“NÀY BÀ SẼ THỤ THAI, SINH HẠ MỘT CON TRAI”.
BÀI ĐỌC I: Is 7, 10-14
“Này trinh nữ sẽ thụ thai”.
Trích sách Tiên tri Isaia.
Ngày ấy, Chúa phán bảo vua Achaz rằng: “Hãy xin Thiên Chúa, Chúa ngươi, một dấu ở dưới lòng đất hay ở trên trời cao!” Nhưng vua Achaz thưa: “Tôi sẽ không xin, vì tôi không dám thử Chúa”. Và Isaia nói: “Vậy nghe đây, hỡi nhà Đavít, làm phiền lòng người ta chưa đủ ư, mà còn muốn làm phiền lòng Thiên Chúa nữa? Vì thế chính Chúa sẽ cho các ngươi một dấu: này một trinh nữ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và tên con trẻ sẽ gọi là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”.
Đó là lời Chúa.
BÀI ĐỌC II: Dt 10, 4-10
“Ở đoạn đầu cuốn sách đã viết về tôi là, lạy Chúa, tôi thi hành thánh ý Chúa”.
Trích thư gửi tín hữu Do-thái.
Anh em thân mến, máu bò và dê đực không thể xoá được tội lỗi. Vì thế, khi đến trong thế gian, Chúa Giêsu phán: “Chúa đã không muốn hy tế và của lễ hiến dâng, nhưng đã tạo nên cho con một thể xác. Chúa không nhận của lễ toàn thiêu và của lễ đền tội. Nên con nói: Lạy Chúa, này con đến để thi hành thánh ý Chúa, như đã nói về con ở đoạn đầu cuốn sách. Sách ấy bắt đầu như thế này: Của lễ hy tế, của lễ hiến dâng, của lễ toàn thiêu và của lễ đền tội, Chúa không muốn cũng không nhận, mặc dầu được hiến dâng theo lề luật”. Đoạn Người nói tiếp: “Lạy Chúa, này con đến để thi hành thánh ý Chúa”. Như thế đã bãi bỏ điều trước để thiết lập điều sau, chính bởi thánh ý đó mà chúng ta được thánh hoá nhờ việc hiến dâng Mình Chúa Giêsu Kitô một lần là đủ.
Đó là lời Chúa.
BÀI TIN MỪNG: Lc 1, 26-38
“Này Bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, thiên thần Gabriel được Chúa sai đến một thành xứ Galilêa, tên là Nadarét, đến với một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc chi họ Đavít, trinh nữ ấy tên là Maria.
Thiên thần vào nhà trinh nữ và chào rằng: “Kính chào Bà đầy ơn phước, Thiên Chúa ở cùng Bà, Bà được chúc phúc giữa các người phụ nữ”.
Nghe lời đó, Bà bối rối và tự hỏi lời chào đó có ý nghĩa gì. Thiên thần liền thưa: “Maria đừng sợ, vì đã được nghĩa với Chúa. Này Bà sẽ thụ thai, sinh một Con trai và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao trọng và được gọi là Con Đấng Tối Cao. Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu Đavít tổ phụ Người. Người sẽ cai trị đời đời trong nhà Giacóp, và triều đại Người sẽ vô tận”.
Nhưng Maria thưa với thiên thần: “Việc đó xảy đến thế nào được, vì tôi không biết đến người nam?”
Thiên thần thưa: “Chúa Thánh Thần sẽ đến với Bà và uy quyền Đấng Tối Cao sẽ bao trùm Bà. Vì thế Đấng Bà sinh ra, sẽ là Đấng Thánh và được gọi là Con Thiên Chúa. Và này, Isave chị họ Bà cũng đã thụ thai con trai trong lúc tuổi già và nay đã mang thai được sáu tháng, người mà thiên hạ gọi là son sẻ; vì không có việc gì mà Chúa không làm được”.
Maria liền thưa: “Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên thần truyền”. Và thiên thần cáo biệt Bà.
Đó là lời Chúa.
___________________________
SUY NIỆM & CHIA SẺ:
LƯỚT QUA CÁC BÀI ĐỌC:
Các Bài Đọc hôm nay tập trung trong việc tuân phục hay bất tuân lời Thiên Chúa.
