“CHÚA GIÊSU ĐẾN, CẦM BÁNH VÀ CÁ TRAO CHO HỌ ĂN”.
BÀI ĐỌC I: Cv 4, 1-12
“Ơn cứu độ không gặp được ở nơi một ai khác”.
Trích sách Tông đồ Công vụ.
Trong những ngày ấy, đang lúc Phêrô và Gioan giảng cho dân chúng (sau khi chữa lành người què), thì các tư tế, vị lãnh binh cai đền thờ và các người thuộc nhóm Sađốc áp tới, bực tức vì các ngài giảng dạy dân chúng và công bố việc Đức Giêsu từ cõi chết sống lại. Họ ra tay bắt các ngài và đem tống giam vào ngục cho đến hôm sau, vì lúc đó đã chiều tối rồi. Nhưng trong số những kẻ nghe giảng, có nhiều người tin, và nguyên số đàn ông cũng đã tới năm ngàn người. Đến hôm sau, các thủ lãnh, kỳ lão và luật sĩ ở Giêrusalem, có cả Anna thượng tế, Caipha, Gioan, Alexanđê, và tất cả những người thuộc dòng tư tế, nhóm họp. Họ cho điệu hai ngài ra giữa mà chất vấn rằng: “Các ông lấy quyền hành và danh nghĩa nào mà làm điều đó?”
Lúc bấy giờ Phêrô được đầy Thánh Thần đã nói: “Thưa chư vị thủ lãnh toàn dân và kỳ lão, xin hãy nghe, nhân vì hôm nay chúng tôi bị đem ra xét hỏi về việc thiện đã làm cho một người tàn tật, về cách thức mà con người đó đã được chữa khỏi, xin chư vị tất cả, và toàn dân Israel biết cho rằng: Chính nhờ Danh Đức Giêsu Kitô Nadarét, Chúa chúng tôi, Người mà chư vị đã đóng đinh, và Thiên Chúa đã cho từ cõi chết sống lại, chính nhờ danh Người mà anh này được lành mạnh như chư vị thấy đây. Chính Người là viên đá đã bị chư vị là thợ xây loại ra, đã trở thành viên Đá Góc tường; và ơn cứu độ không gặp được ở nơi một ai khác. Bởi chưng không một Danh nào khác ở dưới gầm trời đã được ban tặng cho loài người, để nhờ vào Danh đó mà chúng ta được cứu độ”.
Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 117, 1-2 và 4. 22-24. 25-27a
Đáp: Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường (c. 22).
Hoặc đọc: Alleluia.
1) Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở. Hỡi nhà Israel, hãy xướng lên: “Đức từ bi của Người muôn thuở”. Hỡi những người tôn sợ Chúa, hãy xướng lên: “Đức từ bi của Người muôn thuở”. – Đáp.
2) Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường. Việc đó đã do Chúa làm ra, việc đó kỳ diệu trước mắt chúng ta. Đây là ngày Chúa đã thực hiện, chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về ngày đó. – Đáp.
3) Thân lạy Chúa, xin gia ơn cứu độ; thân lạy Chúa, xin ban cho đời sống phồn vinh. Phúc đức cho Đấng nhân danh Chúa mà đến; từ nhà Chúa, chúng tôi cầu phúc cho chư vị. Chúa là Thiên Chúa và đã soi sáng chúng tôi. – Đáp.
ALLELUIA: Tv 117, 24
Alleluia, alleluia! – Đây là ngày Chúa đã thực hiện, chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về ngày đó. – Alleluia.
