* Gương Thánh nhân: Sau khi bị bắt, cha Đạt bị giam trong ngục chỉ khoảng hai tháng, mà cha đã gây cảm tình được hết mọi người, kể cả viên cai ngục. Ông nầy thố lộ với Cha:
– Tôi thấy cha hiền lương nhân đức, tôi hết sức cảm mến, muốn kết nghĩa keo sơn với cha. Nhưng vì cha sắp bị tử hình, nên tôi xin biếu cha chiếc quan tài, để tỏ lòng tôi quý mến cha.
Do đâu cha được mọi người thương yêu như thế?…
Cha chính địa phận Tây Đàng Ngoài cho biết:
“Cha Đạt có rất nhiều nhân đức… các nhân đức của cha thu hút lòng quý mến của tất cả những người có dịp tiếp xúc với cha”.
Gioan Đạt sinh năm 1765 tại Khê Cầu, thuộc giáo phận Tây Đàng Ngoài. Cha chết sớm, bà mẹ phải tần tảo nuôi cậu ăn học. Lớn lên, cậu được Chúa thương kêu gọi giúp việc Chúa; nhưng vì gia đình nghèo, không thể lo cho cậu nổi, bà mẹ đến xin Cha xứ Đồng Chuối giúp đỡ. Thấy cậu đạo đức, học hành giỏi giắn, cha xứ sẵn sàng lo cho cậu. Cha cho cậu sống trong nhà xứ, hằng ngày cha giúp cậu học hành, tập luyện nhân đức. Năm cậu 18 tuổi, cha gởi vào Chủng viện. Trong thời gian ở đây, cậu tỏ ra xuất sắc về học vấn cũng như đức hạnh, được Bề trên quý mến, đồng bạn kính nể. Và sau khi mãn khóa thần học, thầy Gioan được sai đi phụ giúp các cha ở giáo xứ, thực tập làm mục vụ. Đến năm 1798, thầy được gọi về chịu chức Linh mục.
Vị tân Linh mục tuy tuổi còn trẻ, nhưng như cha chính địa phận nhận xét:
“Cha Đạt có rất nhiều nhân đức… Do đó, lời cha nói cũng như bài giảng của cha có sức thuyết phục lòng mọi người”.
Cha được Đức Cha cử đến các xứ Hảo Nho, Thân Phú. Ở đâu, cha cũng đưa về cho Chúa nhiều linh hồn: người lương vào đạo, các tín hữu bê bối sám hối ăn năn.
Nhưng cha hoạt động tông đồ chưa được 06 tháng, vua Cảnh Thịnh đã ra chiếu chỉ bắt đạo gắt gao. Các giáo hữu bị tầm nã, nhất là các Linh mục bị lùng bắt khắp nơi. Muốn thi hành mục vụ, các cha phải ẩn nấp rày đây mai đó, đợi lúc quan quân rút về căn cứ mới đi làm các Bí tích. Cha Đạt cũng lâm vào hoàn cảnh khó khăn như thế. Cha phải vào rừng ẩn trốn, khi biết rõ tình hình lắng dịu, cha trở lại giúp lo cho giáo dân. Chẳng may một hôm cha vừa làm lễ an táng xong, quân lính ập tới vây bắt. Giáo hữu đưa cha ra nhà sau, chỉ đường cho cha chạy trốn, trong khi đó quân lính đã xét thấy đồ lễ của cha, nên tra tấn chủ nhà và các tín hữu có mặt ở đó, buộc phải khai Đạo trưởng, bằng không họ sẽ đánh chết. Nghe thấy thế, cha không thể cầm lòng được, cha không thể sống khi con chiên có thể bị đánh chết. Thế là cha noi gương Chúa Giê-su, ra nộp mình chịu chết thế cho đoàn chiên. Cha bước ra tuyên bố:
– Chính tôi là Đạo trưởng đây. Các ông hãy bắt tôi, và tha cho các người nầy.
Quân lính liền áp lại bắt trói cha, đánh đập dữ dội, rồi giải về Thanh Hóa.
Ở đây, cha bị giam chung tại Đình Đang khoảng 02 tháng. Thấy cha hiền lương nhân đức, mọi người đều mến thương cha; cả những người lương, lính canh cũng như quan cai ngục đều có cảm tình với cha. Ông cai ngục hứa biếu cha chiếc quan tài để tỏ lòng quý mến cha.
Nhiều lần cha bị đưa ra công đường tra khảo. Chính Hoàng đế là em vua Cảnh Thịnh đứng ra xét xử cha, bắt ép cha bước qua Thánh giá sau khi tra tấn đánh đập; nhưng ông hoàn toàn thất bại, không lay chuyển được lòng tin kiên vững của người chiến sĩ Chúa.
Sau cùng, ông buộc lòng tuyên bố án xử tử cha. Và ngày 28 tháng 10 năm 1789, quân lính dẫn cha ra pháp trường Trinh Hà, chịu chém đầu đổ máu ra làm chứng cho Chúa, khi mới 33 tuổi và làm Linh mục chưa đầy một năm.
Ngày 27 tháng 05 năm 1900 Đức Giáo Hoàng Lê-ô 13 phong cha lên Chân phước. Và Đức Thánh Cha Gioan Phaolô 2 suy tôn cha lên bậc Hiển Thánh ngày 19 tháng 06 năm 1988.
* Quyết tâm: Noi gương thánh Gioan Đạt Linh mục tử đạo, hằng ngày cố gắng sống hiền lành nhân đức, để được mọi người quý mến, và kiên trì bền vững hy sinh vì Chúa.
* Lời nguyện: Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại, luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng.

