“HỌ ĐÃ GẶP THẤY MARIA, GIUSE VÀ HÀI NHI… VÀ TÁM NGÀY SAU NGƯỜI TA GỌI TÊN NGƯỜI LÀ GIÊSU”.
BÀI ĐỌC I: Ds 6, 22-27
“Họ sẽ kêu cầu danh Ta trên con cái Israel và Ta sẽ chúc lành cho chúng”.
Trích sách Dân Số.
Chúa phán cùng Môsê rằng: “Hãy nói với Aaron và con cái nó rằng: Các ngươi hãy chúc lành cho con cái Israel; hãy nói với chúng thế này: ‘Xin Chúa chúc lành cho con, và gìn giữ con. Xin Chúa tỏ nhan thánh Chúa cho con, và thương xót con. Xin Chúa ghé mặt lại cùng con, và ban bằng yên cho con’. Họ sẽ kêu cầu danh Ta trên con cái Israel, và Ta sẽ chúc lành cho chúng”.
Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 66, 2-3. 5. 6 và 8
Đáp: Xin Thiên Chúa xót thương và ban phúc lành cho chúng con (c. 2a).
Xướng:
1) Xin Thiên Chúa xót thương và ban phúc lành cho chúng con; xin chiếu giãi trên chúng con ánh sáng tôn nhan Chúa, để trên địa cầu người ta nhìn biết đường lối của Ngài, cho chư dân thiên hạ được biết rõ ơn Ngài cứu độ. – Đáp.
2) Các dân tộc hãy vui mừng hoan hỉ, vì Ngài công bình cai trị chư dân, và Ngài cai quản các nước địa cầu. – Đáp.
3) Chư dân, hãy ca tụng Ngài; thân lạy Chúa, hết thảy chư dân hãy ca tụng Ngài! Xin Thiên Chúa ban phúc lành cho chúng con, và cho khắp cùng bờ cõi trái đất kính sợ Ngài. – Đáp.
BÀI ĐỌC II: Gl 4, 4-7
“Thiên Chúa đã sai Con Ngài sinh hạ bởi người phụ nữ”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Galata.
Anh em thân mến, khi đã tới lúc thời gian viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con Ngài sinh hạ bởi người phụ nữ, sinh dưới chế độ Luật, để cứu chuộc những người ở dưới chế độ Luật, hầu cho chúng ta được nhận làm dưỡng tử. Sở dĩ vì anh em được làm con, Thiên Chúa đã sai Thần Trí của Con Ngài vào tâm hồn chúng ta, kêu lên rằng: “Abba!”, nghĩa là “Lạy Cha!” Thế nên, bạn không còn phải là tôi tớ, nhưng là con; mà nếu là con, tất bạn cũng là người thừa kế, nhờ ơn Thiên Chúa.
Đó là lời Chúa.
ALLELUIA: Dt 1, 1-2
Alleluia, alleluia! – Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã dùng các tiên tri mà phán dạy cha ông, nhưng đến thời sau hết, tức là trong những ngày này, Người đã phán dạy chúng ta nơi người Con. – Alleluia.
PHÚC ÂM: Lc 2, 16-21
“Họ đã gặp thấy Maria, Giuse và hài nhi… và tám ngày sau người ta gọi tên Người là Giêsu”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, các mục tử ra đi vội vã đến thành Bêlem, và gặp thấy Maria, Giuse và hài nhi mới sinh nằm trong máng cỏ. Khi thấy thế, họ hiểu ngay lời đã báo về hài nhi này. Và tất cả những người nghe, đều ngạc nhiên về điều các mục tử thuật lại cho họ.
Còn Maria thì ghi nhớ tất cả những việc đó và suy niệm trong lòng. Những mục tử trở về, họ tung hô ca ngợi Chúa về tất cả mọi điều họ đã nghe và đã xem thấy, đúng như lời đã báo cho họ.