BÀI TIN MỪNG: Ga 21, 1-14
“Chúa Giêsu đến, cầm bánh và cá trao cho họ ăn”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, lúc các môn đệ đang ở bờ biển Tibêria, Chúa Giêsu lại hiện đến. Công việc đã xảy ra như sau: Simon Phêrô, Tôma cũng gọi là Điđymô, Nathanael quê tại Cana xứ Galilêa, các con ông Giêbêđê, và hai môn đệ nữa đang ở với nhau. Simon Phêrô bảo: “Tôi đi đánh cá đây”. Các ông kia nói rằng: “Chúng tôi cùng đi với ông”. Mọi người ra đi xuống thuyền. Nhưng đêm ấy các ông không bắt được con cá nào. Lúc rạng đông, Chúa Giêsu hiện đến trên bờ biển, nhưng các môn đệ không biết là Chúa Giêsu. Người liền hỏi: “Này các con, có gì ăn không?” Họ đồng thanh đáp: “Thưa không”. Chúa Giêsu bảo: “Hãy thả lưới bên hữu thuyền thì sẽ được”. Các ông liền thả lưới và hầu không kéo nổi lưới lên, vì đầy cá. Người môn đệ Chúa Giêsu yêu, liền nói với Phêrô: “Chính Chúa đó”. Simon Phêrô nghe nói là Chúa, liền khoác áo vào, vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển. Các môn đệ khác chèo thuyền vào và kéo lưới đầy cá theo, vì không còn xa đất bao nhiêu, chỉ độ hai trăm thước tay.
Khi các ông lên bờ, thấy có sẵn lửa than, trên để cá và bánh. Chúa Giêsu bảo: “Các con hãy mang cá mới bắt được lại đây”. Simon Phêrô xuống thuyền kéo lưới lên bờ. Lưới đầy toàn cá lớn; tất cả được một trăm năm mươi ba con. Dầu cá nhiều đến thế, nhưng lưới không rách.
Chúa Giêsu bảo rằng: “Các con hãy lại ăn”. Không ai trong đám ngồi ăn dám hỏi: “Ông là ai?” Vì mọi người đã biết là Chúa. Chúa Giêsu lại gần, lấy bánh trao cho các môn đệ; Người cũng cho cá như thế. Đây là lần thứ ba, Chúa Giêsu đã hiện ra với môn đệ khi Người từ cõi chết sống lại.
Đó là lời Chúa.
_________________________
PHẦN MỞ ĐẦU:
Chúa chết chưa hết truyện, mà là bắt đầu một kỷ nguyên mới; một kỷ nguyên từ nay, Ngài hoạt động trong và với các tông đồ.
Các Bài Đọc hôm nay dẫn chứng việc Chúa Giêsu vẫn sống và làm việc với các tông đồ.
TRONG BÀI ĐỌC I Trích sách Tông đồ Công vụ, những người trong Thượng Hội Đồng rất ngạc nhiên khi thấy hai ông Phêrô và Gioan có thể chữa lành một người què từ lúc mới sinh. Họ chất vấn hai ông nhờ quyền năng nào và nhân danh ai làm chuyện đó.
Thánh Phêrô được đầy quyền năng Thánh Thần đã mạnh dạn tuyên xưng: chúng tôi nhân danh Chúa Giêsu Nazareth, Người đã bị các ông đóng đinh vào Thập Giá. Ngài vẫn đang sống và họat động trong chúng tôi; và không ai có thể được cứu độ nếu không tin vào Danh Ngài.
Ông còn khẳng định mạnh mẽ: “Chính Người là viên đá đã bị chư vị là thợ xây loại ra, đã trở thành viên Đá Góc tường; và ơn cứu độ không gặp được ở nơi một ai khác. Bởi chưng không một Danh nào khác ở dưới gầm trời đã được ban tặng cho loài người, để nhờ vào Danh đó mà chúng ta được cứu độ.”
TRONG BÀI TIN MỪNG theo thánh Gioan, Chúa Giêsu vẫn hằng theo dõi cuộc sống của các tông đồ. Khi thấy các ông vất vả suốt đêm mà không bắt được con cá nào, Người hướng dẫn các ông cách bắt nhiều cá. Khi thấy các ông mệt mỏi và đói khát, Ngài chuẩn bị đồ ăn thức uống để các ông được tăng sinh lực.
Chúng ta bắt đầu đi vào Bài Tin mừng:
_________________________
BÀI PHÂN TÍCH (Ga 21, 1-14)
CHƯƠNG 21 – PHẦN PHỤ LỤC PHÚC ÂM GIOAN
Căn cứ vào đoạn cuối cùng của Chương 20,
Gioan viết: “Đức Giê-su đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người.” (Ga 20, 30 – 31).
Ta có thể khẳng định Phúc âm của Gioan đã kết thúc, tức chỉ có 20 Chương.
