Cha Đắc Lộ là người Pháp, từ Avignon, là thần dân của Đức Giáo Hoàng, nhưng cha cố ý nhập Dòng Tên tại tỉnh dòng Roma vì muốn đi truyền giáo. Hứng thú truyền giáo cho các dân tộc ngoài Kitô giáo là rất phổ biến nơi các tu sĩ trẻ Dòng Tên. Điều ấy được nhận thấy nơi muôn vàn thỉnh nguyện truyền giáo cho thấy. Nhưng xác suất thật sự đạt được thì mỗi nước mỗi tỉnh dòng rất khác nhau. Tất cả các thỉnh nguyện truyền giáo phải được gửi đến cha Tổng quyền. Vị này xem xét tình hình từng nước, và tất nhiên phải xem cả những điều kiện chấp nhận của các thế lực bảo trợ. Chính vì thế, những quốc gia có cơ hội lớn nhất là Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Ý. Còn những người thuộc các nước mà Giáo hội đang phải chiến đấu sống còn với Giáo hội Tin Lành, như Đức, Pháp thì hiếm có dịp. Ngay cả các thế lực bảo trợ cũng không thích nhận người thuộc những nước đang chống nhau, người Pháp càng không được nhận.
Vì vậy, như ta sẽ thấy, cha Đắc Lộ trên đường đi Lisbon (Bồ Đào Nha) phải đi vòng tránh xa Madrid (Tây Ban Nha). Cha phải làm thế, vì những người cầm quyền ở Lisbon quả rộng rãi hơn, nhưng triều đình ở Madrid trong thời gian liên minh lại có quyền phủ quyết. Hầu như tất cả các nhà truyền giáo Dòng Tên trong khu vực bảo trợ của Tây Ban Nha thời đó là người Tây Ban Nha. Mãi về sau, người Ý và người Đức mới được phép có số lượng lớn hơn. Trong khu vực bảo trợ của Bồ Đào Nha, thì con số các thừa sai người Bồ là chiếm đông nhất, sau đó đến người Ý, các quốc gia khác có rất ít đại diện.
…
Các tu sĩ Dòng Tên kể cả các tu sĩ không phải là linh mục, những người hoạt động truyền giáo tại hai miền của Việt Nam từ năm 1615 đến 1680, thì 50% là người Bồ Đào Nha, 30% là người Ý, và số còn lại thuộc về các quốc gia khác. Lúc này, nước Pháp có riêng vùng thuộc địa ở Bắc Mỹ và từ năm 1611 họ có riêng một chương trình truyền giáo cho thổ dân Huron tức là tại Canada hiện nay. Ở miền Viễn Đông, trong đó có Việt Nam, các tu sĩ Dòng Tên người Pháp chỉ xuất hiện với số lượng lớn từ cuối thế kỷ XVII. Lòng nhiệt thành truyền giáo của các tu sĩ Dòng Tên trẻ người Đức cũng rất cao, nhưng họ bị từ chối, vì họ được mời gọi hoạt động tại chính quê hương nước Đức của mình. Như vậy để trở thành nhà truyền giáo Dòng Tên, ngoài một loạt phẩm chất cá nhân, còn phụ thuộc vào quốc gia xuất thân và tùy tình trạng khẩn cấp của Giáo hội trong nước.
Chúng ta không biết nhiều về nguồn gốc và tuổi niên thiếu của cha Đắc Lộ. Cha Đắc Lộ là công dân của Tòa Thánh, nhưng luôn tự xưng mình là người Pháp. Cha là con thứ hai trong gia đình tám anh chị em (3 trai 5 gái). Trong số đó, có một người em trai cũng vào Dòng Tên sau anh mình 3 năm. Dòng tộc bên nội của cha là gốc Do Thái và sống tại Tây Ban Nha. Người bố là ông Bernadin được nâng lên hàng quý tộc. Người Mẹ là bà Francoise de Raffaelis có gốc là người Ý.
