay đã thêm vào 3 câu cho dụ ngôn (Lc 15, 1-3) để nói về bối cảnh của bài Tin mừng hôm nay. Nó cũng là phần nhập đề chung cho cả 3 dụ ngôn trong Chương 15.
“THẤY VẬY, NHỮNG NGƯỜI BIỆT PHÁI VÀ LUẬT SĨ LẨM BẨM RẰNG: “ÔNG NÀY ĐÓN TIẾP NHỮNG KẺ TỘI LỖI VÀ CÙNG NGỒI ĂN UỐNG VỚI CHÚNG”. BẤY GIỜ NGƯỜI PHÁN BẢO HỌ DỤ NGÔN NÀY”
LẨM BẨM:
Người Biệt phái và luật sĩ cũng đến nghe giảng. Nhưng họ không đến gần Chúa Giêsu mà chỉ ngồi ở đàng xa, họ cũng đến không phải để nghe giảng mà chỉ để “lẩm bẩm”.
Các Kitô hữu ngày nay vô tình cũng mang tâm trạng Biệt Phái và Kinh sư. Họ đến nhà thờ nhưng không muốn vào mà chỉ thích ở ngoài cho thoải mái, đứng nói chuyện và có khi cả hút thuốc. Họ không muốn ngồi vào những hàng ghế đầu để nghe giảng mà chỉ muốn “lẩm bẩm” với những chuyện riêng tư của mình.
Biệt phái và Kinh sư thời nào cũng thế cả, ở đâu ta cũng gặp.
“ÔNG NÀY ĐÓN TIẾP NHỮNG KẺ TỘI LỖI VÀ CÙNG NGỒI ĂN UỐNG VỚI CHÚNG”.”
Họ lẩm bẩm cái gì? Thưa họ đang chê trách Chúa Giêsu thích giao du với bọn tội lỗi và còn ngồi ăn uống chung với họ nữa.
“BẤY GIỜ NGƯỜI PHÁN BẢO HỌ DỤ NGÔN NÀY”
Trước thái độ trịch thượng của Biệt phái và Luật sĩ, Ngài muốn kể cho họ nghe dụ ngôn: DỤ NGÔN NGƯỜI CHA NHÂN HẬU.
“MỘT NGƯỜI KIA CÓ HAI CON TRAI”
Hầu hết các dụ ngôn của Chúa Giêsu nói về cha-con thì thường bắt đầu bằng câu: “Một người kia có hai con trai”.
Hai con để diễn tả hai thái cực, hai thái cực này đều đáng trách và đều làm nổi bật lên hình ảnh của người cha, đó cũng là hình ảnh của Thiên Chúa.
Dụ ngôn là một bi kịch, gồm hai hồi: Cuộc xung đột giữa người cha và hai đứa con mà ông thương yêu đồng đều và nồng nàn nhất. Đó là một câu chuyện thường được sống lại trong nhiều gia đình.
Hỡi các ông bố và bà mẹ trên thế gian, đó chính là bi kịch của Thiên Chúa mà các bậc cha mẹ đang sống. Vậy các bậc cha mẹ hãy lắng nghe câu chuyện tình yêu đẹp nhất, hình ảnh đẹp nhất của Thiên Chúa sau đây!
A/- HỒI THỨ NHẤT:
“ĐỨA EM ĐẾN THƯA CHA RẰNG: ‘THƯA CHA, XIN CHA CHO CON PHẦN GIA TÀI THUỘC VỀ CON’. NGƯỜI CHA LIỀN CHIA GIA TÀI CHO CÁC CON. ÍT NGÀY SAU, NGƯỜI EM THU NHẶT TẤT CẢ TIỀN CỦA MÌNH TRẨY ĐI MIỀN XA VÀ Ở ĐÓ ĂN CHƠI XA XỈ, PHUNG PHÍ HẾT TIỀN CỦA
“XIN CHA CHO CON PHẦN GIA TÀI THUỘC VỀ CON”
Người con thứ này chỉ là kẻ hưởng thụ: Anh ta đòi hỏi tiền, yêu sách thật nhiều tiền. Anh chỉ nghĩ đến mình. Anh nhận được tất cả từ cha mình, nhưng lại không biết đến điều đó. Anh chỉ biết một việc: đòi hỏi, yêu sách, áp lực, khiếu nại.