Nhưng sau này lại xuất hiện thêm một Chương nữa là Chương 21, chương 21 được gọi là PHẦN PHỤ LỤC.
Chương 21 này do ai viết?
Căn cứ vào những yếu tố sau đây, ta có thể khẳng định chính Gioan đã viết thêm Chương 21 này.
1/. Căn cứ vào đoạn cuối cùng của Chương 21:
“Chính môn đệ này làm chứng về những điều đó và đã viết ra. Chúng tôi biết rằng lời chứng của người ấy là xác thực. Còn có nhiều điều khác Đức Giê-su đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ: cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra.” (Ga 21, 24 – 25).
2/. Căn cứ vào văn phong, lối hành văn và lối suy nghĩ, ta cũng có thể khẳng định chính Gioan viết Chương 21 này, chứ không phải đồ đệ nào của ông.
Một câu hỏi được đặt ra:
Gioan viết Chương 21 này để làm gì? Và tại sao không gom chung vào những chương đã có mà lại viết tách riêng ra thành một chương.
Như ta biết Gioan viết cuốn Phúc âm thứ tư khi đã về già và đã có quá nhiều thời gian chiêm ngắm cuộc đời Chúa Giêsu, ông đã nghiền gẫm tất cả lời nói và việc làm của Chúa và ông là môn đệ thân tín nhất của Chúa nên có nhiều lợi thế hơn các thánh sử khác, vì thế cuốn Phúc âm rất có chiều sâu.
Nhưng khi viết xong 20 Chương, sau một thời gian, đã nảy ra một số vấn đề quan trọng mà Gioan cần phải làm rõ. Đó là:
+ Quyền tối thượng của thánh Phê-rô, lãnh đạo Giáo Hội (Ga 21, 1-14). Phêrô là vị Giáo hoàng đầu tiên của Giáo hội theo như Chúa Giêsu đã chọn.
+ Số phận và vai trò của chính Gioan, “người môn đệ Chúa yêu” (Ga 21, 20 – 23).
vì lúc ấy, ngay trong anh em có tin đồn Gioan sẽ không phải chết cho đến khi Chúa Giêsu đến lần thứ hai. Chúa Giêsu đã trả lời cho Phêrô, Gioan viết: “Đức Giê-su đã không nói với ông Phê-rô là: “Anh ấy sẽ không chết”, mà chỉ nói: “Giả như Thầy muốn anh ấy còn ở lại cho tới khi Thầy đến, thì việc gì đến anh? ” (Ga 21, 23).
Và thực tế Gioan đã chết vì già, chứ không phải vì tử đạo, mặc dù Gioan cũng đã chịu hành hình để thông phần đau khổ với Thầy mình.
“Sử sách kể lại rằng, khi biết còn một môn đệ chót của Chúa Giêsu còn sống và giảng dạy ở Á Châu, Hoàng đế Domitianô truyền đem Gioan về Roma để kết án tử. Người ta đánh đòn Ngài rồi dẫn tới cửa La Tinh và dìm vào vạc dầu sôi. Thật lạ lùng, Ngài đi ra không hề hấn gì. Quan án xúc động không dám hành hạ Ngài nữa và truyền đày ải ở đảo Patmô. Vị tông đồ rao giảng Tin Mừng và rửa tội cho dân trên đảo. Chính ở đây mà Ngài có được thị kiến và lãnh mệnh lệnh ghi lại trong sách “Khải huyền”. Những cao siêu mà vị tông đồ vươn tới, đã làm cho Ngài được ví như cánh chim phượng hoàng bay bổng trên trời cao.
(sưu tầm)
Chúng ta bắt đầu đi vào Bài Tin mừng:
“KHI ẤY, LÚC CÁC MÔN ĐỆ ĐANG Ở BỜ BIỂN TIBÊRIA, CHÚA GIÊSU LẠI HIỆN ĐẾN. CÔNG VIỆC ĐÃ XẢY RA NHƯ SAU: SIMON PHÊRÔ, TÔMA CŨNG GỌI LÀ ĐIĐYMÔ, NATHANAEL QUÊ TẠI CANA XỨ GALILÊA, CÁC CON ÔNG GIÊBÊĐÊ, VÀ HAI MÔN Đệ NỮA ĐANG Ở VỚI NHAU”
“LÚC CÁC MÔN ĐỆ ĐANG Ở BỜ BIỂN TIBÊRIA”.