Cha Đắc Lộ thời nhỏ học ở trường Dòng Tên tại thành phố Avignon. Đây là một trong những trường đầu tiên và cũng là trường lớn nhất trong các tỉnh của Pháp. Để hiểu một trường Dòng Tên thời đó, ta đừng nghĩ ngay tới các ý niệm trường hay đại học hay phân khoa thần học như ngày nay. Trường Dòng Tên có chương trình được thiết kế tựa kim tự tháp, có thể bắt đầu với các môn nhân văn, sau đó đến các môn nghệ thuật, rồi tới các môn thần học. Các cấp thấp của những môn đó được dạy trong mọi trường. Còn các cấp cao hơn thì được dạy hay không là tùy vào đích nhắm của từng trường, hoặc tùy thuộc vào khả năng quyên góp tài chính và tùy nhân sự của Nhà Dòng. Trường của cha Đắc Lộ có 1600 học sinh sinh viên, như thế trường thuộc vào loại rất lớn.
…
Khi Đắc Lộ bắt đầu vào trường khoảng năm 1603 thì Dòng Tên trên khắp thế giới vừa có một chương trình học chung. Học trình Ratio Studiorum được Cha Tổng Quyền Acquaviva ký lệnh thi hành năm 1599, sau hàng chục năm thử nghiệm, khảo sát và dự thảo nhiều lần. Học trình dự trù 9 năm. Trong đó, cấp trung học kéo dài khoảng 6 năm. Cấp này có ba lớp văn phạm, trong đó 2 năm học nhân văn và 1 năm hùng biện. Nhiệm vụ chính của các lớp này là chuẩn bị cho học sinh nắm vững tiếng Latinh. Những năm đầu dành cho việc nắm vững văn phạm, nắm vững những quy tắc cơ bản của ngôn ngữ. Lớp nhân văn và hùng biện là dành cho việc trau chuốt văn phong và dành cho việc học hỏi các tác giả kinh điển. Ngoài ra, các lớp này còn nhằm mở mang các kiến thức tổng quát ví dụ về lịch sử hoặc địa lý. Người ta muốn đào tạo học sinh trở thành những bậc thầy về chữ nghĩa, trong đó gồm cả những kiến thức tổng quát về sử địa và văn chương, đặc biệt các kiến thức cổ điển và kinh điển của Roma và Hy Lạp. Các kiến thức này cách nào đó sẽ giúp học viên có được cuộc sống tốt đẹp hơn, và nâng lòng trí họ lên để ngợi khen Thiên Chúa.
Tiếp sau đó là ba năm nghệ thuật, độ tuổi học sinh tương ứng với học sinh cấp II hiện nay. Sau này, ba năm nghệ thuật được phát triển thành cấp triết học trong hệ thống giáo dục Dòng Tên. Cấp học này không chỉ dạy nghệ thuật mà thôi, còn dạy về nhân sinh quan, vũ trụ quan, dạy các môn của triết học như luận lý, siêu hình và đạo đức, dạy toán học, vật lý, thiên văn. Và nền tảng cả về triết học và khoa học tự nhiên được xây dựng trên căn bản của Aristote. Các tu sĩ Dòng Tên thời đó coi toán học có vai trò đặc biệt quan trọng. Đó là do ảnh hưởng của Christoph Clavius, giáo sĩ Dòng Tên người Đức làm việc tại Học viện Roma và là cha đẻ của lịch Gregorio. Đối với các thừa sai được sai đi Viễn Đông, tức là vùng trong đó có Việt Nam theo cách gọi của người Tây phương, thì các thừa sai ấy phải nắm vững các môn toán học và thiên văn. Tuy nhiên, nền khoa học tự nhiên thời đó vừa mới bám rễ vào thời Cận đại.
Phần tiếp theo: Cha Đắc Lộ vào Dòng, được đào tạo tại Roma, lên đường đi Ấn Độ (4)
Lược trích: Tứ Quyết SJ
Hoa Trái ở Phương Đông, Tác giả: Klaus Schatz, S.J.,
Người dịch: Phạm Hồng Lam, NXB Phương Đông, 2017.
dongten
Cha Đắc Lộ và chữ quốc ngữ (1)
Nhiều năm qua, đã có nhiều tác phẩm viết về cha Alexandre de Rhodes (quen gọi là cha Đắc Lộ) bằng tiếng Việt, Pháp, Anh từ nhiều bối cảnh khác nhau. Năm nay có thêm một công trình rất quý báu bằng tiếng Đức. Tác giả là linh mục Klaus Schatz SJ. Cha nguyên là giáo sư sử học về Giáo Hội tại phân khoa thần học Sankt Georgen của Dòng Tên tại Frankfurt. Tác phẩm đã được dịch giả Phạm Hồng Lam dịch sang tiếng Việt tại Nhà xuất bản Phương Đông.