TRONG BÀI ĐỌC I Trích sách Tiên tri Isaia, mặc dù đã được tiên-tri Isaia truyền chỉ tuân phục một mình Thiên Chúa, vua Achaz của Giuđa vẫn bất tuân sang cầu viện Ai-cập. Hậu quả là nước mất nhà tan, từ vua đến dân bị lưu đày qua Babylon.
TRONG BÀI ĐỌC II Trích thư gửi tín hữu Do-thái, tác giả Thư Do-thái so sánh các hy lễ đền tội của Cựu Ước với sự vâng phục của Đức Kitô, và đưa đến kết luận: Thiên Chúa trân quí sự vâng phục của Đức Kitô hơn ngàn vạn chiên cừu, và cái chết của Ngài trên Thập Giá có sức mạnh xóa sạch tội và mang lại ơn cứu độ cho con người.
TRONG BÀI TIN MỪNG theo thánh Luca, lời thưa “Xin Vâng” của Đức Trinh Nữ Maria trong biến cố Truyền Tin đã bắt đầu kỷ nguyên cứu độ: Chúa Thánh Thần đã rợp bóng trên Mẹ, và hài nhi Giêsu, Con Một của Thiên Chúa, đã hình thành trong lòng Mẹ.
___________________________
ĐI VÀO BÀI TIN MỪNG:
“KHI ẤY, THIÊN THẦN GABRIEL ĐƯỢC CHÚA SAI ĐẾN MỘT THÀNH XỨ GALILÊA, TÊN LÀ NADARÉT, ĐẾN VỚI MỘT TRINH NỮ ĐÃ ĐÍNH HÔN VỚI MỘT NGƯỜI TÊN LÀ GIUSE, THUỘC CHI HỌ ĐAVÍT, TRINH NỮ ẤY TÊN LÀ MARIA.
Ngay trong phần mở đầu, thánh sử Luca đã giới thiệu cho chúng ta: Không gian (Nadarét, Galilê) – Người truyền tin (Sứ thần Gabriel) – Người được truyền tin (Đức Trinh nữ Maria) trong biến cố Truyền tin.
“ĐẾN MỘT THÀNH XỨ GALILÊA, TÊN LÀ NADARÉT”
Về không gian: Biến cố Truyền tin xảy ra tại nhà Trinh nữ Maria ở Nadarét, một thành miền Galilê. Ở đây xin được nhắc lại về bản đồ hành chánh nước Do Thái. Nước Do Thái thời Đức Giêsu được chia thành 04 miền:
– Galilêa có thành Capharnaum, Nazareth.
– Samaria nằm giữa xứ Palestina với những con đường nối liền Nam-Bắc.
– Giuđêa là miền núi có thủ đô Giêrusalem và Pêrêa bên kia sông Giođan.
– Phía Bắc là miền Decapolis nơi dân cư phần nhiều thuộc văn hoá Hylạp.
Nói thành Nadarét cho nó vinh dự nhưng thực ra đây chỉ là làng quê nghèo và hẻo lánh, nó chỉ khoảng 20 căn nhà với 150 dân, làng Nadarét thường bị xem là tầm thường và như Gioan đã viết: “Từ Nazarét, thì có cái gì hay được?” (Ga l, 46).
“THIÊN THẦN GABRIEL”
Sứ thần truyền tin: là Tổng lãnh Thiên thần Gabriel, Vị lãnh sứ mệnh truyền tin cho những biến cố trọng đại. Chẳng hạn: Truyền tin cho ông Dacaria và Đức Maria.
“ĐẾN VỚI MỘT TRINH NỮ ĐÃ ĐÍNH HÔN VỚI MỘT NGƯỜI TÊN LÀ GIUSE, THUỘC CHI HỌ ĐAVÍT, TRINH NỮ ẤY TÊN LÀ MARIA”
Người được truyền tin đó là Trinh nữ Maria, Luca mô tả thêm:
“Đã đính hôn với một người tên là Giuse”, có nghĩa Đức Maria ngay từ đầu cũng đi theo con đường của bao phụ nữ bình thường khác, đó là hướng tới việc lập gia đình và sinh con cái. Chúng ta đừng nghĩ, Đức Maria ngay từ đầu muốn sống đồng trinh trọn đời, vì Luca dùng từ “đã đính hôn”. Có nghĩa đã có một giao kèo hôn nhân dân sự với Giuse. Trên danh nghĩa, dưới Luật pháp Do Thái, hai người đã là vợ chồng, nhưng chưa đến giai đoạn ăn ở với nhau, vì còn đang trong giai đoạn đính hôn, có nghĩa vẫn còn gọi là Trinh nữ. Hai người chỉ thành vợ chồng thật sự sau khi đã làm lễ Thành hôn.