Như ta biết theo Matthêu, Thiên thần Chúa đã nói với bà Maria Madalena và một số bà khác đi thăm mộ: “Người đã trỗi dậy từ cõi chết, và Người đi Ga-li-lê trước các ông. Ở đó, các ông sẽ được thấy Người. Đấy, tôi xin nói cho các bà hay.” (Mt 28, 7) và chính Chúa Giêsu phục sinh cũng đã nói với các bà như vậy (Mt 28, 10).
Các bà về báo tin cho các tông đồ, và họ đã chuẩn bị rời Giêrusalem để trở về Galiliê.
Các môn đệ đã tụ họp tại bờ biển Tibêria, cũng gọi là Biển hồ Galilê.
Có một số câu hỏi được đặt ra:
1/. Tại sao trong danh sách Gioan liệt kê chỉ có 07 người?
trong khi đó Nhóm Mười Một (trừ Giuđa) có tất cả 11 người? Rõ ràng đã vắng mặt 04 ông? Những ông kia đang ở đâu?
Như ta biết sau khi Chúa Giêsu chết, các môn đệ đã lui về căn nhà bí mật và ở đó để nghe ngóng tình hình. Nhưng không phải tất cả đều ở trong một căn nhà.
Người ta thường nói: “Không nên để hết số trứng trong một cái rổ”, đó là điều khôn ngoan, nên để số trứng phân ra thành nhiều rổ, nếu có bị bể cái rổ này còn trứng trong rổ khác.
Như vậy các môn đệ đã phân ra ở nhiều nhà bí mật khác nhau, nên khi nghe tin báo, các ông không thể về Galilê cùng một lúc, có kẻ trước, người sau.
2/. Chúa Giêsu chỉ nói về Galilê mà không xác định địa chỉ nào cụ thế, mà Galilê là miền rất rộng.
Tại sao các môn đệ không chọn địa điểm khác mà chọn biển hồ Galilê?
Thưa Biển hồ Galilê là nơi ghi dấu quá nhiều kỷ niệm:
+ là nơi Chúa Giêsu chọn 4 môn đệ đầu tiên
+ là nơi Chúa Giêsu ngang dọc trong suốt thời gian thực hiện Sứ vụ loan báo Tin mừng, lúc ở bờ bên này, lúc ở bờ bên kia.
Vì thế khi nghe nói đến Galilê, các ông không thể hiểu địa chỉ nào khác ngoài Biển hồ Galilê.
“SIMON PHÊRÔ BẢO: “TÔI ĐI ĐÁNH CÁ ĐÂY”. CÁC ÔNG KIA NÓI RẰNG: “CHÚNG TÔI CÙNG ĐI VỚI ÔNG”. MỌI NGƯỜI RA ĐI XUỐNG THUYỀN”
Trong thời gian chờ đợi Chúa Giêsu hiện đến, các ông không biết làm gì và cũng không có dự định gì.
Nay đang ở Biển hồ, cái máu nghề nghiệp của các ông lại nổi lên. Phêrô vị Tông đồ trưởng khởi xướng: “TÔI ĐI ĐÁNH CÁ ĐÂY”, các môn đệ kia liền hưởng ứng ngay “CHÚNG TÔI CÙNG ĐI VỚI ÔNG”. Phêrô muốn vực dậy tinh thần cho các bạn đồng nghiệp, không nên chán nản mà ngồi đó buông xuôi, phải làm một cái gì chứ.
Ngày xưa Chúa Giêsu gọi Phêrô, Anrê, Giacôbê, Gioan cũng tại Biển hồ này, Ngài nói với các ông: “”Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá.” (Mt 4, 19).
Lưới người thì không còn nữa vì Chúa Giêsu đã chết, bao nhiêu hoài bão đã tan thành mây khói, bây giờ đành phải lưới cá vậy.