Mới đây, trong dịp Giáng Sinh, cha Klaus Schatz có ghé thăm cộng đoàn Dòng Tên tại Roma, nơi chúng tôi đang ở. Được biết tôi là người Việt, cha rất vui mừng nói về cuốn sách cha mới hoàn thành. Cha còn tặng cho tôi cuốn sách ấy đã xuất bản bằng tiếng Việt. Niềm vui không chỉ là nhận được món quà rất ý nghĩa, không chỉ là được chính tác giả ấy trao tặng, mà niềm vui còn được nhân lên sau khi tôi dành giờ đọc tác phẩm này. Cảm nhận đầu tiên là về đặc tính Công Giáo, đặc tính phổ quát của đức tin, của Tin Mừng Chúa Giêsu. Giữa những thăng trầm của thời cuộc về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, đức tin ấy, những con người mang đức tin ấy vẫn tiếp tục tỏa sáng, cho dù họ thuộc ngôn ngữ, văn hóa, quốc tịch nào.
Chúng ta dành chút thời gian tìm cách trở về cội nguồn của ngôn ngữ mẹ đẻ, của tiếng Việt, của chữ quốc ngữ, loại chữ dùng để ký âm tiếng Việt, trở về văn hóa Việt và đức tin cha ông thời kỳ đầu. Cuộc trở về cội nguồn có nhiều cách tiếp cận. Cách trở về lần này, chúng ta thực hiện qua lăng kính của những nhà truyền giáo châu Âu, và qua cách tiếp cận của một tu sỹ Dòng Tên đồng thời là giáo sư sử học người Đức thời hiện tại. Từng câu chuyện, từng diễn tiến đều xoay quanh một nhân vật rất nổi tiếng là Cha Đắc Lộ.
Chúng tôi sẽ tạm lược bỏ những ngày tháng, tên tuổi và những giải thích quá chi tiết mang tính chuyên môn của sử học, để tập trung nhiều hơn vào diễn tiến câu chuyện. Còn ai muốn thực sự đọc đầy đủ cuốn sách, thì có thể tìm mua cuốn sách có tựa đề: Hoa Trái ở Phương Đông. Cầu nguyện với lịch sử đời mình, với lịch sử dân tộc, với lịch sử chữ quốc ngữ, đó cùng là một lối cầu nguyện quan trọng để có thể thấy Chúa luôn đồng hành với ta trên từng bước đường đời giữa những vui buồn sóng gió phong ba.
…
Năm 1615 là mốc quan trọng cho đề tài này. Vì đó là năm Dòng Tên bắt đầu truyền giáo trên đất Việt, thời đó gọi tên là Cochinchina hay còn gọi là Vương quốc phía Nam. Năm trước đó, việc truyền giáo ở Nhật Bản vốn được coi là có triển vọng nhất, lại kết thúc phũ phàng do các nhà truyền giáo bị trục xuất và bị theo dõi gắt gao. Suốt một phần tư thế kỷ sau đó, có những lúc lóe sáng mầm hy vọng, nhưng rồi lại nhanh chóng tiêu tan. Sự đổ vỡ của công cuộc truyền giáo ở Nhật Bản tạo điều kiện cho khởi đầu mới ở Việt Nam. Chính cha Đắc Lộ vào cuối năm 1614 đã gửi thư cho cha Tổng Quyền Acquaviva thỉnh nguyện được đi truyền giáo sau thời gian hoàn tất nhà tập.