Khi đã đủ tám ngày, lúc phải cắt bì cho con trẻ, thì người ta gọi tên Người là Giêsu, tên mà thiên thần đã gọi trước khi con trẻ được đầu thai trong lòng mẹ.
Đó là lời Chúa.
__________________________________
I/. BÀI SUY NIỆM (Lc 2, 16-21).
A/. TÂN NIÊN 2019.
Hôm nay ngày 01/01/2019, chúng ta chính thức bước sang năm mới 2019.
Nếu ngày Tất niên 2018 (31/12/2018), Giáo hội mời gọi Kitô hữu chúng ta nhìn lại quá khứ trong năm qua với tâm tình BIẾT ƠN và CẢM TẠ,
Thì bước sang ngày Tân niên 2019, Giáo hội lại mời chúng ta nhìn về tương lai với tâm tình TIN TƯỞNG – PHÓ THÁC.
Tại sao ta lại tin tưởng – Phó thác ?
Thưa vì năm mới đến với ta như một ẨN SỐ, ta không thể biết trước những gì sẽ đến với mình, gia đình mình và đất nước mình. Đau khổ có, hạnh phúc có, bất hạnh có, thất bại có, rủi ro có và bệnh tật cũng có luôn. Nó đang nằm ẩn trong 365 tờ lịch chờ ta bóc ra từng ngày.
Chính vì không thể biết trước những gì sẽ xảy đến với mình, thì sự khôn ngoan nhất của Kitô hữu là luôn tin tưởng và phó thác vào Chúa.
Ta tin THIÊN CHÚA LUÔN YÊU THƯƠNG TA và luôn đồng hành với ta trong suốt 365 ngày này cũng như trong suốt cuộc đời.
Không những ta tin Thiên Chúa là Người Cha nhân lành, mà ta còn tin Ngài là Thiên Chúa đầy quyền năng, Ngài có thể biến điều không thể thành điều có thể, biến đau khổ, bất hạnh thành niềm vui và hạnh phúc.
Chính vì thế trong Bài đọc I, trích sách Dân số, tác giả đã viết:
“Chúa phán cùng Môsê rằng: “Hãy nói với Aaron và con cái nó rằng: Các ngươi hãy chúc lành cho con cái Israel; hãy nói với chúng thế này: ‘Xin Chúa chúc lành cho con, và gìn giữ con. Xin Chúa tỏ nhan thánh Chúa cho con, và thương xót con. Xin Chúa ghé mặt lại cùng con, và ban bằng yên cho con’.
‘XIN CHÚA CHÚC LÀNH CHO CON, VÀ GÌN GIỮ CON”.
Đó sẽ là lời chúc tốt đẹp nhất của con cái Chúa khi chúc cho nhau trong Ngày Tân niên 2019.
B/. MARIA, MẸ THIÊN CHÚA.
Ngày đầu năm mới, Giáo hội cũng dành để tôn vinh Đức Maria Mẹ Thiên Chúa. Đây là hồng ân vĩ đại mà Thiên Chúa đã dành cho Mẹ.
Với người không Công giáo, họ có thể vặn hỏi chúng ta là:
Tai sao nói Thiên Chúa tạo dựng nên vũ trụ, muôn loài, tạo dựng nên con người, mà Mẹ Maria lại là Mẹ Thiên Chúa ?
Chẳng lẽ loài thụ tạo lại là Mẹ của Đấng Sáng tạo sao?
Chính thắc mắc này đã làm này sinh các lạc thuyết ở thế kỷ I và II của lịch sử Giáo hội. Người ta chống lại niềm tin đó.
Họ có thể chấp nhận Maria là Mẹ của Chúa Giêsu xét theo con người, nhưng không thể chấp nhận là MẸ THIÊN CHÚA..
Giáo hội đã bác bỏ luận điệu này và đưa ra Tín điều : “MARIA MẸ THIÊN CHÚA.”
