H: Xưng tội hay thú tội với một vị LM để làm gi? Phải thực hiện thế nào cho đúng để không “làm hư” bí tích này? Những ai được quyền ban Bí Tích Giải Tội (BTGT) và khi nào thì năng quyền này bị cấm chỉ?
Đ: HHđSĐ xin nói về bí tích Giải tôi (còn gọi là Bí tích hòa giải hay sám hối) dựa trên GL, các khoản từ 960-985 như sau,
—————
I. Bản chất của BTGT là gì?
– Thú tội với một tác viên hợp pháp.
– Hối hận về những tội đã phạm và dốc lòng sửa chữa.
– Được Thiên Chúa tha thứ và giao hòa với Giáo Hội.
II. Việc cử hành BTGT thế nào?
1. Phải xưng tội cá nhân (đ. 960)
2. KHÔNG được giải tội tập thể, TRỪ:
a/. Trường hợp nguy tử và không đủ giờ cho một hay nhiều Linh mục để giải tội.
b/. Trường hợp khẩn cấp nghiêm trọng, số người xưng tội đông quá mà không có đủ Linh mục (ngày lễ lớn hay một cuộc hành hương, không đủ lý do để giải tội tập thể) (đ. 961 §1). Chỉ Giám mục Giáo phận có quyền xác định trường hợp nào là khẩn cấp (đ. 961 §2).
3. Buộc phải xưng tội riêng tất cả những tội trọng vừa được tha nhờ ơn giải tội tập thể và phải đi xưng ngay khi có thể trước khi lãnh một ơn tha tội tập thể khác (đ. 963).
4. Nơi dành riêng để xưng tội là nhà thờ hay nhà nguyện (đ. 964 §1). Tòa giải tội phải đặt ở nơi dễ thấy có chắn song (đ. 964 §2). Không được giải tội ở ngoài tòa giải tội, trừ khi có lý do chính đáng (đ. 964 §3).
5. Bí tích Giải Tội có thể cử hành bất cứ giờ nào và ngày nào. Tuy nhiên khuyên các Linh mục hãy ấn định ngày giờ (đ. 986 §1).
III. Thừa tác viên của BTGT là những ai?
1. Chỉ có Linh mục là tác viên Bí tích Giải Tội (đ. 965).
2. Ngoài quyền thánh chức, Linh mục còn phải có năng quyền thi hành thánh chức (đ. 966 §1). Năng quyền hoặc do luật hoặc do thẩm quyền ban cho (đ. 966 §2).
3. Đức Giáo hoàng, Hồng y, Giám mục có năng quyền do chính luật ban cho, nên có quyền giải tội khắp thế giới và thi hành quyền đó mãn đời (đ. 967 §1).
4. Những ai nhận được năng quyền theo chức vụ, bao lâu còn giữ chức vụ thì bấy lâu có quyền giải tội khắp thế giới, khi mãn chức vụ thì cũng mất quyền đó. Những chức vụ mang theo năng quyền giải tội là: vị thường quyền sở tại, kinh sĩ xá giải, các Linh mục chính xứ, những người thay thế Linh mục chính xứ. Mỗi người có năng quyền giải tội trong địa hạt của mình (đ. 968 §1). Các bề trên dòng giáo hoàng có quyền giải tội cho những người cư trú trong nhà (đ. 968 §2).
5. Chỉ vị thường quyền sở tại có thẩm quyền ban năng quyền cho bất cứ Linh mục nào, giải tội cho bất cứ tín hữu nào (đ. 969 §1). Các bề trên dòng có quyền ban cho bất cứ Linh mục nào có quyền giải tội cho những người sống trong nhà (đ. 969 §2).
6. Quyền giải tội thường xuyên phải được ban bằng giấy tờ (đ. 973). Chỉ nên ban năng quyền giải tội cho những Linh mục xứng đáng bằng một cuộc sát hạch (đ. 970).
7. Năng quyền giải tội có thể chấm dứt vì nhiều lý do khác nhau (đ. 975):
a/. Nhận năng quyền theo chức vụ, khi mãn chức vụ thì cũng mất năng quyền ấy.
b/. Năng quyền được cấp trong một thời hạn nhất định, khi mãn hạn thì cũng hết năng quyền.
c/. Khi đổi cư sở hay Giáo phận nhập tịch, thì cũng mất năng quyền giải tội khắp nơi.
d/. Khi năng quyền bị rút lại.
e/. Linh mục bị vạ tuyệt thông, cấm chế, huyền chức, cấm cử hành các Bí tích.
8. Trường hợp hối nhân nguy tử, bất cứ Linh mục nào, dù không có năng quyền vẫn có thể giải tội hữu hiệu và hợp pháp (đ. 976).
9. Linh mục không được giải tội cho người đồng lõa với mình về tội điều răn thứ 6 (đ. 977). Giải tội không thành mà còn mắc vạ tuyệt thông tức khắc (xc. đ. 1378 §1).
10. Ấn tích giải tội là điều bất khả vi phạm. Linh mục giải tội phải tuyệt đối giữ bí mật vì bất cứ lý do gì (đ. 983).
11. Linh mục giải tội cũng không được sử dụng những điều biết được trong tòa giải tội để làm hại hối nhân cho dù không có nguy cơ tiết lộ (đ. 984 §1).
12. Vị Giáo tập và phụ tá, Giám đốc chủng viện hay một cơ sở giáo dục, không được giải tội cho người thuộc quyền (đ. 985).
Xin HHđSĐ nói tiếp về phía hối nhân (người đi xưng tội) thì GL qui định ra sao?
1. Để được lãnh Bí tích Giải Tội, hối nhân phải:
– Thành tâm bỏ tội đã phạm.
