“CHÚNG TÔI ĐÃ GẶP ĐẤNG CỨU THẾ”.
BÀI ĐỌC I: 1 Ga 3, 7-10
“Người ấy không phạm tội được, vì đã sinh ra bởi Thiên Chúa”.
Trích thư thứ nhất của Thánh Gioan Tông đồ.
Hỡi các con bé nhỏ, đừng để ai lừa gạt các con. Ai thi hành sự công chính là người công chính, cũng như chính Người là Đấng công chính. Ai phạm tội thì bởi quỷ mà ra, vì quỷ là kẻ phạm tội từ ban đầu. Con Thiên Chúa đã xuất hiện để phá huỷ công việc của ma quỷ.
Bất cứ ai đã sinh ra bởi Thiên Chúa, thì không phạm tội, vì mầm giống của Người ở trong kẻ ấy. Kẻ ấy không phạm tội được, vì đã bởi Thiên Chúa mà sinh ra. Do đó mà nhận ra được con của Thiên Chúa và con cái ma quỷ. Bất cứ ai không phải là người công chính, và không thương yêu anh em mình, thì không bởi Thiên Chúa mà ra.
Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 97, 1. 7- 8. 9
Đáp: Khắp nơi bờ cõi địa cầu đã nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta (c. 3a).
1) Hãy ca mừng Chúa một bài ca mới, vì Người đã làm nên những điều huyền diệu. Tay hữu Người đã tạo cho Người cuộc chiến thắng, cùng với cánh tay thánh thiện của Người. – Đáp.
2) Biển khơi và muôn vật trong đó hãy rống tiếng lên, cả địa cầu và những dân cư ngụ ở trong cũng thế. Các sông ngòi hãy vỗ tay reo, đồng thời các núi non hãy hân hoan nhảy nhót. – Đáp.
3) Trước thiên nhan Chúa, vì Người ngự tới, vì Người ngự tới cai quản địa cầu. Người cai quản địa cầu với đức công minh, và cai quản chư dân trong đường chính trực. – Đáp.
ALLELUIA:
Alleluia, alleluia! – Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã dùng các tiên tri mà phán dạy cha ông, nhưng đến thời sau hết, tức là trong những ngày này, Người đã phán dạy chúng ta nơi người Con. – Alleluia.
PHÚC ÂM: Ga 1, 35-42
“Chúng tôi đã gặp Đấng Cứu Thế”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Gioan đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông, nhìn theo Chúa Giêsu đang đi mà nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa”. Hai môn đệ nghe ông nói, liền đi theo Chúa Giêsu. Chúa Giêsu ngoảnh mặt lại, thấy họ đi theo mình, thì nói với họ: “Các ngươi tìm gì?” Họ thưa với Người: “Rabbi, nghĩa là thưa Thầy, Thầy ở đâu?” Người đáp: “Hãy đến mà xem”.
Họ đã đến và xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy, lúc đó độ chừng giờ thứ mười. Anrê, em ông Simon Phêrô, (là) một trong hai người đã nghe Gioan nói và đã đi theo Chúa Giêsu. Ông gặp Simon anh mình trước hết và nói với anh: “Chúng tôi đã gặp Đấng Messia, nghĩa là Đấng Kitô”, và ông dẫn anh mình tới Chúa Giêsu. Chúa Giêsu nhìn Simon và nói: “Ngươi là Simon, con ông Gioan, ngươi sẽ được gọi là Kêpha, nghĩa là Đá”.
Đó là lời Chúa.
_____________________________________
I/. BÀI SUY NIỆM (Ga 1, 35-42)
“CHÚNG TÔI ĐÃ GẶP ĐẤNG CỨU THẾ”. (Ga 1, 41)
Đây là lời chứng của Anrê, một trong hai môn đệ của Gioan Tẩy Giả. Anrê khẳng định với em mình là Phêrô: “Chúng tôi đã gặp Đấng Cứu thế”.
Từ “GẶP” mà thánh sử Gioan dùng ở đây rất sâu sắc.
Đó không phải là cuộc gặp bình thường giữa ta với một ai đó.
Cho dù không quen biết, nhưng hàng ngày ta vẫn gặp gỡ rất nhiều người.