Trong Lịch sử Giáo hội Công giáo có ghi lại:
Khi Giáo chủ Constantinople là Nestoriô công khai chối bỏ thiên chức Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria, thì Công đồng Chung Êphêsô (431) đã đuợc triệu tập và tuyên bố tín điều “Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa”. Đó là danh xưng cao trọng nhất của Đức Maria, chính phẩm chức cao cả này là nền tảng mỗi đặc ân khác dành cho Mẹ.
Công đồng chung Ephêsô đã được triệu tập vào ngày 22 – 6 – 431 tại Êphêsô gồm khoảng 200 Giám mục dưới sự chủ tọa của Thánh Cyrillô thành Alexandria. Công đồng này kết án Nestoriô và tuyên bố tín điều Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa. Toàn thể dân thành đã công khai bày tỏ niềm hân hoan trước thành quả này. Họ tổ chức rước đuốc để mừng các nghị phụ Công đồng.
Cũng từ Công đồng này mà có phần sau của kinh Kính mừng: “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử”.
Công Đồng đã tuyên tín: “TUYỆT THÔNG CHO NHỮNG AI KHÔNG TUYÊN XƯNG RẰNG ĐẤNG EMMANUEL THỰC SỰ LÀ THIÊN CHÚA, VÀ BỞI THẾ, ĐỨC TRINH NỮ LÀ MẸ CỦA THIÊN CHÚA (Theotokos) vì Mẹ đã hạ sinh Ngôi Lời Thiên Chúa hóa thành nhục thể theo xác thịt.”
Trong Bài đọc II, trong thư gửi Tín hữu Galata, Thánh Phaolô viết:
“Anh em thân mến, khi đã tới lúc thời gian viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con Ngài sinh hạ bởi người phụ nữ, sinh dưới chế độ Luật, để cứu chuộc những người ở dưới chế độ Luật, hầu cho chúng ta được nhận làm dưỡng tử. Sở dĩ vì anh em được làm con, Thiên Chúa đã sai Thần Trí của Con Ngài vào tâm hồn chúng ta, kêu lên rằng: “Abba!”, nghĩa là “Lạy Cha!”
“THIÊN CHÚA ĐÃ SAI CON NGÀI SINH HẠ BỞI NGƯỜI PHỤ NỮ”.
Đó là niềm xác tín mà Thánh Phaolô muốn truyền lại cho chúng ta.
Và trong chính đặc ân Maria, Mẹ Thiên Chúa, ta mới có thể kêu lên với Chúa rằng: “Abba!”, nghĩa là “Lạy Cha!”.
Và ta còn nhớ trong cuộc thăm viếng bà Êlisabeth. Bà Êlisabeth được đầy Chúa Thánh Thần đã nói với Mẹ Maria như sau:
“”Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Mẹ Chúa tôi đến với tôi thế này?” (Lc 1, 41 – 43)
“BỞI ĐÂU TÔI ĐƯỢC MẸ CHÚA TÔI ĐẾN VỚI TÔI THẾ NÀY”
Như vậy chính Chúa Thánh Thần đã linh ứng cho bà Êlisabeth tuyên xưng Maria, Mẹ Thiên Chúa.
Và trong Bài Tin mừng hôm nay, Luca viết:
“Khi ấy, các mục tử ra đi vội vã đến thành Bêlem, và gặp thấy Maria, Giuse và hài nhi mới sinh nằm trong máng cỏ” (Lc 2, 15).
Khi chọn Bài Tin mừng này trong ngày kính Maria, Mẹ Thiên Chúa, Giáo hội muốn nói với ta điều này:
Ta chỉ có thể hiểu được tín điều: MARIA, MẸ THIÊN CHÚA khi gắn liền nó với MẦU NHIỆM GIÁNG SINH, và Ngày Tân niên hôm nay cũng chính là ngày kết thúc Tuần Bát nhật Giáng sinh.
Tại Sao Maria có thể là Mẹ Thiên Chúa ?