NGƯỜI CHA LIỀN CHIA GIA TÀI CHO CÁC CON:
Người cha có thái độ hoàn toàn ngược lại với anh ta. Người cha không hề thắc mắc: tại sao lại phải chia gia tài lúc ông còn sống, có lý do gì, mà Luca nói “NGƯỜI CHA LIỀN CHIA GIA TÀI”.
Ông chỉ cho không, luôn chia sẻ, cho cách vô vị lợi, tôn trọng tự do kẻ khác. Ông chính là tình yêu! Qua hình ảnh người cha này, Đức Giêsu nói với ta về Thiên Chúa.
Chúng ta có hình dung Thiên Chúa như thế không?
ĐỘC GIẢ CÓ THỂ THẮC MẮC:
Tại sao đang sống yên ổn trong gia đình, người con thứ lại đòi chia gia tài? Anh ta đòi chia vì động lực gì?
Trước hết, nguyên việc đòi chia gia tài, đã cho biết anh là ĐỨA CON BẤT HIẾU.
Thời nào cũng vậy: Không ai đòi chia gia tài khi bố mẹ còn sống. Cha mẹ có thể lập di chúc về gia tài khi họ còn sống và di chúc này chỉ có hiệu lực, tức chia gia tài khi họ đã mất. Đòi chia gia tài khi người cha còn sống là thái độ ngỗ nghịch và bất hiếu
Và cũng theo luật Do Thái, người cha có thể định đoạt về của cải của ông hoặc bằng một di chúc được thi hành sau khi ông qua đời (Ds 36,7-9; 27,8-11).
Như vậy, việc chia gia tài chỉ có hiệu lực khi người cha đã mất, và luật pháp sẽ dựa vào di chúc này để phân chia, không có chuyện chia gia tài khi người cha còn sống.
NGƯỜI CON THỨ ĐÒI CHIA GIA TÀI CÓ PHẢI VÌ GIA TÀI KHÔNG?
THƯA: KHÔNG.
Vì theo luật Do Thái, Trưởng nam được hưởng “hai phần sản nghiệp”, nghĩa là gấp đôi phần được ban cho mỗi người con khác (Đnl 21,17). Ở đây, chỉ có hai đứa con, người con cả sẽ được nhận hai phần ba và người con thứ chỉ nhận một phần ba thôi.
Sau khi chia, người con có quyền sở hữu, nhưng quyền thu hoa lợi vẫn thuộc về người cha cho đến khi ông qua đời. Nếu người con bán phần gia sản của mình, người mua chỉ được nhận lấy sau khi cha của người bán đã chết. Khi làm như vậy, người con sẽ không còn có quyền đòi hỏi gì về của cải, cả về vốn lẫn lãi.
Như vậy, khi người cha còn sống, thì quyền thu hoa lợi vẫn thuộc về người cha, ngay cả người con bán đi phần của mình, thì người mua chỉ được làm chủ khi cha của người bán qua đời.
Nhưng trong Tin mừng nói rõ: Người cha vẫn chia gia tài và vẫn cho phép người con thứ thu gom phần của mình để trảy đi phương xa làm ăn.
Do đó, có người nói, đây là “Dụ ngôn người cha phung phí”.
Như vậy, người con thứ đòi chia gia tài vì lý do gì?
NGƯỜI CON THỨ MUỐN CHIA GIA TÀI ĐỂ ĐƯỢC SỐNG TỰ DO
Anh ta muốn chia gia tài không phải vì cái gia tài, nhưng để được tách ra khỏi cái gia đình mà anh đã từng sống từ khi sinh ra đến giờ, để được tự do, không còn bị ràng buộc bởi bất kỳ áp lực nào, anh sẽ sống theo ý anh muốn.
Đó cũng là khát vọng của con người qua mọi thời đại. Khát vọng được TỰ DO.