“NHƯNG ĐÊM ẤY CÁC ÔNG KHÔNG BẮT ĐƯỢC CON CÁ NÀO”
Sự kiện này làm cho ta phải suy nghĩ. Ở đây tất cả mọi điều kiện đã có sẵn: Họ là những ngư phủ lành nghề – Biển hồ rất nhiều cá – Cá thường xuất hiện vào ban đêm – Biển yên sóng lặng,…. thật là lý tưởng cho việc đánh cá. Nhưng họ vẫn bị thất bại.
Như vậy, đây là lần thứ hai các ông đã thất bại. Lần thứ nhất cũng xảy ra tại biển hồ này, các ông đã thất bại (Lc 5, 3-7), bây giờ cũng thế.
Lịch sử đã lặp lại như muốn chứng minh một chân lý: Với những ai ỷ nại vào tài năng, ỷ nại vào sự khôn ngoan thông thái của mình mà không biết cậy trông vào Chúa, họ sẽ bị thất bại nặng nề.
Ta có thể hỏi những người đã thành công ở đời, họ sẽ cho ta những trải nghiệm hết sức thú vị. Sở dĩ họ thành công vì họ luôn sống trong tinh thần phó thác và cậy trông vào Chúa, cho dù đó là việc nhỏ nhất.
Có ai ở đời dám vỗ ngực tự hào mình là người tài giỏi, “Ai nên khôn mà không khốn một lần”, vì khi tự hào như vậy, họ là những con người kiêu ngạo, mà Kinh thánh nói: Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên. Khiêm tốn chính là nhìn ra con người thật của mình, nhìn ra con người yếu đuối của mình để luôn cậy trông vào ân sủng của Thiên Chúa.
“LÚC RẠNG ĐÔNG, CHÚA GIÊSU HIỆN ĐẾN TRÊN BỜ BIỂN, NHƯNG CÁC MÔN ĐỆ KHÔNG BIẾT LÀ CHÚA GIÊSU. NGƯỜI LIỀN HỎI: “NÀY CÁC CON, CÓ GÌ ĂN KHÔNG?” HỌ ĐỒNG THANH ĐÁP: “THƯA KHÔNG”. NGƯỜI BẢO CÁC ÔNG: “CỨ THẢ LƯỚI XUỐNG BÊN PHẢI MẠN THUYỀN ĐI, THÌ SẼ BẮT ĐƯỢC CÁ.”
“LÚC RẠNG ĐÔNG”
Có nghĩa không còn đêm tối nữa, nhưng cũng chưa đủ sáng để nhìn rõ mặt nhau.
Qua cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và các môn đệ, ta có thể hiểu thuyền các ông đã vào gần bờ với khoảng cách đủ nghe tiếng đối thoại, nhưng cũng chưa đủ ánh sáng để họ nhận ra Chúa Giêsu, vì thế Gioan viết: “CÁC MÔN ĐỆ KHÔNG BIẾT LÀ CHÚA GIÊSU”.
“NÀY CÁC CON, CÓ GÌ ĂN KHÔNG?”
Chúa Giêsu hiện đến với họ với dáng dấp thật đơn sơ: “Này các con, có gì ăn không?”Các môn đệ chưa từng quen với tình huống mới mẻ này; bởi vì gặp một con người đã chết nay hiện đến hoàn toàn như một người đang sống là một việc từ xưa đến nay chưa từng có.
“CỨ THẢ LƯỚI XUỐNG BÊN PHẢI MẠN THUYỀN”
Thế nhưng qua lời nói mà họ đã từng nghe: “Hãy thả lưới bên phải mạn thuyền,” Chúa Giêsu là con người mà họ đã gặp bên Biển Hồ Tibêria, đã chung sống suốt ba năm qua mà họ tưởng là đã chết. Với con người này vẫn chỉ là một, vẫn gần gũi, thân mật quan tâm chu đáo như thuở ban đầu. Thật là một Thiên Chúa mà việc lớn không bỏ, việc nhỏ không quên!
Đức Giêsu đóng vai người khách bộ hành vui miệng hỏi thăm, nhưng các môn đệ không nhận ra Ngài. Như vậy trong tất cả các lần Đức Giêsu hiện ra, không ai nhận ra Ngài ngay lúc gặp mặt.