Luca cũng giới thiệu thêm về Giuse, người đã đính hôn với Maria, Giuse thuộc chi họ Đavit, có nghĩa thuộc dòng dõi Vua Đavit, để sau này Đức Giêsu được người ta gọi Ngài là Con Vua Đavit, dựa theo người cha nuôi Giuse.
“THIÊN THẦN VÀO NHÀ TRINH NỮ VÀ CHÀO RẰNG: “KÍNH CHÀO BÀ ĐẦY ƠN PHƯỚC, THIÊN CHÚA Ở CÙNG BÀ, BÀ ĐƯỢC CHÚC PHÚC GIỮA CÁC NGƯỜI PHỤ NỮ”.
Ngay lời chào đầu tiên, Sứ thần cho Maria biết, cô là người được Thiên Chúa tuyển chọn cho một sứ mệnh cao cả, đừng lo lắng gì hết vì có Thiên Chúa ở cùng.
“KÍNH CHÀO BÀ ĐẦY ƠN PHƯỚC”
Sứ thần không nói “Kính mừng Maria”, ngài đã đổi thành “Bà đầy ân phước”. Thông thường trong Kinh thánh, khi Thiên Chúa đổi tên người nào, Ngài muốn trao cho người ấy một sứ vụ. Như vậy, tên Maria đã trở thành “Đầy ân phước” mà ta còn có thể nói là “Được Thiên Chúa sủng ái”. Điều này ngầm ý cho Maria biết cô sắp sửa được Thiên Chúa trao cho một sứ mệnh quan trọng.
“THIÊN CHÚA Ở CÙNG BÀ”
Đó là kiểu nói Thiên Chúa quen dùng khi Người muốn trấn an những kẻ Người mời gọi đảm nhận những trách nhiệm nặng nề (St 15,1; Xh 4,12; Tl 6,12-17). “Đừng sợ? Ta sẽ ở cùng ngươi!”
“BÀ ĐƯỢC CHÚC PHÚC GIỮA CÁC NGƯỜI PHỤ NỮ”
Sứ thần cho Maria biết, bà là người được Thiên Chúa chúc phúc trong hàng tỷ tỷ người phụ nữ khác, đó là một hồng ân vô cùng to lớn và vĩ đại mà Thiên Chúa muốn dành cho Maria, mà không có gì có thể sánh được.
Độc giả có thể nhận thấy, đây là một lời chào quá trân trọng mà người được chào sẽ hết sức kinh ngạc và bối rối, ta cũng chưa thấy Sứ thần chưa nói gì về Sứ mệnh mà Thiên Chúa sẽ uỷ thác cho Maria. Maria đã làm gì để xứng đáng được lời chào như vậy, điều này rất dễ làm cho người được chào rơi vào tâm trạng sợ hãi.
Mỗi khi đọc kinh Kính Mừng, chúng ta lặp lại lời sứ thần Gabriel chào Ðức Maria khi mở đầu cuộc truyền tin: “Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Ðức Chúa Trời ở cùng Bà. Mừng vui lên hỡi Ðấng đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng Bà”. Ðây chính là lời chúc phúc có ý nghĩa nhất và cũng là lời chúc phúc có giá trị nhất của con người.
Quả thế, không có mối phúc nào lớn hơn mối phúc của người được Thiên Chúa ở cùng.
Luca mô tả tâm trạng của Đức Maria khi được nghe lời chào đó.
“NGHE LỜI ĐÓ, BÀ BỐI RỐI VÀ TỰ HỎI LỜI CHÀO ĐÓ CÓ Ý NGHĨA GÌ.”