NGƯỜI CHA ĐÃ ĐỂ CHO ĐỨA CON HƯ HỎNG:
Trong dụ ngôn, người cha có thể, hoặc tạm thời từ chối không chia cho người con phần gia tài của anh ta, hoặc là nói cho nó thấy hơn thiệt. Bản văn lại chẳng đả động đến chi tiết này. Người cha đã chia gia tài cho anh, và để anh ra đi. Đối với đứa con, chẳng phải vì xung khắc hay vì sự sa đoạ nào đó thúc đẩy anh ra đi, nhưng là vì anh khát khao được sống ngoài vòng kiềm toả, vì háo hức khao khát kinh nghiệm, vì muốn biết cái mới lạ, vì chưa có bản lãnh, và vì tính hung hăng và bản năng thích phiêu lưu mạo hiểm.
Thiên Chúa cũng để cho con người tự do hành động. Ngài có thể gìn giữ con người khỏi tội lỗi bằng những đường lối quan phòng của Ngài hoặc bằng áp lực của ân sủng mà con người không thể nào cưỡng lại được.
Thế nhưng, Ngài vẫn tôn trọng tự do của con người: điều này làm chúng ta ngạc nhiên và khó hiểu!
“KHI NÓ TIÊU HẾT TIỀN CỦA, THÌ GẶP NẠN ĐÓI LỚN TRONG MIỀN ĐÓ VÀ NÓ BẮT ĐẦU CẢM THẤY TÚNG THIẾU. NÓ VÀO GIÚP VIỆC CHO MỘT NGƯỜI TRONG MIỀN, NGƯỜI NÀY SAI NÓ RA ĐỒNG CHĂN HEO. NÓ MUỐN ĂN NHỮNG ĐỒ HEO ĂN CHO ĐẦY BỤNG, NHƯNG CŨNG KHÔNG AI CHO.
BẤY GIỜ NÓ MỚI HỒI TÂM LẠI VÀ TỰ NHỦ: ‘BIẾT BAO NGƯỜI LÀM CÔNG Ở NHÀ CHA TÔI ĐƯỢC ĂN UỐNG DƯ DẬT, CÒN TÔI, TÔI Ở ĐÂY PHẢI CHẾT ĐÓI! TÔI MUỐN RA ĐI, TRỞ VỀ VỚI CHA TÔI VÀ THƯA NGƯỜI RẰNG: “LẠY CHA, CON ĐÃ LỖI PHẠM ĐẾN TRỜI VÀ ĐẾN CHA; CON KHÔNG ĐÁNG ĐƯỢC GỌI LÀ CON CHA NỮA, XIN CHA ĐỐI XỬ VỚI CON NHƯ MỘT NGƯỜI LÀM CÔNG CỦA CHA.”
Người con thứ là hình ảnh của người thu thuế, người tội lỗi và cả chúng ta nữa, vì chúng ta luôn muốn dứt ra khỏi sự yêu thương của Thiên Chúa chúng ta muốn tự do muốn sống theo ý mình muốn, cho dù Thiên Chúa có là Người Cha đầy lòng nhân hậu, nhưng cái khao khát tự do của ta mới là cái cháy bỏng.
Ta muốn làm gì là tùy ý ta và không muốn bị hạn chế bởi bất cứ quyền lực nào, không muốn bị giới hạn bởi Mười điều răn hay bởi giới luật yêu thương, đó mới là con người trọn vẹn, vì tự do là món quà cao quý mà Thiên Chúa ban cho con người.
Thế nhưng quan niệm tự do như vậy có đúng không?
thưa: KHÔNG.
Vì ngay tự bản chất, ta chỉ là loài thụ tạo, được Thiên Chúa dựng nên chứ không phải tự mình mà có, nên ta phải ở trong và lệ thuộc vào Đấng Tạo Hóa. Khi vẫn còn ở trong Thiên Chúa vẫn còn ở trong nhà của Cha, ta mới có hạnh phúc và ta mới là con người đích thực, vì vẫn ở trong và kết hợp với Đấng dựng nên mình.
Nếu dứt ra khỏi Thiên Chúa, tức ta đã dứt ra khỏi nguồn sống, ta không phải là con người tự do mà là kẻ nô lệ cho chính mình, cho dục vọng của mình. kết quả chỉ là sự thảm hại như Dụ ngôn đã dẫn chứng.