Thưa: Khi Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa giáng trần, ngoài Bản tính Thiên Chúa ra, Ngài sẽ mang thêm Bản tính nhân loại.
Có nghĩa Chúa Giêsu có 2 Bản tính: Bản tính Thiên Chúa – Bản tính nhân loại.
Hai bản tính này liên kết với nhau chặt chẽ không thể tách rời trong một ngôi vị.
Có nghĩa Chúa Giêsu là THIÊN CHÚA THẬT và cũng là NGƯỜI THẬT.
Như vậy khi Maria lả mẹ Chúa Giêsu theo Bản tính nhân loại, thì Mẹ cũng là Mẹ Chúa Giêsu theo Bản tính Thiên Chúa, vì 2 Bản tính này không thể tách rời nhau.
Nếu ai chối bỏ tín điều Maria, Mẹ Thiên Chúa, thì người đó là liều lĩnh tách rời hai Bản tính nơi Chúa Giêsu.
Vì thế Kitô hữu chúng ta luôn xác tín: MARIA, MẸ THIÊN CHÚA.
C/. NGÀY HÒA BÌNH THẾ GIỚI.
Ngày Tân niên 2019 cũng là Ngày HÒA BÌNH THẾ GIỚI.
Điều này cũng có thể hiểu được khi ta phải gắn liền với MẦU NHIỆM GIÁNG SINH.
Trong đêm Con Thiên Chúa giáng trần, các Thiên thần đã hát vang như sau:
“”Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
bình an dưới thế cho loài người thiện tâm.” (Lc 2, 14).
Có nghĩa vinh danh Thiên Chúa, vinh quang Thiên Chúa trên trời luôn gắn liền với bình an dưới thế.
Vì thế trong Mầu nhiệm Giáng sinh này, ta mừng kính luôn 2 điều:
Maria, Mẹ Thiên Chúa – Hòa bình thế giới.
Nhưng cụm từ “HÒA BÌNH” luôn mang ý nghĩa hàm hồ.
Vì người ta thường nói: “MUỐN CÓ HÒA BÌNH THÌ PHẢI CHUẨN BỊ CHIẾN TRANH”.
Phải chuẩn bị chiến tranh để ngăn ngừa và ta mới có hòa bình thật sự. Có nghĩa: chiến tranh đã ẩn nấp và tồn tại ngay trong chính sự hòa bình.
Vì lẽ đó mà thế giới này chưa bao giờ có hòa bình thật sự.
Chúng ta đừng bao giờ nhầm lẫn: không có tiếng súng có nghĩa hòa bình.
Vì Ngay cả khi thế giới không còn tiếng súng, không còn sự xung đột giữa quốc gia này quốc gia kia, thì vẫn còn đó bao nhiêu cuộc khủng bố và chết chóc, vẫn còn đó bao cuộc chiến giữa người này với người kia, giữa tổ chức này với tổ chức nọ,….
Và mới đây đã xảy ra vụ khủng bố vào đoàn du khách người Việt tại Ai Cập,
Như vậy đủ chứng minh cho thấy, thế giới này chưa có hòa bình thật sự. Vì như lời Thiên thần hát: “bình an dưới thế cho loài người thiện tâm”.
Hòa bình chỉ đến với thế giới khi con người biết sống thiện tâm.
Vì thế ngày đầu năm mới, chúng ta hãy tha thiết nài xin Thiên Chúa ban hòa bình cho thế giới.
Với tất cả các suy niệm cho 3 ý nghĩa của ngày Tân niên 2019 hôm nay, chúng ta cùng nhau bước vào Bài Tin mùng:
__________________________________________
II/. BÀI CHIA SẺ (Lc 2, 16-21).
“KHI ẤY, CÁC MỤC TỬ RA ĐI VỘI VÃ ĐẾN THÀNH BÊLEM.”
Họ là những người chăn chiên ngoài đồng đang thức đêm để canh giữ đàn gia súc.