Đó là đặc điểm của Đức Giêsu Phục sinh. Tại sao họ không nhận ra?
vì Đức Giêsu Phục sinh, thân xác Ngài được biến đổi. Một thân xác hiển linh, không còn bị ảnh hưởng bởi không gian và thời gian. Ta không biết thân xác của Ngài biến đổi thế nào, nhưng chỉ khi Ngài tỏ cho ai thì người ấy mới nhận biết.
“Người nói với các ông: “các con, không có gì ăn ư?” Các ông trả lời: “Thưa không.” Một câu hỏi với cách xưng hô rất bình dân, và câu trả lời cũng rất thật tình, một lời thú nhận thất bại.
Độc giả chú ý, Đức Giêsu không hỏi: “các con có bắt được gì không?” nhưng Ngài hỏi: “Có gì ăn không?” có nghĩa Ngài muốn hỏi đến lượng cá nhỏ nhất, đủ để ăn. Các môn đệ trả lời: “Thưa không”, như vậy chứng tỏ họ không bắt được gì, cho dù một con. Sở dĩ phải nhấn mạnh điểm này để muốn nói, họ bị thất bại hoàn toàn cho dù là các tay ngư phủ lành nghề.
“Người bảo các ông: “Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, thì sẽ bắt được cá.” Lần này khác với lần trước. Ở lần trước Đức Giêsu nói với Simon: “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá.” Nhưng lần này Ngài lại nói: “Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi”.
Độc giả thấy lời Đức Giêsu có nhiều điểm làm ta phải suy nghĩ:
1/. Đức Giêsu chỉ là khách bộ hành đang thăm biển vào buổi sáng, Ngài không phải là ngư phủ chứ chưa nói đến ngư phủ lành nghề, với lại đang đứng trên bờ, làm sao Ngài có thể phóng mắt để biết bên phải mạn thuyền có cá.
2/. Trời đã sáng, ở Biển hồ này cá thường xuất hiện vào ban đêm, đến sáng chúng di chuyển về chỗ ở của chúng, thì làm gì còn cá để mà bắt.
3/. Đức Giêsu không nói các ông thả lưới ở một nơi khác, mà thả ngay nơi các ông đã thất bại, thì làm gì có cá. Các ông đã thả lưới ở chỗ đó và đã không bắt được gì.
“CÁC ÔNG LIỀN THẢ LƯỚI VÀ HẦU KHÔNG KÉO NỔI LƯỚI LÊN, VÌ ĐẦY CÁ. NGƯỜI MÔN ĐỆ CHÚA GIÊSU YÊU, LIỀN NÓI VỚI PHÊRÔ: “CHÍNH CHÚA ĐÓ”.
Các môn đệ vì nghe lời Chúa nên đã bắt được mẻ cá đầy “HẦU KHÔNG KÉO NỔI LƯỚI LÊN”.
Đúng là một phép lạ, vì các ông thả lưới ngay tại chỗ các ông đã thất bại, nay vì vâng theo Lời Chúa, các ông đã thành công.
Nhưng trước phép lạ này, chỉ có mình “Người môn đệ Chúa yêu” nhận ra Thầy mình, trong khi đó ngay cả Phêrô cũng không biết. Như vậy, chính tình yêu đối với Chúa Giêsu quá mạnh nên Gioan nhạy bén nhận ra Ngài.
SIMON PHÊRÔ NGHE NÓI LÀ CHÚA, LIỀN KHOÁC ÁO VÀO, VÌ ĐANG Ở TRẦN, RỒI NHẢY XUỐNG BIỂN. CÁC MÔN ĐỆ KHÁC CHÈO THUYỀN VÀO VÀ KÉO LƯỚI ĐẦY CÁ THEO, VÌ KHÔNG CÒN XA ĐẤT BAO NHIÊU, CHỈ ĐỘ HAI TRĂM THƯỚC TAY.”
Cũng vẫn là Phêrô, Tông đồ trưởng, luôn là người đi đầu trong tất cả mọi sự kiện.
Ông “vội khoác áo vào vì đang ở trần”, đó là thái độ tôn kính đặc biệt đối với Đức Giêsu. Ông không thể gặp Ngài với mình trần như vậy, cho dù đang lúc làm việc. Ông nhảy xuống biển vì muốn gặp Thầy ngay tức khắc mà không chờ cùng với các ông khác chèo thuyền vào.