– Quyết chí sửa mình, trở về với Chúa (đ. 987).
2. Phải xưng mọi thứ và đủ số các tội trọng (đ. 988 §1). Khuyên xưng cả những tội nhẹ nhất nữa (đ. 988 §2) để chừa sửa và trở nên con cái đích thực của TC.
“Để lãnh nhận linh dược cứu rỗi của Bí tích Thống hối, tín hữu phải thành tâm từ bỏ những tội đã phạm và quyết chí sửa mình, trở về với Thiên Chúa. “. (Ðiều 987)
“Tín hữu buộc xưng thú, sau khi xét mình kỹ lưỡng, hết mọi tội nặng, theo từng loại và số lần, mà mình ý thức đã sa phạm sau khi chịu phép Rửa tội mà chưa được trực tiếp tha thứ bởi quyền tháo gỡ của Giáo hội hoặc chưa thú nhận trong việc xưng tội riêng.
—————
Ngay từ những thế kỷ đầu tiên của Giáo hội, các “loại” tội đã được phân biệt như sau:
a.- Các tội phạm làm mất phần thưởng thiên đàng: “Anh em không biết sao, những kẻ bất công sẽ không được nước Thiên Chúa làm cơ nghiệp? Chớ có tự khi! Hạng dâm dật, thờ quấy, ngoại tình, bợm điếm, dâm cuồng, trộm cắp, tham ô, nghiện ngập, chửi bới hay cướp dựt, các người đó sẽ không được nước Thiên Chúa làm cơ nghiệp” (1 Cor. 6,9-10)
b.- Các tội phạm hằng ngày (peccata quotidiana): Các tội có thể xếp loại nặng hay nhẹ tùy theo hoàn cảnh, ý thức và sự thiệt hại gây nên trong đời sống hàng ngày.
3. Buộc xưng tội một năm ít là một lần (đ. 989).
– Chỉ buộc người phạm tội trọng.
– Có thể chu toàn luật buộc này bất cứ lúc nào trong năm, tức là không buộc phải xưng trong Mùa Phục sinh.
– Do luật buộc rước lễ trong Mùa Phục Sinh, nên gián tiếp buộc phải xưng trong Mùa Phục sinh.
4. Không cấm và cũng không buộc dùng thông ngôn (đ. 990). Nghĩa là chúng ta có thể dùng ngôn ngữ của mình để bày tỏ, vì TC là Đấng thông biết và thấu hiểu mọi sự.
5. Sau khi xưng tội phải làm việc đền tội như Linh mục giải tội đã chỉ định (đ. 981).
Các vần đề có liên quan đến BTGT cần biết gồm có
VIỆC ĐỀN TỘI
“Tùy theo tính chất và số lượng của tội, và cùng tùy theo hoàn cảnh của hối nhân, cha Giải tội phải ra việc đền tội hữu ích và cân xứng. Hối nhân có bổn phận đích thân thi hành việc đền tội.” (Ðiều 981)
TỘI CÁO GIAN QUA TÒA GIẢI TỘI
“Ai thú nhận đã cáo gian Cha Giải tội ngay lành trước giáo quyền về tội quyến rũ phạm điều răn thứ sáu, thì chỉ được xá giải sau khi đã minh thị rút lại lời cáo gian và bồi thường thiệt hại nếu có.”. (Ðiều 982)
Việc quyến rũ bị cáo gian minh thị trong điều luật này ám chỉ được thực hiện trong Tòa Giải tội, không phải nơi tòa ngoài. Người bị quyến rũ có thể là người cùng phái hay khác phái. Người cáo gian, nếu là giáo dân bị phạt vạ cấm chế tiền kết, nếu là giáo sĩ sẽ bị phạt vạ cấm chế và huyền chức tiền kết.
ẤN TÍCH GIẢI TỘI
“Ấn tích Giải tội là điều bất khả vi phạm; do đó, tuyệt đối cấm chỉ Cha Giải tội không được tiết lộ về hối nhân bằng lời nói hay bằng cách nào khác, và vì bất cứ lý do gì.
Nghĩa vụ phải giữ bí mật buộc cả những người thông ngôn nếu có, và mọi người khác, vì một cách nào đó, đã nghe biết các tội khi hối nhân xưng tội.”. (Ðiều 983)
“Tuyệt đối cấm chỉ Cha Giải tội không được sử dụng những điều biết được trong tòa Giải tội để làm hại hối nhân, cho dù không có nguy cơ tiết lộ.
Những người cầm quyền không bao giờ được dùng vào việc cai trị ở tòa ngoài những điều nghe biết trong tòa Giải tội bất cứ vào thời gian nào.”. (Ðiều 984)
NGÀY GIỜ GIẢI TỘI
“Tất cả những người có trách nhiệm coi sóc các linh hồn buộc phải dự liệu cho giáo dân của mình được xưng tội mỗi khi họ yêu cầu cách hợp lý; lại phải ấn định ngày và giờ thuận lợi để họ tùy tiện đến xưng tội riêng.
Trong trường hợp khẩn cấp, bất cứ Cha Giải tội nào cũng buộc phải Giải tội cho tín hữu; và trong lúc nguy tử, bất cứ tư tế nào cũng buộc phải Giải tội. “. (Ðiều 986)
CHỌN LỰA LINH MỤC ĐỂ XƯNG TỘI
“Mọi tín hữu được toàn quyền chọn lựa xưng tội với một Cha Giải tội được chuẩn nhận hợp lệ mà họ ưng ý, tuy dù vị ấy thuộc lễ điển khác.”. (Ðiều 991)
—————
Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP.