Ngay trong đêm Con Thiên Chúa giáng trần, Sứ thần Chúa đến bên họ để báo tin. Luca viết: “Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa. Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ.” (Lc 2, 10-12).
Sứ thần đã giới thiệu với họ một Hài Nhi mang ba danh hiệu trang trọng, thuộc về Thiên Chúa: Đấng Cứu Độ, Đấng chịu Xức Dầu, Đức Chúa.
“Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người”. Cứ dấu này có nghĩa đây là dấu hiệu duy nhất để nhận ra Hài nhi. Duy nhất, vì không ở đâu có “thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ”.
Hài nhi nào sinh ra cũng được chăm sóc đặc biệt, chỉ có Con Thiên Chúa lại trần trụi khó nghèo, ngay đến chiếc nôi cũng không có mà phải nằm trong máng cỏ, là chỗ để dành thức ăn cho gia súc.
Khi các thiên sứ từ biệt mấy người chăn chiên để về trời, những người này bảo nhau: “Nào chúng ta sang Bê-lem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết.” (Lc 2, 15)
Tại sao Sứ thần không báo tin cho Thượng tế, Tư tế, Kinh sư,… hay vua chúa mà lại báo báo tin cho những người chăn chiên này?
Họ có xứng đáng để nhận tin mừng này hơn các Thượng tế, Kinh sư không?
Đó là câu hỏi, nó dành cho người đương thời và cho cả chúng ta hôm nay. Vâng một nhân vật quan trọng như vậy phải được báo tin cho những người có thế giá, có địa vị, có tiền bạc, ai lại đi báo cho những người nghèo nàn, thất học, khố rách áo ôm!
Hình như Thiên Chúa luôn hành động ngược với con người, Ngài suy nghĩ khác với suy nghĩ của con người. Nguyên việc Con Thiên Chúa giáng trần trong một Hài Nhi bé bỏng, trong một khung cảnh nghèo hèn như vậy đã là sự vô lý rồi, phương chi đến việc báo tin.
Vâng Chương trình Cứu chuộc của Thiên Chúa luôn diễn ra trong sự vô lý dưới mắt người thế gian, nhưng trong sự vô lý đó Thiên Chúa mới cứu chuộc con người.
“VÀ GẶP THẤY MARIA, GIUSE VÀ HÀI NHI MỚI SINH NẰM TRONG MÁNG CỎ. KHI THẤY THẾ, HỌ HIỂU NGAY LỜI ĐÃ BÁO VỀ HÀI NHI NÀY”.
Các mục đồng này không biết gì nhiều về Maria và Giuse. Nhưng họ hiểu ngay đó là cha mẹ của Hài nhi. Họ biết đây mà mẹ của “Đấng Ki-tô Đức Chúa” như lời Sứ thần loan báo cho họ.
Điều này cũng có nghĩa Maria là MẸ THIÊN CHÚA, cho dù các mục đồng chưa xác tín được điều đó.
Ở đây Luca đã đi ngược lại với truyền thống Do Thái khi kể tên Maria đứng trước tên Giuse. Đáng lý ra cái tên Giuse phải đứng trước.
Nhưng Luca có sự sắp xếp như vậy chẳng phải vô tình nhưng là có chủ ý:
+ Luca muốn đề cao Mẹ Maria là MẸ THIÊN CHÚA.
+ Còn Giuse chỉ là cái bóng mờ. Một cái bóng mờ nhưng rất hữu hiệu, cần thiết, luôn đứng ở phía sau để đón lấy tất cả các khó khăn, các gian truân, vất vả, để che chở cho hai mẹ con..
HÀI NHI MỚI SINH NẰM TRONG MÁNG CỎ:
Khi những người chăn chiên đến nơi, họ thấy đúng như lời Sứ thần đã báo. Vì Sứ thần nói: “Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người”, bây giờ họ thấy đúng như vậy, có một Hài Nhi nằm trong máng cỏ.