Các cuộc gặp gỡ này rất hời hợt bên ngoài, có tính xã giao mà không đi vào nội tâm.
Từ “GẶP” của Gioan có 3 ý nghĩa:
1/. Đi vào mối tương quan.
2/. Loan báo cho người khác biết
3/. Biến đổi.
a/. Đi vào mối tương quan.
Từ “GẶP” của Gioan là một cảm nghiệm sâu sắc, nó không phải là cuộc gặp gỡ bề ngoài mà đi vào trong mối tương quan. Mối tương quan đó được cụ thể bằng việc “ở lại với Ngài ngày hôm đó”.
Chúa Giêsu có một sức thu hút mãnh liệt, để bất cứ ai gặp Ngài rồi đều muốn ở lại với Ngài, như 2 môn đệ của Gioan Tảy Giả là Gioan và Anrê, sau khi gặp được Chúa, họ đã đi theo đến chỗ Ngài ở và ở lại với Ngài hôm đó.
b/. Loan báo cho người khác biết
Gặp được Chúa Giêsu, không những ở lại với Ngài, mà còn nôn nóng đi báo tin cho người khác.
Anrê đã chạy về báo tin cho Simon, em ông.
c/. Biến đổi.
Sau khi báo tin, Anrê đã dẫn Simon đến gặp Chúa. Và khi thấy Simon, Chúa nói:
“Ngươi là Simon, con ông Gioan, ngươi sẽ được gọi là Kêpha, nghĩa là Đá (Tức là Phêrô)” (Ga 1, 42).
Người ta thường nói “tên là người”, như vậy khi Chúa đổi tên cho Simon, Ngài cũng biến đổi cả con người của ông.
Như vậy Simon cũng gặp thấy Chúa và đã được Chúa biến đổi.
Như vậy từ “GẶP” trong Tin mừng Gioan luôn có một ý nghĩa sâu sắc và đi đến chỗ thâm sâu nhất của mối tương quan.
Nhưng có một chi tiết kỳ lạ mà ta phải chú ý trong Bài Tin mừng hôm nay.
Ngày hôm qua, Gioan Tảy Giả đã giới thiệu Chúa cho rất nhiều người Do Thái tại sông Giocđan “ĐÂY LÀ CHIÊN THIÊN CHÚA”.
Ngày hôm nay Gioan cũng giới thiệu Chúa như vậy cho 2 môn đệ của ông. Thế mà không có một ai tò mò, thắc mắc, đi theo Chúa, để xem Chúa là người thế nào mà Gioan giới thiệu như vậy.
Không có một ai đi theo, ngoài trừ 2 môn đệ của Gioan Tảy Giả là Anrê và Gioan.
Tâ cả những người ở đây đều đã gặp Đấng Cứu thế. Nhưng họ đã không đi theo. Như vậy họ chỉ gặp Đấng Cứu thế như gặp một người rất xa lạ, không có chút tương quan gì. Họ đã gặp Đấng Cứu thế nhưng không nhận biết Đấng Cứu thế.
Vì nếu họ nhận ra Đấng Cứu thế thì ắt hẳn họ đã đi theo.
Đúng như Trong Bài đọc I, trích thư của thánh Gioan tông đồ.
Gioan viết:
“Bất cứ ai không phải là người công chính, và không thương yêu anh em mình, thì không bởi Thiên Chúa mà ra.”
Như vậy để gặp Đấng Cứu thế và nhận biết Đấng Cứu thế, ta phải bởi Thiên Chúa mà ra, có nghĩa phải biết YÊU THƯƠNG ANH EM mình.
Gioan còn viết: “Bất cứ ai đã sinh ra bởi Thiên Chúa, thì không phạm tội, vì mầm giống của Người ở trong kẻ ấy. Kẻ ấy không phạm tội được, vì đã bởi Thiên Chúa mà sinh ra”.
Điều này Gioan đã từng khẳng định:
“Thiên Chúa là tình yêu, ai ở trong tình yêu thì ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong người ấy” (1Ga 4, 8).
Chỉ có ai sống YÊU THƯƠNG mới nhận biết Đấng Cứu thế.
Ngược lại nếu không sống yêu thương thì ta không thể nhận biết Đấng Cứu thế cho dù ta có gặp thấy Ngài.