Cho tới lúc này, Dòng Tên đã vượt qua giai đoạn dò dẫm về chủ trương thích ứng trong truyền giáo và họ đã có được khuôn khổ vững chắc đầu tiên. Khuôn khổ này được áp dụng tại Paraguay trong những khu định cư của người thổ dân, được áp dụng tại Trung Hoa qua cha Matteo Ricci, và được áp dụng ở Mandurai Ấn Độ qua cha Roberto de Nobili. Lịch sử 75 năm truyền giáo cho dân ngoại từ ngày lập Dòng cho tới lúc ấy của Dòng Tên có thể được tóm tắt như sau:
Đối với Dòng Tên, là một Dòng hoàn toàn vâng lời Đức Giáo Hoàng, để Ngài có thể sai các thành viên của Dòng đi tới các người Thổ Nhĩ Kỳ, tới các người ngoại giáo hoặc với bất kỳ người lạc giáo nào. Nhắc tới Thổ Nhĩ Kỳ có nghĩa là nhắc tới người Hồi giáo. Giờ đây, việc truyền giáo cho các dân tộc ngoài Kitô giáo, không phải chỉ là một trong các công tác có thể làm, nhưng đó là mục tiêu trung tâm của Dòng. Vậy mà, sáng kiến để Dòng Tên đi truyền giáo bên kia đại dương lại không xuất phát từ vị sáng lập Dòng là Thánh Inhaxio Loyola, cũng không xuất phát từ Đức Giáo Hoàng, mà lại xuất phát từ lời thỉnh cầu của vua Bồ Đào Nha là Gioan III. Năm 1540 ông vua này đã thỉnh cầu các tu sĩ Dòng Tên đi truyền giáo.
Đó là vì phạm vi và khuôn khổ định chế của việc truyền giáo hải ngoại thuộc quyền bảo trợ truyền giáo của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Hai nước này phân chia thế giới và chịu trách nhiệm việc truyền giáo, dựa theo sắc chỉ Inter Cetera năm 1493 của Đức Giáo Hoàng Alexandro VI. Nhiều sắc chỉ khác nhau của Giáo Hoàng đã trao cho các hoàng đế Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha không những trách nhiệm truyền giáo mà cả những quyền hạn rộng rãi.
Trước hết về tài chính, họ phải trả chi phí cho việc truyền giáo và cho toàn bộ tổ chức Giáo hội. Ngoài ra, họ còn phải lo việc phái đi và chuyên chở các nhà truyền giáo trên tàu thuyền của mình. Bù lại, họ có những quyền hạn còn vượt trên cả Giáo hội, điều này thường thấy nơi các đế chế tập quyền ở châu Âu thời đó thường có. Họ không chỉ có quyền cho phép nhà truyền giáo nào được nhập cảnh, mà còn có quyền chỉ định Giám mục, quyền thành lập giáo phận và xác định ranh giới của giáo phận. Đương nhiên những điều này phải được Roma chấp thuận.
Nhìn theo quan điểm của Giáo hội về sau này, ta dễ dàng đánh giá tiêu cực chế độ bảo trợ, vì coi đó là một hình thức lẫn lộn thần quyền và thế quyền. Nhưng nhìn như vậy là chưa thích hợp và chưa hợp thời. Vì công bằng mà nói, vào thế kỷ XVI không có hình thức nào khác thay thế. Một tình trạng đặc biệt khác nữa, là liên minh nhân sự giữa Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha không hề làm suy giảm sự cạnh tranh thù nghịch giữa hai quốc gia này, mà còn tạo cho Giáo hội nhiều sự chồng chéo hơn. Thêm vào đó là những cạnh tranh mâu thuẫn về phương pháp truyền giáo giữa các tu sĩ Dòng Tên với các tu sĩ dòng khất thực, những tranh chấp quốc gia giữa Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, sự cạnh tranh giữa chế độ Bảo Hộ và Thánh Bộ Truyền Giáo. Những rắc rối ấy đã biến cuộc tranh cãi về lễ nghi, thành một cuộn chỉ rối không gỡ nổi.
Lược trích: Tứ Quyết SJ
Hoa Trái ở Phương Đông, Tác giả: Klaus Schatz, S.J.,
Người dịch: Phạm Hồng Lam, NXB Phương Đông, 2017.