Dấu hiệu “Hài Nhi nằm trong máng cỏ” sẽ là dấu hiệu chắc chắn nhất mà Sứ thần cho họ biết, vì không thể có hài nhi thứ hai nằm trong máng cỏ như vậy.
Có nghĩa không ai có thể nghèo hơn Con Thiên Chúa, không ai có thể trần trụi hơn Con Thiên Chúa. Một Thiên Chúa cao sang, uy quyền mà lại như vậy sao?
Một Thiên Chúa mà theo Gioan đã nói: “Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành.” (Ga 1, 3).
Ngài là Đấng tạo dựng tất cả thế mà không kiếm nổi cho mình một chỗ để sinh ra?
Vũ trụ này quá bao la mà ngay cả khoa học thời nay cũng chưa thể xác định ranh giới của nó, bỗng trở nên quá bé nhỏ để không còn một chỗ cho Con Thiên Chúa.
“VÀ TẤT CẢ NHỮNG NGƯỜI NGHE, ĐỀU NGẠC NHIÊN VỀ ĐIỀU CÁC MỤC TỬ THUẬT LẠI CHO HỌ”
Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên.” Một khi đã cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa, con người phải trở thành khí cụ ca rao tình yêu Thiên Chúa cho mọi người.
Thánh Phanxicô Khó Khăn chỉ có thể hát lên “Kinh Hòa Bình” sau khi đã cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa dành cho ngài. Nếu các tín hữu đều phản ứng như các Mục-đồng hôm nay, chẳng mấy chốc mọi con người trong thế giới này sẽ cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa.
Thật bất ngờ thú vị khi ‘các mục đồng đến thăm máng cỏ’ lại là người kể chuyện về Hài Nhi cho chính cha mẹ Hài Nhi!
Maria và Giuse tuyệt nhiên chẳng nói lời gì trong lúc này; chỉ có những người chăn chiên hồn nhiên đang kể về “tin mừng”mà họ nhận được, và “cũng là tin mừng cho toàn dân.”
“CÒN MARIA THÌ GHI NHỚ TẤT CẢ NHỮNG VIỆC ĐÓ VÀ SUY NIỆM TRONG LÒNG. NHỮNG MỤC TỬ TRỞ VỀ, HỌ TUNG HÔ CA NGỢI CHÚA VỀ TẤT CẢ MỌI ĐIỀU HỌ ĐÃ NGHE VÀ ĐÃ XEM THẤY, ĐÚNG NHƯ LỜI ĐÃ BÁO CHO HỌ.”
CÒN MARIA THÌ GHI NHỚ TẤT CẢ NHỮNG VIỆC ĐÓ VÀ SUY NIỆM TRONG LÒNG
Một gương sáng Đức Mẹ dạy cho con người: đứng trước Mầu Nhiệm Nhập Thể, chúng ta đừng nói nhiều, nhưng hãy ghi nhận mọi sự kiện xảy ra và suy niệm trong lòng.
Không phải chỉ lúc sinh con, nhưng trong suốt cả cuộc đời, Mẹ đã chứng kiến cuộc sống của Chúa Giêsu: khi thì rất uy quyền làm các phép lạ như tại tiệc cưới Cana, khi thì cô đơn bại trận như lúc sinh thì trên Thánh Giá. Mẹ có thể hỏi Thiên Chúa những lý do tại sao, nhưng Mẹ đã chọn sự thinh lặng và hoàn toàn tin tưởng vào Kế Hoạch và tình yêu của Thiên Chúa cho gia đình Mẹ.
“KHI ĐÃ ĐỦ TÁM NGÀY, LÚC PHẢI CẮT BÌ CHO CON TRẺ, THÌ NGƯỜI TA GỌI TÊN NGƯỜI LÀ GIÊSU, TÊN MÀ THIÊN THẦN ĐÃ GỌI TRƯỚC KHI CON TRẺ ĐƯỢC ĐẦU THAI TRONG LÒNG MẸ”
CẮT BÌ CHO CON TRẺ:
Cắt bì tức cắt bỏ một chút da qui đầu của bé trai sơ sinh.