“Gặp thấy” và “Nhận biết” là 2 thái độ phải có đối với các Kitô hữu, không những ta đã gặp thấy Chúa trong Kinh thánh, trong Lời Chúa, trong các nghi thức phụng vụ mà ta còn phải nhải nhận biết Chúa là Đấng Cứu thế trong cuộc sống, đó là lúc ta sống YÊU THƯƠNG ANH EM.
Với một vài suy niệm ngắn ngủi trên, chúng ta cùng nhau bước vào Bài Tin mừng:
____________________________________
II/. BÀI CHIA SẺ (Ga 1, 35-42)
“KHI ẤY, GIOAN ĐANG ĐỨNG VỚI HAI NGƯỜI TRONG NHÓM MÔN ĐỆ CỦA ÔNG, NHÌN THEO CHÚA GIÊSU ĐANG ĐI MÀ NÓI: “ĐÂY LÀ CHIÊN THIÊN CHÚA”. HAI MÔN ĐỆ NGHE ÔNG NÓI, LIỀN ĐI THEO CHÚA GIÊSU”.
“KHI ẤY”.
Cụm từ này đúng nguyên bản phải là: “HÔM SAU”.
Nếu ai tinh ý một chút sẽ nhận ra điểm đặc sắc trong Chương 1 của Phúc âm Gioan.
Ngay sau phần mở đầu quá cao siêu đưa ta trở về thời Nguyên Thuỷ, Gioan bắt đầu bằng cụm từ: “TỪ NGUYÊN THUỶ”.
Gioan dành hết phần còn lại của CHƯƠNG 1 để dàn dựng 7 ngày đầu tiên của Chúa Giêsu khi Ngài còn tới lui sông Giocđan, sau khi chịu phép rửa.
7 ngày này cũng tương ứng với 7 ngày tạo dựng trong sách Sáng Thế. Như vậy có thể nói CHƯƠNG I PHÚC ÂM THỨ IV là cuốn sách Sáng Thế Ký thời Tân Ước.
Ta sẽ lướt qua vài ngày theo Gioan như sau:
(Ga, 1, 19):
“Và đây là lời chứng của ông Gio-an, khi người Do-thái từ Giê-ru-sa-lem cử một số tư tế và mấy thầy Lê-vi đến hỏi ông: “Ông là ai? ” _____ (Hôm nay là Buổi khởi đầu của Đức Giêsu, ta gọi là ngày thứ nhất)
(Ga 1, 29):
“Hôm sau, ông Gio-an thấy Đức Giê-su tiến về phía mình, liền nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian” _____ (Ngày thứ hai)
(Ga 1, 35):
“Hôm sau, ông Gio-an lại đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông” ______ (Ngày thứ ba)
(Ga 1, 43):
“Hôm sau, Đức Giê-su quyết định đi tới miền Ga-li-lê. Người gặp ông Phi-líp-phê và nói: “Anh hãy theo tôi.” _____ (Ngày thứ tư)
(Ga 2, 1):
“Ngày thứ ba, có tiệc cưới tại Ca-na miền Ga-li-lê. Trong tiệc cưới có thân mẫu Đức Giê-su” ______ (Ngày thứ bảy)
Vâng, Tin mừng cho mỗi ngày đều bắt đầu bằng cụm từ “Hôm sau” và “Ba ngày sau”. Như vậy Gioan đã cố ý dành hẳn tuần lễ đầu tiên, và qua cuộc dàn dựng này, ông muốn cho độc giả hiểu, có một cuộc sáng tạo và cuộc sáng tạo đó đã bắt đầu. Cuộc sáng tạo đó chính là một thế giới được cứu chuộc.
“GIOAN ĐANG ĐỨNG VỚI HAI NGƯỜI TRONG NHÓM MÔN ĐỆ CỦA ÔNG, NHÌN THEO CHÚA GIÊSU ĐANG ĐI MÀ NÓI”
Hai môn đệ được nói đến ở đây, mặc dù Thánh sử Gioan không nêu tên, nhưng nếu đọc hết bài Tin mừng, thì ta hiểu đó là Anrê và Gioan thánh sử.
Anrê thì được nêu tên, còn Gioan Thánh sử thì không. Gioan thường giấu tên mình như vậy. Trong cuốn phúc âm của ông, mỗi khi đề cập đến mình, thì ông chỉ nói “người môn đệ Chúa yêu”.