“NÓ VÀO GIÚP VIỆC CHO MỘT NGƯỜI TRONG MIỀN, NGƯỜI NÀY SAI NÓ RA ĐỒNG CHĂN HEO. NÓ MUỐN ĂN NHỮNG ĐỒ HEO ĂN CHO ĐẦY BỤNG, NHƯNG CŨNG KHÔNG AI CHO”
Bao giờ cũng vậy, khi từ vạch xuất phát đi lên đỉnh cao, nếu từ đó rơi xuống, nó không rơi xuống trở lại đúng vạch xuất phát mà rơi xuống còn sâu hơn nữa, phải xuống tận đáy bùn đen.
Cũng vậy, người con thứ đang ở địa vị người con, là ông chủ tương lai bây giờ rơi xuống còn thua cả con vật. Anh đi chăn heo, đã là điều tệ hại, vì heo là con vật ô uế đối với quan niệm Do Thái. Chưa dừng lại đó, anh còn muốn bằng con heo cũng không được, vì anh muốn ăn thức ăn của heo nhưng không ai cho.
Như vậy, chính cái tự do mà anh mong muốn, đã biến anh từ một ông chủ con xuống dưới cả con heo.
“TÔI MUỐN RA ĐI, TRỞ VỀ VỚI CHA TÔI”
Và trong lúc cùng đường, trong lúc thất bại ê chê, anh mới nhận ra sự ngu ngốc của mình. Anh trộm nghĩ, nếu cứ kéo dài tình trạng này anh sẽ chết. Chính vì vậy anh quyết tâm trở về với cha mình, soạn sẵn trong đầu những câu nói sẽ làm cha mủi lòng.
“CON KHÔNG ĐÁNG ĐƯỢC GỌI LÀ CON CHA NỮA, XIN CHA ĐỐI XỬ VỚI CON NHƯ MỘT NGƯỜI LÀM CÔNG CỦA CHA”
Anh chỉ muốn cha coi anh như người làm công, chứ không dám mong gì hơn. Trong ý nghĩ của anh, ta không thấy một lời xin lỗi nào, mà chỉ mong thoát khỏi cơn đói.
Như vậy, anh trở về với cha không phải với tư cách của người con, nhưng là một tên đầy tớ. Cái động lực trở về không có gì tốt đẹp, chỉ quanh quẩn chuyện cái bụng.
Người con út này là hình ảnh của người tội lỗi, mà người Pharisêu thường hình dung ra.
“’BIẾT BAO NGƯỜI LÀM CÔNG Ở NHÀ CHA TÔI ĐƯỢC ĂN UỐNG DƯ DẬT, CÒN TÔI, TÔI Ở ĐÂY PHẢI CHẾT ĐÓI”
Sự trở về của anh ta, dù có nói hay thế nào đi nữa cũng chỉ là một sự tinh toán bủn xỉn để tìm được chỗ ăn chỗ ở. Anh ta đau bụng hơn đau lòng. Đó là đứa con thật tội nghiệp, nạn nhân của bản năng chính mình, của bạn bè mình: Nó đã mất thói quen thương yêu. Nó chỉ còn biết nghĩ đến mình.
Lạy Chúa đó cũng là hình ảnh của con! Than ôi, con vẫn thường sống như thế đó:
“ANH TA CÒN Ở ĐẰNG XA, THÌ NGƯỜI CHA ĐÃ TRÔNG THẤY. ÔNG CHẠNH LÒNG THƯƠNG, CHẠY RA ÔM CỔ ANH TA VÀ HÔN LẤY HÔN ĐỂ”
“CHẠY RA ÔM CỔ ANH TA VÀ HÔN LẤY HÔN ĐỂ”
Chúng ta cần ghi nhận, không cần người con mở miệng thưa gởi, thì người cha đã làm tất cả rồi.
Ông thể hiện bốn cử chỉ: “ông thấy anh ta đằng xa”, “ông chạnh lòng thương”, “ông chay đến, ông ôm hôn”. Có lẽ việc “chạy đến” là cử chỉ mạnh nhất trong dụ ngôn này. Thông thường không khi nào một bề trên lại chay tới một bề dưới, nhất là khi kẻ dưới lại có thái độ bất kính, ngỗ nghịch.
CHÚA GIÊSU CHỈ MUỐN NHẤN MẠNH ĐẾN HÀNH ĐỘNG CỦA NGƯỜI CHA:
Vâng, người ta làm sai hoàn toàn ý nghĩa dụ ngôn của Đức Giêsu khi trình bày cuộc trở về của người con này, như một gương “hoán cải”.