Thái độ mau mắn này luôn là đặc tính của con người Phêrô, nó nói lên sự nhiệt tình và lòng yêu mến Thầy một cách đặc biệt, cho dù vì giây phút yếu đuối, ông đã chối Thầy đến 03 lần.
“Các môn đệ khác chèo thuyền vào bờ kéo theo lưới đầy cá, vì các ông không xa bờ lắm, chỉ cách vào khoảng gần một trăm thước.” Các môn đệ khác cũng chèo thuyền theo Phêrô để gặp Chúa Giêsu.
Chương 21 sẽ nêu bật vị trí của Phêrô, vì trong lần hiện ra với các môn đệ ở Biền hồ, Đức Giêsu mới xác định vai trò Thủ lĩnh của Phêrô trong Giáo hội. Nhưng trong Bài Tin mừng hôm nay chưa đề cập đến.
“KHI CÁC ÔNG LÊN BỜ, THấY CÓ SẴN LỬA THAN, TRÊN ĐỂ CÁ VÀ BÁNH. CHÚA GIÊSU BẢO: “CÁC CON HÃY MANG CÁ MỚI BẮT ĐƯỢC LẠI ĐÂY”. SIMON PHÊRÔ XUỐNG THUYỀN KÉO LƯỚI LÊN BỜ. LƯỚI ĐẦY TOÀN CÁ LỚN; TẤT CẢ ĐƯỢC MỘT TRĂM NĂM MƯƠI BA CON. DẦU CÁ NHIỀU ĐẾN THẾ, NHƯNG LƯỚI KHÔNG RÁCH.”
Khi vẫn còn ở Biển hồ, các môn đệ thấy Đức Giêsu như người khách bộ hành thăm biển lúc sáng sớm, nhưng khi lên bờ, các ông mới thấy Ngài là người Thầy vĩ đại, quan tâm lo lắng cho học trò mình rất chu đáo. Gioan viết: “Bước lên bờ, các ông nhìn thấy có sẵn than hồng với cá đặt ở trên, và có cả bánh nữa.” Đó là tất cả những gì Đức Giêsu đã chuẩn bị cho các môn đệ bữa sáng.
Ngày nay Ðức Giêsu Phục Sinh cũng vẫn đang hiện diện và đồng hành giữa chúng ta. Ngài vẫn tiếp tục can thiệp vào từng công việc, từng cảnh huống trong cuộc đời của ta. Trong niềm tin phó thác hoàn toàn theo sự hướng dẫn của Ngài, cuộc đời ta sẽ được hạnh phúc tràn đầy.
Nhưng Đức Giêsu không muốn dùng thức ăn có sẵn này, Ngài muốn dùng cá mà các ông vừa bắt được, Ngài nói: ” CÁC CON HÃY MANG CÁ MỚI BẮT ĐƯỢC LẠI ĐÂY!”.
Người thực hiện điều này cũng vẫn là Phêrô. Một mình ông lên thuyền kéo lưới vào bờ, công việc quá sức một người, Phêrô vẫn làm được, ông làm được vì ông yêu mến Thầy cách đặc biệt. Gioan nói, “LƯỚI ĐẦY TOÀN CÁ LỚN; TẤT CẢ ĐƯỢC MỘT TRĂM NĂM MƯƠI BA CON. DẦU CÁ NHIỀU ĐẾN THẾ, NHƯNG LƯỚI KHÔNG RÁCH”.
“LƯỚI KHÔNG RÁCH”.
Sự kiện này có phải là phép lạ không? Cho dù không phải là phép lạ, nhưng cũng đủ cho Gioan ngạc nhiên.
Gioan viết rất sâu sắc, “Lưới không rách” vì tấm lưới đó còn dành cho các ông dùng vào việc “LƯỚI NGƯỜI” sau này.
Các môn đệ và Kitô hữu chúng ta cũng thế, nếu cứ nhiệt thành loan báo Tin mừng, chiếc lưới của ta không bao giờ bị rách, vì sức mạnh đó không ở nơi ta mà xuất phát từ nơi Chúa.
CON SỐ 153 Ở ĐÂY CÓ NGHĨA GÌ?
Có nhiều cách giải thích con số này, và tất cả các lối giải giải thích đều đi đến một kết luận duy nhất.