Ta nên nhớ Sứ thần Gabriel khi đến truyền tin cho Maria với bộ dạng bình thường, không như lần truyền tin cho ông Dacaria, lúc ấy ngài rực rỡ làm cho Dacaria phải sợ hãi. Maria cũng chưa gặp Sứ thần bao giờ và cũng không biết Sứ thần đến đây với mục đích gì, nên cô phải đặt câu hỏi trong đầu: lời chào như vậy có nghĩa gì? Cô muốn biết cái ẩn ý đằng sau lời chào ấy. Đó là lẽ tự nhiên.
“THIÊN THẦN LIỀN THƯA: “MARIA ĐỪNG SỢ, VÌ ĐÃ ĐƯỢC NGHĨA VỚI CHÚA. NÀY BÀ SẼ THỤ THAI, SINH MỘT CON TRAI VÀ ĐẶT TÊN LÀ GIÊSU.
NGƯỜI SẼ NÊN CAO TRỌNG VÀ ĐƯỢC GỌI LÀ CON ĐẤNG TỐI CAO. THIÊN CHÚA SẼ BAN CHO NGƯỜI NGÔI BÁU ĐAVÍT TỔ PHỤ NGƯỜI. NGƯỜI SẼ CAI TRỊ ĐỜI ĐỜI TRONG NHÀ GIACÓP, VÀ TRIỀU ĐẠI NGƯỜI SẼ VÔ TẬN”
“MARIA ĐỪNG SỢ, VÌ ĐÃ ĐƯỢC NGHĨA VỚI CHÚA.”
Công việc đầu tiên mà Sứ thần phải làm, đó là trấn an Maria, ngài nói: “Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ”. Tại sao đừng sợ? Sứ thần nói: “vì bà đã được nghĩa với Chúa.” Khi một người đẹp lòng Thiên Chúa, thì Thiên Chúa luôn ở trong người ấy, mà Thiên Chúa là Đấng Đầy Hoan Lạc thì không có lý do gì phải sợ. Cái lý do Sứ thần đưa ra: “vì đã được nghĩa với Chúa”, có một sức mạnh trấn an Maria, lấy lại cho Maria thế quân bình mà phút đầu đã bị dao động. Cô đã lấy lại bình tĩnh để đón nhận những điều Sứ thần nói.
“NÀY BÀ SẼ THỤ THAI, SINH MỘT CON TRAI VÀ ĐẶT TÊN LÀ GIÊSU”
Sau khi Maria lấy lại sự bình tĩnh, Sứ thần mới truyền đạt Thánh ý của Thiên Chúa cho cô, đó là: “Và này bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su.” Có lẽ Maria không ngờ đến điều này và đó thật là một cú sốc. Tại sao là cú sốc? Xin thưa: vì Maria đang ở trong tình trạng đính hôn và cô là một người con gái đức hạnh. Mặc dù có lời hứa với Giuse, nhưng trong tình trạng đính hôn không được phép xảy ra điều đó, cô không thể mang thai.
Luca viết rất rõ: Sự kiện Truyền tin xảy ra trong giai đoạn đính hôn (tức chưa chung sống với Giuse), có nghĩa việc Maria mang thai không do người phàm mà là bởi quyền năng Chúa Thánh Thần, đó là việc Chúa làm, và sự kiện truyền tin diễn ra trong giai đoạn đính hôn, đó là kế hoạch khôn ngoan của Thiên Chúa.
Sứ thần còn cho biết: Tên của Người Con mà Maria sinh ra sẽ là Giêsu. Tên này sẽ do chính Giuse, người cha về mặt pháp lý đặt.
“NGƯỜI SẼ NÊN CAO TRỌNG VÀ ĐƯỢC GỌI LÀ CON ĐẤNG TỐI CAO. THIÊN CHÚA SẼ BAN CHO NGƯỜI NGÔI BÁU ĐAVÍT TỔ PHỤ NGƯỜI. NGƯỜI SẼ CAI TRỊ ĐỜI ĐỜI TRONG NHÀ GIACÓP, VÀ TRIỀU ĐẠI NGƯỜI SẼ VÔ TẬN”
Lời của Sứ thần nói với Maria đã mạc khải cho ta biết, Đức Giêsu là Con Thiên Chúa và xét theo Bản tính nhân loại, Ngài là dòng dõi Vua Đavít, Ngài sẽ là Vua kế vị ngai vàng Đavit và chính Thiên Chúa sẽ làm cho ngai vàng đó bền vững muôn đời. Ngài sẽ là Vua vũ trụ và là Vua mỗi người chúng ta. Nói khác đi Người Con đó chính là Đấng Cứu Thế.