Như vậy Anrê và Gioan trước khi trở thành môn đệ của Chúa Giêsu, họ đã là môn đệ thân tín của Gioan Tẩy Giả. Ông chính là người thầy đầu tiên của họ.
Gioan Tẩy Giả giới thiệu Chúa Giêsu cho các môn đệ của mình, khi Ngài đang còn một khoảng cách về không gian “NHÌN THEO CHÚA GIÊSU ĐANG ĐI”.
Điều này rất có ý nghĩa vì người được giới thiệu không ở sát bên họ nên sự giới thiệu sẽ không bị hớp hồn bởi cái dáng vẻ bên ngoài.
“ĐÂY LÀ CHIÊN THIÊN CHÚA”.
Gioan Tảy Giả xác nhận một lần nữa: Chúa Giêsu chính là Con Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian.
Dĩ nhiên các môn đê của ông đã được nghe lời giới thiệu này ngày hôm qua, khi Gioan Tảy Giả giới thiệu Chúa Giêsu cho người Do Thái. Các môn đệ của ông cũng đã nghe thấy.
Nhưng hôm nay Gioan Tảy Giả lặp lại một lần nữa, ngoài dụng ý xác tín sâu xa hơn.
Nhưng Gioan Tảy Giả còn một dụng ý khác mà ta sẽ thấy ngay sau đây.
“HAI MÔN ĐỆ NGHE ÔNG NÓI, LIỀN ĐI THEO CHÚA GIÊSU”.
“LIỀN ĐI THEO”, có nghĩa quyết định dứt khoát đi theo mà không chút do dự.
Đây là điều tối kỵ. Vì theo nguyên tắc, không một đồ đệ nào được phép bỏ sư phụ mình ở lại để đi theo một người khác.
Gioan Tảy Giả là thầy của Anrê và Gioan thánh sử. Các ông không được phép bỏ thầy mình để đi theo Chúa Giêsu nếu các ông không được sự cho phép của thầy mình.
Độc giả có thể đặt câu hỏi:
Vậy Gioan Tảy Giả cho phép đồ đệ mình khi nào?
Thưa đó là lúc, Gioan Tảy Giả nói: “ĐÂY LÀ CHIÊN THIÊN CHÚA”.
Gioan Tẩy Giả ngầm nói với 2 đồ đệ rằng: mặc dù ông là thầy của họ, nhưng Chúa Giêsu mới chính thực là Người Thầy. Đây mới là Đấng Cứu thế, nên đi theo Ngài.
Hai môn đệ nhận ra ý của Thầy nên mới đi theo Chúa Giêsu.
“CHÚA GIÊSU NGOẢNH MẶT LẠI, THẤY HỌ ĐI THEO MÌNH, THÌ NÓI VỚI HỌ: “CÁC NGƯƠI TÌM GÌ?” HỌ THƯA VỚI NGƯỜI: “RABBI, NGHĨA LÀ THƯA THẦY, THẦY Ở ĐÂU?” NGƯờI ĐÁP: “HÃY ĐẾN MÀ XEM
“CHÚA GIÊSU NGOẢNH MẶT LẠI”.
Gioan viết rất sâu sắc, ông không viết Chúa Giêsu “quay lại”, mà là “ngoảnh mặt lại”, có nghĩa con người của Chúa Giêsu vẫn đang hướng về phía trước chỉ có mặt của Ngài ngoảnh lại thôi.
Có lẽ Chúa Giêsu đang quan tâm điều gì đó, có vẻ không muốn quan tâm có người đi theo mình.
Một sự giả vờ đầy ý nhị khêu gợi sự tò mò của người đang muốn khám phá Ngài, để lôi cuốn họ.
Chúa Giêsu lên tiếng trước: “CÁC NGƯƠI TÌM GÌ?”.
Hai môn đệ Gioan trả lời: “RABBI, NGHĨA LÀ THƯA THẦY, THẦY Ở ĐÂU?”
Câu trả lời cũng là một câu hỏi. Câu hỏi để trả lời cho câu hỏi, thật đặc biệt, ý nghĩa. Mặc dù câu trả lời không ăn nhập với câu hỏi. Nhưng hai môn đệ đã gọi Chúa Giêsu là “RABBI”.