Truyền giáo trên đất Nhật (2)
Vào cuối thế kỷ XVI, khu vực truyền giáo nhiều hứa hẹn nhất đối với Dòng Tên, chính là Nhật Bản. Thánh Phanxicô Xaviê đã bắt đầu truyền giáo tại Nhật năm 1549 tại Kagoshima thuộc đảo Kyushu. Thánh Phanxicô nhận ra rằng, phải thích nghi cao độ với các tập quán và thể chế của đất nước này. Thế nhưng những liên hệ đầu tiên quá vụng về, vì ngôn ngữ thì bất đồng và có quá nhiều hiểu lầm.
Các nhà truyền giáo Dòng Tên đầu tiên nói với người Nhật rằng, họ đến từ “Tenjiku” nghĩa là đến từ Ấn Độ. Điều này có lợi cho họ, vì Ấn Độ là nơi xuất phát Phật giáo. Vì thế người Nhật cũng coi các nhà truyền giáo như những người đi loan truyền con đường cứu độ thật của Đức Phật, cho dù giáo huấn các vị ấy giảng là một giáo huấn cứu độ mới. Ngoài ra, kiến thức thiên văn và toán học của các nhà truyền giáo cũng gây được sự tò mò hứng thú, và tạo được uy tín cho thông điệp tôn giáo của họ. Do họ hiểu được phần nào về chuyển động của vũ trụ, thì lời giảng về Thiên Chúa của họ cũng tạo được tiếng vang. Một khi họ biết rõ về những chuyện trong bầu trời nhìn thấy được, thì thông điệp về Trời Cao vốn không nhìn thấy được, có lẽ cũng có lý. Câu chuyện ấy cũng diễn ra tương tự như các nhà thiên văn Dòng Tên tại Trung Hoa, và như ta sẽ thấy, những câu chuyện ấy cũng sẽ lặp lại trong các phủ chúa ở Việt Nam.
Năm 1563 bắt đầu một thời kỳ mới. Nhiều Daimyo tức là các lãnh chúa độc lập có thực quyền, họ theo đạo. Điều này kéo theo dân chúng theo đạo hàng loạt, nhất là trên đảo Kyushu với trung tâm là Nagasaki. Vào đầu thế kỷ XVII, số người theo Kitô giáo phỏng đoán khoảng chừng 250 đến 300 ngàn người, trên tổng số 20 triệu dân. Biến chuyển này đã dấy lên những mong đợi quá đáng. Có nhà truyền giáo nghĩ rằng, với sự trợ giúp của các lãnh chúa Nhật, có thể trong vòng 10 năm, cả nước Nhật sẽ theo đạo. Rồi sau đó, các vị truyền giáo ấy sẽ hướng đến Trung Hoa.
Bối cảnh tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc truyền giáo tại Nhật Bản lúc đó là: Nhật đang trải qua thời kỳ nội chính bất ổn và họ đang muốn mở cửa cho phương Tây. Dòng Tên tạo được uy tín nơi các lãnh chúa, và rồi tạo được uy tín nơi chính quyền trung ương mới ra đời, chủ yếu là vì người Nhật coi các tu sĩ Dòng Tên là những đại diện quốc tế và là chiếc cầu nối cho khoa học kỹ thuật và nền tri thức phương Tây.
…
Năm 1580 mở ra khúc quanh có tính quyết định. Vì vị kinh lược không những công nhận phải thích nghi với những tập quán Nhật Bản, ít là trong các nghi thức ứng xử, ví như trà đạo; mà vị kinh lược ấy còn cho phép đào tạo hàng giáo sĩ bản xứ. Nhờ đó Dòng Tên đã đi bước đầu tại Nhật trong công tác đào tạo giáo sĩ bản xứ và chuẩn bị các tu sinh trẻ tại chỗ cho Dòng. Nhưng mãi đến năm 1601 mới có linh mục người Nhật đầu tiên, và không lâu sau đó, cuộc bách hại Kitô giáo nổ ra.