“NHƯNG MARIA THƯA VỚI THIÊN THẦN: “VIỆC ĐÓ XẢY ĐẾN THẾ NÀO ĐƯỢC, VÌ TÔI KHÔNG BIẾT ĐẾN NGƯỜI NAM?”
Khác với ông Dacaria đã biểu lộ thái độ không tin trong sự kiện truyền tin Gioan Tảy giả nên ông đã bị phạt câm, ông đã đưa ra lý do làm sao tin được vì hai ông bà đã cao niên, son sẻ, nên không thể sinh con trái với điều kiện bình thường được.
Còn ở đây Maria chỉ biểu lộ sự thắc mắc:
“VIỆC ĐÓ XẢY ĐẾN THẾ NÀO ĐƯỢC, VÌ TÔI KHÔNG BIẾT ĐẾN NGƯỜI NAM?”
Vì Maria đang ở trong giai đoạn đính hôn, tức chưa có sự ăn ở như vợ chồng, với Giuse “Vì tôi không biết đến người nam” thì làm sao sự việc đó xảy ra được. Maria nêu ra một thắc mắc chính đáng trong tinh thần luôn tuân phục thánh ý Chúa, chứ không phải không tin.
Thánh ý Chúa không phải lúc nào cũng là điều dễ hiểu, vì nó thường đi ra ngoài sự suy nghĩ của con người. Đứng trước một biến cố, đứng trước một sự việc, ta thường hành xử theo lối suy nghĩ của mình và giả sử nó đã được cân nhắc. Nhưng cái kết cục lại không như ý ta muốn, mà đi theo hướng khác, có thể đem đến cho ta điều bất lợi, đau khổ. Ta có thể phản ứng lại bằng phản ứng của con người, nhưng nếu bình tâm suy xét, và phải thật lắng đọng ta mới nhận ra thánh ý Chúa. Thánh ý đó luôn tốt đẹp và là một hồng ân cho cuộc đời ta.
“THIÊN THẦN THƯA: “CHÚA THÁNH THẦN SẼ ĐẾN VỚI BÀ VÀ UY QUYỀN ĐẤNG TỐI CAO SẼ BAO TRÙM BÀ. VÌ THẾ ĐẤNG BÀ SINH RA, SẼ LÀ ĐẤNG THÁNH VÀ ĐƯỢC GỌI LÀ CON THIÊN CHÚA”
Sứ thần Gabriel sẵn sàng giải đáp thắc mắc cho Maria. Nếu Maria nói: “Vì tôi không biết đến người nam”, thì sứ thần nói rõ: Đó không phải là con do người nam sinh ra, mà là Con Thiên Chúa, có nghĩa việc Maria mang thai là bởi quyền năng Chúa Thánh Thần, hay bởi quyền năng Thiên Chúa.
“VÀ NÀY, ISAVE CHỊ HỌ BÀ CŨNG ĐÃ THỤ THAI CON TRAI TRONG LÚC TUỔI GIÀ VÀ NAY ĐÃ MANG THAI ĐƯỢC SÁU THÁNG, NGƯỜI MÀ THIÊN HẠ GỌI LÀ SON SẺ; VÌ KHÔNG CÓ VIỆC GÌ MÀ CHÚA KHÔNG LÀM ĐƯỢC.
Liệu việc mang thai không bình thường này có xảy ra không, đó là điều đi ra ngoài tự nhiên. Sứ thần đã khẳng định với Maria: “Không có việc gì mà Chúa không làm được”. Sứ thần cũng đưa ra một dẫn chứng cụ thể , đồng thời cũng báo tin cho Maria biết: Bà Isave, vợ ông Dacaria, mặc dù tuổi già và son sẻ đã mang thai được 6 tháng rồi, mặc dù nó vượt quá khả năng của con người, đó là việc Chúa làm.