Tiếng Rabbi theo nghĩa Do Thái, chỉ dành cho học trò gọi Thầy của mình, một vị Thầy đáng kính.
Nhưng ở đây ai cho phép các ông gọi Chúa Giêsu là Rabbi, trong khi các ông còn có người thầy là Gioan Tảy Giả kia mà!
Gioan viết thật sâu sắc. Ở đây hai môn đệ đã công nhận Chúa Giêsu là Thầy của mình rồi và các ông muốn biết nơi ở của Thầy.
Một mũi tên trúng hai đích.
Nhưng Chúa Giêsu chỉ trả lời: “HÃY ĐẾN MÀ XEM”.
Ở đây Gioan cũng viết rất hay. Chúa Giêsu không trả lời trực tiếp câu hỏi của hai ông. Ngài không nói Ngài ở Nadarét,…, nhưng là “Hãy đến mà xem”.
Câu trả lời cũng không ăn nhập gì đến câu hỏi.
Câu trả lời của Chúa Giêsu thật ra là lời mời gọi: Hai ông hãy đến với Ngài, cứ đến rồi sẽ biết, không những biết nơi ở mà còn khám phá ra con người của Ngài.
“HỌ ĐÃ ĐẾN VÀ XEM CHỖ NGƯỜI Ở, VÀ Ở LẠI VỚI NGƯỜI NGÀY HÔM ẤY, LÚC ĐÓ ĐỘ CHỪNG GIỜ THỨ MƯỜI”
02 người đi theo Đức Giêsu, đến nơi Ngài ở và ở lại với Ngài ngày hôm ấy là Gioan và Anrê.
Đây là kỷ niệm đặc biệt đối với 02 ông, do đó Thánh sử Gioan muốn ghi lại chính xác thời gian, “NGÀY HÔM ẤY, LÚC ĐÓ ĐỘ CHỪNG GIỜ THỨ MƯỜI” (theo giờ Do Thái), tức khoảng 04 giờ chiều Việt Nam.
Chính vì 04 giờ chiều nên không còn thích hợp cho việc quay về, hình như thời gian đang ủng hộ các ông, nên họ đã ở lại với Đức Giêsu ngày hôm đó.
Như vậy ngay phút đầu gặp gỡ, 02 ông đã được hoàn cảnh ưu đãi. Nhưng với một thời gian rất dài ở với Đức Giêsu, ta không thấy Gioan ghi lại một chi tiết nào. Họ đã nói gì với Đức Giêsu và Ngài đã nói với họ những gì. Không ai biết được điều này. Hoàn toàn bí mật. Gioan không muốn tiết lộ cho ai biết.
Theo các nhà chú giải, có thể hai ông đã kể lại đời sống, những khát vọng, những mong ước, thái độ “tìm kiếm” của họ. Còn Đức Giêsu, có thể Ngài đã nói cho họ biết về những dự tính, chương trình và Sứ mạng của Ngài.
“ÔNG AN-RÊ, ANH ÔNG SI-MÔN PHÊ-RÔ, LÀ MỘT TRONG HAI NGƯỜI ĐÃ NGHE ÔNG GIO-AN NÓI VÀ ĐI THEO ĐỨC GIÊ-SU. TRƯỚC HẾT, ÔNG GẶP EM MÌNH LÀ ÔNG SI-MÔN VÀ NÓI: “CHÚNG TÔI ĐÃ GẶP ĐẤNG MÊ-SI-A” (NGHĨA LÀ ĐẤNG KI-TÔ).”
Ta không biết cuộc nói chuyện giữa 02 ông và Đức Giêsu diễn ra thế nào, nhưng chỉ biết Anrê không còn gọi Đức Giêsu là Rabbi nữa (Rabbi là giáo trưởng Do Thái), ông đã gọi Đức Giêsu là Đấng Mesia (Đấng Kitô).
Ở đây có sự thay đổi lạ lùng, mặc dù trước đó Gioan Tẩy Giả đã giới thiệu Đức Giêsu là Chiên Thiên Chúa. Nhưng cái ý niệm Chiên Thiên Chúa vẫn ở bên ngoài họ, bằng chứng họ vẫn gọi Đức Giêsu là Rabbi.