Có lẽ ta thiên về lối giải thích của Thánh Giê-rô-ni-mô, theo ngài, thời ấy các Nhà Động vật học đã liệt kê được 153 loài cá. Như vậy con số 153 mà Gioan đưa ra rất phù hợp với khoa học thời đó. 153 con, tượng trưng cho 153 loài cá, nó muốn nói lên ý nghĩa của việc truyền giáo, mà các môn đệ và những người kế thừa các ông sẽ thực hiện, đó là làm cho muôn dân nhận biết Thiên Chúa, đưa mọi dân mọi nước về với Chúa.
“CHÚA GIÊSU BẢO RẰNG: “CÁC CON HÃY LẠI ĂN”. KHÔNG AI TRONG ĐÁM NGỒI ĂN DÁM HỎI: “ÔNG LÀ AI?” VÌ MỌI NGƯỜI ĐÃ BIẾT LÀ CHÚA. CHÚA GIÊSU LẠI GẦN, LấY BÁNH TRAO CHO CÁC MÔN ĐỆ; NGƯỜI CŨNG CHO CÁ NHƯ THẾ. ĐÂY LÀ LẦN THỨ BA, CHÚA GIÊSU ĐÃ HIỆN RA VỚI MÔN ĐỆ KHI NGƯỜI TỪ CÕI CHẾT SỐNG LẠI.”
Đức Giêsu mời các môn đệ đến ăn: “Anh em đến mà ăn!”. Các môn đệ đã biết rõ là Thầy mình, nên trong bữa ăn không ai dám hỏi Ngài là ai. Đức Giê-su đến, cầm lấy bánh trao cho các ông; rồi cá, Người cũng làm như vậy.
Chúa Giêsu cầm lấy bánh trao cho các ông và nói: “Anh em đến mà ăn”. Chúa phục sinh vẫn đến với ta giữa đời thường, giữa những vất vả lo âu, giữa những thất bại trống vắng.
Độc giả thấy rõ, trong bữa ăn này chỉ có bánh và cá, không có rượu. Hai yếu tố “bánh” và “cá” xem ra không phù hợp với bữa ăn cuối cùng trong buổi Tiệc ly, bữa tiệc Thánh Thể. Nhưng “cầm lấy bánh trao cho các ông”, nó lại là cử chỉ của bữa tiệc Thánh thể. Hơn thế nữa “bánh” và “cá” là những biểu tượng trong Giáo hội sơ khai nói về Thánh Thể.
“Đó là lần thứ ba Đức Giê-su tỏ mình ra cho các môn đệ, sau khi trỗi dậy từ cõi chết”.
Như vậy Gioan xác định đây là lần thứ ba Đức Giêsu tỏ mình cho các môn đệ.
Ngài vẫn tỏ mình cho thế giới hôm nay. Ta có nhận biết Đức Giêsu trong cuộc đời mình không? Đó là câu hỏi mà ta phải trả lời. Còn Ngài, Ngài vẫn tỏ mình cho những ai tìm kiếm, vẫn tỏ mình cho những ai yêu mến và tìm kiếm Chân, Thiện, Mỹ trong cuộc đời này.
Đức Kitô Phục Sinh luôn có mặt trong đời ta: trong bữa cơm thanh đạm của gia đình ta. Ngài hiện diện nơi sở làm, trên nương rẫy, trong lớp học,… và nơi mọi việc làm thầm lặng không tên của ta. Để nhận ra sự hiện diện ẩn mình của Ngài, chỉ cần ta có con mắt đức tin và tình yêu như “Người môn đệ Chúa yêu”.
Lạy Chúa, trong cuộc sống, con không dám xin Chúa cất đi những nhọc nhằn, vì đó là thân phận tội lỗi của con người. Con chỉ xin Chúa ban cho con lòng Tin Mến, để giữa những nghịch cảnh cuộc đời, con có thể nhận ra được sự hiện diện của Chúa, tìm được niềm vui và hy vọng trong Chúa. Từ đó, con có thể đem Chúa đến cho người khác, hầu cho họ luôn tin yêu vào sự Phục Sinh vinh quang của Chúa.
Amen.
____________________________
Giuse Nguyễn Viết Tâm.