Sứ thần muốn xác quyết với Maria: “Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”. Thiên Chúa là Đấng dựng nên vũ trụ, muôn loài, Ngài là Đấng quyền năng, chẳng lẽ Ngài không làm được điều đó sao, chẳng lẽ Ngài không làm được việc: Sinh con vẫn còn đồng trinh sao! Đối với Ngài thì không gì là không thể.
Tuy nhiên có 02 điều mà ta phải để ý:
1/. Thiên Chúa đã dựng nên vũ trụ, muôn loài, Ngài lập nên những quy luật để vũ trụ này tồn tại và hài hòa. Ngài luôn tôn trọng những quy luật đó. Nhưng Ngài luôn ở trên những quy luật ấy, có nghĩa Ngài có quyền thay đổi chúng theo ý định của Ngài. Khi xảy ra điều này, ta gọi là phép lạ. Cụ thể ở đây: Sinh con vẫn còn đồng trinh.
2/. Thiên Chúa là Đấng quyền năng, Ngài làm được mọi sự, nhưng Ngài luôn mời gọi con người cộng tác. Ngài có thể cứu con người thoát khỏi sự chúc dữ khi Ông bà Nguyên tổ phạm tội chỉ bằng lời nói của mình. Ngài cũng có thể sai Con Thiên Chúa xuống làm người để cứu chuộc nhân loại không cần qua sự sinh nở của con người. Thế nhưng Ngài đã không làm vậy, mà đã sai Con Một của mình xuống trần gian làm người như mọi người bình thường khác, ngoại trừ tội lỗi. Chính vì thế Ngài luôn mời gọi con người cộng tác, cụ thể qua sự kiện truyền tin cho Maria, truyền tin cho Giuse, và con người đã đáp trả, đã cộng tác với Ngài trong công trình cứu chuộc.
“BẤY GIỜ BÀ MA-RI-A NÓI: “VÂNG, TÔI ĐÂY LÀ NỮ TỲ CỦA CHÚA, XIN CHÚA CỨ LÀM CHO TÔI NHƯ LỜI SỨ THẦN NÓI.”
Sau khi được Sứ thần giải thích cặn kẽ, Đức Maria đã hiểu được ý định của Thiên Chúa, ngài thưa lên: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Có nghĩa Đức Maria đã chấp nhận trong hai tiếng “Xin vâng”
“Nữ tỳ của Chúa”, có nghĩa một người luôn ở trong tư thế sẳn sàng, sẵn sàng làm theo Thánh ý Thiên Chúa. Khi con người luôn ở trong tình trạng sẵn sàng để cho Thiên Chúa hành động trong mình, Ngài sẽ làm nơi người ấy điều kỳ diệu. Thiên Chúa muốn ta trở thành khí cụ của Ngài, để Ngài biến đổi thế giới này. Việc thế giới này có trở nên tốt đẹp hay không, khi có nhiều người sẵn sàng để cho Thiên Chúa hành động.
“Xin Chúa cứ làm”, vâng đó phải là lời cầu xin của ta mỗi ngày, ta luôn cầu xin cho Thánh ý Chúa nên trọn, nghĩa là xin Ngài cứ làm điều Ngài muốn làm nơi ta. Ta đừng bao giờ bắt Chúa làm điều ta muốn, nhưng xin Ngài cứ làm điều Ngài muốn. Khi ta đã thấm nhuần tư tưởng này, trở thành khí cụ của Thiên Chúa, thì Thiên Chúa sẽ thực hiện nơi con người nhỏ bé của ta những việc kỳ diệu mà không ai có thể làm được. Miễn là cuộc đời ta phải luôn biết nói tiếng “Xin vâng” như Mẹ Maria.
Như vậy ta có thể nói, sự kiện truyền tin cho Đức Maria được cả triều thần trên trời, dưới đất và địa ngục chờ đợi từ bao năm nay, tất cả dường như đang hồi hộp chờ đợi hai tiếng “xin vâng” của Đức Maria. Và khi Đức Maria nói lên hai tiếng “Xin vâng” thì cả triều thần trên trời, dưới đất và địa ngục vỡ òa lên vì hạnh phúc.
“RỒI SỨ THẦN TỪ BIỆT RA ĐI.”
Đến đây kết thúc sự kiện truyền tin.
Amen.
_______________________________
Giuse Nguyễn Viết Tâm.