Nếu Đức Giêsu chỉ mô tả thái độ “ăn năn” của một người tội lỗi, thì giáo huấn đó có thể đã không làm cho người Pharisêu bất bình. Vì từ lâu tại Israel, như toàn bộ Kinh Thánh minh chứng, người ta đều biết rằng, Chúa luôn tha thứ cho người tội lỗi biết ăn năn.
Nhưng ở đây, cách đối xử của người cha này đã đi quá xa.
Ông không cần biết đến con ông có biểu lộ chút ăn năn thực sự nào không. Vừa thấy con từ đằng xa, ông đã chạy đến gặp nó.
Đức Giêsu không muốn nhấn mạnh đến thái độ của đứa con hoang đàng, những việc làm sám hối đền tội của nó; nhưng Ngài chỉ muốn nhấn mạnh về tình yêu nhưng không của người cha, một người cha đã tha thứ trước khi con ông thú tội, không đặt điều kiện nào hết!
“BẤY GIỜ NGƯỜI CON NÓI RẰNG: ‘THƯA CHA, CON THẬT ĐẮC TỘI VỚI TRỜI VÀ VỚI CHA, CHẲNG CÒN ĐÁNG GỌI LÀ CON CHA NỮA…’
NHƯNG NGƯỜI CHA LIỀN BẢO CÁC ĐẦY TỚ RẰNG: ‘MAU ĐEM ÁO ĐẸP NHẤT RA ĐÂY MẶC CHO CẬU, XỎ NHẪN VÀO NGÓN TAY, XỎ DÉP VÀO CHÂN CẬU, RỒI ĐI BẮT CON BÊ ĐÃ VỖ BÉO LÀM THỊT ĐỂ CHÚNG TA MỞ TIỆC ĂN MỪNG!”
Anh ta còn ở đàng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để. Bấy giờ người con nói rằng: ‘Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa….’
Nhưng người cha liền bảo các đầy tớ rằng: ‘Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng! Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy.’ Và họ bắt đầu ăn mừng.
Anh đã thưa với cha theo như kịch bản soạn sẵn, nhưng mới chỉ thưa hết phần đầu cha anh đã ngắt ngay, không để anh nói tiếp. “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa….”
Anh chỉ muốn trở thành người làm công, cha anh hiểu anh muốn nói gì, nhưng không có người cha nào lại cho phép điều đó xảy ra. Anh phải là con, là con đúng nghĩa.
Ta không thấy người cha có một câu nói trách móc nào, vì ông đang thật sự hạnh phúc, chỉ nguyên việc trở về của anh cũng đủ làm cho ông mãn nguyện rồi, đâu cần hỏi han gì nữa. Cha anh sai gia nhân xỏ nhẫn, xỏ dép, mặc áo đẹp nhất,… ông muốn nói với anh: “Con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy.”
Các ông bố, bà mẹ có vui mừng khi thấy con mình trở về không, hay cứ ngồi đó trách móc, chì chiết !
NGƯỜI CHA ĐÓN NHẬN ĐỨA CON HƯ HỎNG:
Qua người con thứ này, ta mới hiểu được Tình yêu bao la của Thiên Chúa dành cho ta, là những con người tội lỗi. Nếu ta có can đảm trở về với Ngài, Ngài sẽ tha thứ hết không một chút gì trách móc và phục hồi quyền làm con mà ta đã mất vì tội lỗi.
Người cha không để cho người con nói hết câu mà anh ta đã chuẩn bị trước. Ông ban cho con mình quá sự mong muốn. Đó là một lễ cưới thực sự: áo đẹp, nhẫn đeo, giày dép, bữa tiệc, âm nhạc.
“VÌ CON TA ĐÂY ĐÃ CHẾT MÀ NAY SỐNG LẠI, ĐÃ MẤT MÀ NAY LẠI TÌM THẤY.’ VÀ HỌ BẮT ĐẦU ĂN MỪNG”.
Đây là điệp khúc kết thúc hồi thứ nhất của bi kịch. Trong chốc lát, chúng ta sẽ thấy điệp khúc này có hai từ thay đổi: “con ta” thành “em con”. Chết – sống lại – Đã mất – lại tìm thấy.