Cắt bì có từ rất lâu đời trong lịch sử nhân loại. Tập tục nầy đã thấy ở Ai Cập từ năm 2300 trước Chúa Giáng Sinh.
Ngũ Kinh trong Kinh Thánh Cựu Ước nói nhiều về ý nghĩa và việc thực hành cắt bì như trong Sáng Thế Ký (stk 17.10-14) tường thuật lệnh truyền của Chúa như sau: “Đây là giao ước của Ta mà các ngươi phải giữ, giao ước giữa Ta với các ngươi, với dòng dõi ngươi sau này: mọi đàn ông con trai của các ngươi sẽ phải chịu cắt bì.
Các ngươi phải chịu cắt bì nơi bao quy đầu : đó sẽ là dấu hiệu giao ước giữa Ta với các ngươi. Sinh được tám ngày, mọi con trai của các ngươi sẽ phải chịu cắt bì, từ thế hệ này qua thế hệ khác, kể cả nô lệ sinh trong nhà, hay nô lệ các ngươi dùng bạc mà mua của bất cứ người ngoại bang nào không thuộc dòng dõi các ngươi.
Như vậy cắt bì đã thành luật trong đạo Cựu Ước nhằm giữ giao ước với Thiên Chúa. Luật cắt bì nghiêm nhặt đến nỗi cả khách kiều cư cũng phải thi hành như trong Xuất Hành 12.48
Nhưng sang Thời Tân Ước, tức sau khi Chúa Giêsu sinh ra, Cha Mẹ Ngài vẫn giữ luật Cựu Ước truyền thống: Tám ngày sau khi sinh, Ngài được làm lễ cắt bì và đặt tên Giêsu.
Thời các Thánh Tông Đồ, Phaolô là người ý thức về ơn cứu độ phổ quát nên đã tranh luận và yêu cầu bỏ luật cắt bì của Do Thái, được ghi trong Tông Đồ Công Vụ 11.1.
Phaolô chủ trương một thánh hoá không chỉ bề ngoài, không chỉ chu toàn luật Cựu Ước nhưng là “cắt bì trong tâm hồn” như được ghi lại trong thư Thánh Phaolô gửi Rôma 2.28-29 và Galata 3.3. Điều quan trọng đối với Kitô hữu là tin Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế và từ bỏ con người cũ tội lỗi.
Phaolô không đồng ý cho Titô chịu cắt bì, vì là người Hy Lạp. Còn Timôtê người Do Thái, thì nên giữ tập tục Do Thái như được ghi trong Tông Đồ Công Vụ 16.1 và Thư gửi Galata 3.2-5.
Chúng ta phải cám ơn Thánh Phaolô đã hiểu được ý nghĩa cắt bì trong Đạo Cựu Ước và đã tranh luận để bỏ áp dụng luật cắt bì của Do Thái cho người ngoài Do Thái mới tòng giáo. Nhờ vậy mà nước Chúa được dân ngoại đón nhận và mọi tâm hồn được thánh hoá từ đức tin và từ nội tâm.
“NGƯỜI TA GỌI TÊN NGƯỜI LÀ GIÊSU
Tên Giêsu (Jesus) trong tiếng Do-Thái có nghĩa là “Giavê cứu thoát,” đó là tên mà Sứ-thần đã truyền đặt cho Người trước khi Người được thụ thai trong lòng mẹ (Lc 1:31).
Bước qua Năm Mới, mở trang đầu của cuốn lịch mới, Chúng ta mong những điều mới mẻ tốt lành xảy đến cho mình Và muốn tặng cho nhau một câu chúc đầy ý nghĩa:
“NGUYỆN ĐỨC CHÚA GHÉ MẮT NHÌN VÀ BAN BÌNH AN CHO ANH EM!”
Amen.
_________________________
Giuse Nguyễn Viết Tâm.