Nhưng sau khi ở với Đức Giêsu “ngày hôm đó”, họ đã tiếp xúc trực tiếp, có trải nghiệm sâu sắc, họ đã được Đức Giêsu biến đổi và nhận ra Ngài là Đấng Kitô.
Đó là niềm hạnh phúc lớn lao, không có gì so sánh được. Anrê không thể giữ lại cho mình mà phải chia sẻ cho người khác. Niềm vui luôn phải được thổ lộ, còn nỗi buồn thì muốn giữ kín.
Người mà ông loan báo đầu tiên đó là Phêrô, em ông. Anrê nói: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a” (nghĩa là Đấng Ki-tô).
Có nhiều người vẫn thắc mắc giữa hai anh em Anrê và Phêrô ai là anh, ai là em?
Ở đây Gioan đã xác định rõ: Phêrô là em.
“RỒI ÔNG DẪN EM MÌNH ĐẾN GẶP ĐỨC GIÊ-SU. ĐỨC GIÊ-SU NHÌN ÔNG SI-MÔN VÀ NÓI: “ANH LÀ SI-MÔN, CON ÔNG GIO-AN, ANH SẼ ĐƯỢC GỌI LÀ KÊ-PHA” (TỨC LÀ PHÊ-RÔ).
“ĐỨC GIÊ-SU NHÌN ÔNG SI-MÔN VÀ NÓI”.
“Ngài nhìn Simôn không phải với cái nhìn hời hợt bên ngoài, cũng không phải cái nhìn soi mói, càng không phải cái nhìn của người bói toán. Nhưng Ngài nhìn Simon với cái nhìn của Con Thiên Chúa. Ngài nhìn thấu suốt con người của ông. Chính vì thế Ngài đã làm một việc mà cả Anrê và Simôn cũng không thể ngờ tới.
ANH LÀ SI-MÔN, CON ÔNG GIO-AN, ANH SẼ ĐƯỢC GỌI LÀ KÊ-PHA” (TỨC LÀ PHÊ-RÔ).
“Phêrô”, nghĩa là Đá, là Thạch. Vâng Đức Giêsu đã cho Simôn một cái tên mới. Ta không thấy Phêrô phản ứng gì? Tại sao ông không hỏi lý do Ngài đặt tên như vậy?
Chính thái độ im lặng của Phêrô đã nói lên 02 điều:
+ Phêrô được Đức Giêsu khuất phục, ông không đưa ra bất kỳ phản ứng nào. Tại sao Phêrô không phải như Gioan và Anrê đã ở với Đức Giêsu “ngày hôm đó”, ông chưa gặp Ngài bao giờ, thế nhưng chỉ với cái nhìn của Đức Giêsu đã chiếm ngự hoàn toàn con người của ông.
Vâng cái nhìn của Đức Giêsu có một sức mạnh mãnh liệt, thay đổi hẳn một con người.
+ Khi đổi tên cho Phêrô, có nghĩa Đức Giêsu sẽ trao cho ông một sứ mạng, một trách vụ tương xứng với cái tên ấy. Vâng ông sau này sẽ được Đức Giêsu đặt làm đầu Hội Thánh.
Trở nên môn đệ, nghĩa là “thay đổi” đời sống… đó là bước vào một cuộc phiêu lưu mới, trở nên một “con người mới”. Đó là ý nghĩa việc đổi tên cho Simon. Đối với các môn đệ đầu tiên, mỗi khi hồi tưởng lại, các ông đều cảm thấy việc thay đổi đời sống của mình thật là phi thường .
Đó là khởi đầu cho một định hướng hoàn toàn khác lạ trong đời sống của các ông. Trong não trạng của người Do Thái, việc đổi tên cũng có nghĩa là, Thiên Chúa hoàn toàn ảnh hưởng trên Simon Phêrô.
Những con người đó đã “tìm kiếm” Đức Giêsu, đúng vậy! nhưng chính Đức Giêsu cũng kiếm tìm họ… Chính Người khởi xướng trước nhờ “ân sủng” kỳ diệu của Người. Ơn gọi: vừa là tiếng đáp trả của con người… vừa là lời mời gọi của Thiên Chúa.
Amen.
_______________________
Giuse Nguyễn Viết Tâm.