B/. HỒI THỨ HAI:
“LÚC ẤY NGƯỜI CON CẢ CỦA ÔNG ĐANG Ở NGOÀI ĐỒNG. KHI ANH TA VỀ GẦN ĐẾN NHÀ, NGHE THẤY TIẾNG ĐÀN CA NHẢY MÚA, LIỀN GỌI MỘT NGƯỜI ĐẦY TỚ RA MÀ HỎI XEM CÓ CHUYỆN GÌ.
NGƯỜI ẤY TRẢ LỜI: ‘EM CẬU ĐÃ VỀ, VÀ CHA CẬU ĐÃ LÀM THỊT CON BÊ BÉO, VÌ GẶP LẠI CẬU ẤY MẠNH KHOẺ.’ NGƯỜI ANH CẢ LIỀN NỔI GIẬN VÀ KHÔNG CHỊU VÀO NHÀ. NHƯNG CHA CẬU RA NĂN NỈ”
“CHA CẬU RA NĂN NỈ”
Đối với người con cả, người cha này cũng biểu lộ cùng một tấm lòng nhân hậu: “Ông bước ra năn nỉ”.
Lúc người con thứ trở về, người con cả đang làm việc ngoài đồng. Khi trở về, anh nhận ra trong nhà có chuyện lạ. Sau khi hỏi một người đầy tớ, anh ta hiểu chuyện; anh không thể chấp nhận được, anh nổi giận. Ta thông cảm với anh. Vì anh không chịu vào nhà, nên người cha đã phải ra gặp.
Thế là anh cho tuôn ra hết những gì vẫn chất chứa tận đáy lòng: anh nói với giọng chua cay, nhưng kể ra đúng các sự việc. Theo anh, đúng là người cha đã xử sự bất công! Những người Pharisêu và các kinh sư cũng nghĩ rằng họ có lý khi tỏ ra khó chịu với Đức Giêsu, về cách đối xử của Ngài dành cho kẻ tội lỗi..
Trước thái độ của Thiên Chúa như thế, không thể nói bất công được! Chúa thương yêu tất cả mọi người. “Chẳng lẽ vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức sao?” (Mt 20,15).
“ANH TRẢ LỜI: ‘CHA COI, ĐÃ BAO NHIÊU NĂM CON HẦU HẠ CHA, KHÔNG HỀ TRÁI LỆNH CHA MỘT ĐIỀU NÀO, MÀ KHÔNG BAO GIỜ CHA CHO RIÊNG CON MỘT CON BÊ NHỎ ĐỂ ĂN MỪNG VỚI CHÚNG BẠN;
CÒN THẰNG CON CỦA CHA KIA, SAU KHI PHUNG PHÍ HẾT TÀI SẢN CỦA CHA VỚI BỌN ĐIẾM NAY TRỞ VỀ, THÌ CHA LẠI SAI LÀM THỊT CON BÊ BÉO ĂN MỪNG NÓ’.
NHƯNG NGƯỜI CHA BẢO: ‘HỠI CON, CON LUÔN Ở VỚI CHA, VÀ MỌI SỰ CỦA CHA ĐỀU LÀ CỦA CON. NHƯNG PHẢI ĂN TIỆC VÀ VUI MỪNG, VÌ EM CON ĐÃ CHẾT NAY SỐNG LẠI, ĐÃ MẤT NAY LẠI TÌM THẤY’ “.
“Bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh”. Chắc chắn đấy cũng là lý tưởng của người Pharisêu và các kinh sư: “phục vụ” Thiên Chúa bền bỉ, và rất chú ý để không bao giờ vi phạm một điều răn nào.
“CÒN THẰNG CON CỦA CHA KIA”
Sau đó, người con cả nói về em với giọng hết sức khinh bỉ. Anh không gọi là “em con”, nhưng nói là “thằng con của cha đó”.
Điều này cũng giống như người Pharisêu trong dụ ngôn: Hai người lên Đền thờ cầu nguyện (Lc 18,10-14) nói đến “tên thu thuế kia” với giọng miệt thị.