Trong giai đoạn đầu truyền giáo tại Nhật, có sự hiện diện của rất ít các nhà thừa sai. Năm 1579 chỉ có 23 linh mục Dòng Tên trên tổng số 100 ngàn Kitô hữu. Năm 1600 khi số giáo dân đã tăng gấp ba, thì số linh mục cũng chỉ có 100. Thật ra, các giáo lý viên bản xứ là những người có công nhiều nhất trong công tác loan báo Tin Mừng và hướng dẫn cộng đoàn. Các giáo lý viên ấy là người cử hành bí tích rửa tội, cảm hóa lương dân, giảng dạy giáo lý. Họ cũng thường nâng đỡ những người hấp hối. Họ cũng là người gắn bó cộng đoàn. Đa số các cuộc tranh luận văn chương với Thần Đạo (Shinto) và Phật giáo hầu hết cũng do giáo dân Nhật tiến hành. Đa số các tín hữu ít có dịp tham dự thánh lễ. Các hình thức nguyện ngắm khác rất phổ biến, ví dụ việc lần chuỗi mân côi.
Công cuộc truyền giáo tiếp tục lớn mạnh, nhưng đã bị đám mây mù che phủ. Trước hết, có cuộc chuyển biến chính trị vô cùng quan trọng. Từ tình trạng phong kiến vô chính phủ, một nhà nước đã được thành lập. Trong giai đoạn đầu, cuộc thống nhất đất nước Nhật có lợi cho việc truyền giáo, vì cuộc thống nhất ấy đem lại hòa bình cho toàn đất nước. Và nhờ đó, tạo điều kiện truyền giáo trên toàn nước Nhật. Trước kia, các nhà truyền giáo phải phụ thuộc vào từng vị lãnh chúa đơn lẻ. Tương quan giữa các tu sĩ Dòng Tên và nhà cầm quyền vẫn thuận lợi. Thêm nữa, các nhà cầm quyền chủ trương không bế quan tỏa cảng, mà muốn mở rộng và bành trướng chính trị ra bên ngoài, đặc biệt là sang Hàn Quốc. Các nhà cầm quyền cũng đồng thời muốn tạo quan hệ với quốc tế. Trong bối cảnh đó, các tu sĩ Dòng Tên trở nên rất hữu dụng cho các nhà cầm quyền, vì các nhà thừa sai ấy vừa đến từ Bồ Đào Nha vừa thông thạo tiếng Nhật vừa có quan hệ quốc tế rộng rãi.
…
Thế nhưng, từ những năm 1600, các nhà truyền giáo Dòng Tên trải qua giai đoạn khủng hoảng. Truyện tranh chấp giữa người Hà Lan với người Bồ Đào Nha, ảnh hưởng quan trọng lớn đến chính sách của người Nhật. Bởi lẽ mối quan tâm của người Hà Lan chỉ là thương mại chứ không phải là truyền giáo. Thêm nữa, người ta lo sợ Kitô giáo mang vào đất nước làm mất đi căn tính Thần đạo của dân tộc. Và từ nhiều nguyên nhân phức tạp, cuộc bách hại các tín hữu Kitô trở nên gắt gao. Năm 1614 tướng quân Tokugawa Ieyasu ra lệnh cấm đạo và trục xuất tất cả các nhà truyền giáo.
Cuộc bắt đạo ở Nhật được chứng thực bởi khoảng 4000 vị tử đạo, với những lối tra tấn và tử hình lạ lùng và vô cùng dã man. Ví dụ, nạn nhân bị trói rất chặt, bị treo ngược và đầu giộng xuống một cái hố hôi thối. Tư thế này làm cho máu dồn xuống đầu, tới khoảng một tuần thì dẫn đến cái chết dần dần đầy đau đớn. Ngay vừa tầm tay có một cái chuông rất thuận tiện. Nếu kéo chuông, thì có nghĩa là chối bỏ đức tin, và sẽ được giải thoát khỏi tra tấn. Những cuộc tra tấn ở Nhật rất dã man và lạnh lùng, chứ không như ở các nước khác. Ví dụ ở Trung Hoa và Việt Nam, cấp dưới thường làm dịu nhẹ bản án của cấp trên do sự tham nhũng của các quan lại.
Lược trích: Tứ Quyết SJ
Hoa Trái ở Phương Đông, Tác giả: Klaus Schatz, S.J.,
Người dịch: Phạm Hồng Lam, NXB Phương Đông, 2017.
dongten