Như thế, Đức Giêsu đã ngỏ lời với những người vẫn nghĩ rằng mình là những tôi tớ tốt lành, luôn quan tâm để không bao giờ thiếu sót một điều răn nhỏ nào. Khi đó, họ nghĩ họ có nhiều quyền họ tỏ ra khó chịu, không phải đối với người tội lỗi, nhưng đối với chính Thiên Chúa vì Ngài đã đối xử với kẻ tội lỗi như vậy:
Nếu như thế, sống đạo đức còn ích lợi gì? Nếu như thế, sống trung thành và vâng phục Thiên Chúa còn ý nghĩa gì nữa?
Như vậy, người con cả cho ta thấy mũi nhọn của dụ ngôn này:
Anh ta không nhận thấy trọn vẹn Tình yêu mà anh ta đang thừa hưởng. Anh luôn nghĩ rằng mình chỉ là người làm công của cha thôi, chứ không phải là người con đích thực. Như vậy, anh cũng chính là người con hoang đàng, anh đã đi ra khỏi tình yêu của cha mình.
Dụ ngôn này cũng có tên gọi: Dụ ngôn hai người con hoang đàng”.
“Nhưng người cha nói với anh ta: ‘Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con. Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy”
Qua dụ ngôn hai hồi này, chúng ta được mời gọi bước vào trong Tình yêu Thiên Chúa, vào trong niềm vui của Ngài, khi thấy kẻ tội lỗi trở lại. Đó là lời loan báo cuộc trở lại của các dân ngoại, dân mới của Thiên Chúa.
Một ngày kia, Luca sẽ đặt vào môi miệng Phêrô những lời sau đây, khi Phêrô nhận thấy ân sủng được ban cho viên đại đội trưởng ngoại giáo Conêliô, sách Tông đồ công vụ viết: “Vậy Thiên Chúa đã ban cho họ cùng một ân huệ như Người đã ban cho chúng ta, vì chúng ta tin vào Chúa Giêsu – Kitô, thì tôi là ai mà dám ngăn cản Thiên Chúa” (Cv 11,17). “Không dành đặc ân cho ai cả”. Mọi người đều được thương yêu.
Độc giả có thể ngừng lại một chút để chiêm ngắm người cha đầy nhân hậu, đó cũng là hình ảnh của Thiên Chúa:
“VÌ EM CON”
Ông không muốn nghe lời hối lỗi của con thứ, nay người cha lại để cho người con cả tha hồ nói lên những tâm tình chua chát của mình. Sau đó, ông đã trả lời với giọng dịu dàng âu yếm.
Qua lời ông nói, người con cả chẳng còn lý do gì mà nói rằng cha xử bất công với mình nữa.
Nếu người anh nói về em mình: “CÒN THẰNG CON CỦA CHA KIA”
Thì người cha đã tế nhị điều chỉnh lại: “vì em con đây…”. Nếu cha đã sung sướng đến thế khi gặp lại con, lẽ nào người anh lại không vui sướng khi gặp lại em?
HÌNH ẢNH NGƯỜI CON CẢ CŨNG GIÚP CHÚNG TA KIỂM ĐIỂM THÁI ĐỘ CỦA MÌNH ĐỐI VỚI ANH EM.
Ai trong chúng ta cũng có một chút máu Pharisêu trong người: muốn tự coi mình là công chính, khinh chê người khác, muốn loại người khác ra khỏi gia đình của Thiên Chúa.
Nhưng Chúa Giêsu khẳng định rằng: muốn làm con của Cha trên trời thì phải nhìn nhận những người khác là anh em và quan tâm tới phần rỗi của anh em. Phải từ bỏ thái độ Pharisêu.
Tóm lại, Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta nhìn ngắm hình ảnh lòng nhân lành của Thiên Chúa, thân phận tội lỗi của mình, và con đường giải thoát là về với Cha. Đòi hỏi của Thiên Chúa là: muốn làm con của Ngài thì cũng phải nhận những đứa con khác của Ngài là anh em của mình, phải học với Ngài mà sống thái độ nhân lành.
Qua Dụ ngôn Người Cha nhân hậu, chúng ta nhận ra mình là ai qua hình ảnh hai người con trong bài Tin Mừng này, để làm một hành trình “Đứng lên và trở về” với Chúa, với Giáo Hội, và với cộng đoàn, gia đình… trong Mùa Chay thánh 2019 này.
Amen.
____________________________
Giuse Nguyễn Viết Tâm.

