Ngày 20 Tháng 08 Thánh Bê-Na-Đô Viện Phụ Tiến Sĩ

19/08/2016
7

Gương Thánh nhân: Thánh Bê-na-đô sinh năm 1274, tại lâu đài Phong-ten, nước Pháp, trong một gia đình nổi tiếng quí tộc và nhân đức, nên lúc nhỏ đã được cha mẹ dạy dỗ kỹ lưỡng về đạo hạnh.

Năm lên 19 tuổi, thánh nhân vâng theo tiếng Chúa gọi, dâng mình vào dòng Xi-tô là dòng tu rất khắc khổ, hằng ngày chăm lo cầu nguyện, lao động và hãm mình ép xác. Lúc đầu gia đình và anh em ngài phản đối, nhưng ngài thuyết phục cách khôn khéo, đến nỗi chẳng những mọi người đều chấp nhận, mà cả sáu anh em ngài và 24 người bạn cũng theo vào dòng với ngài tại Cốt-đo năm 1112. Nhiều bạn trẻ khác thấy gương đó cũng từ từ xin nhập dòng. Thế là nhà dòng đông người quá, bề trên phải nghĩ đến việc lập thêm nhà mới. Và năm 1115, thánh nhân được bề trên đặt làm đầu một nhóm 12 tu sĩ, đến lập tu viện tại Cơ-lơ-vô. Nhờ tài đức và sự thánh thiện của ngài, dòng phát triển rất nhanh. Ngay lúc ngài còn sống, dòng đã tăng thêm cả 160 tu viện khác nữa và ngài được bầu làm đan viện trưởng các tu viện nầy.

Dòng càng phát triển, thánh nhân càng ra sức sống thánh thiện nhân đức. Mỗi ngày ngài tự hỏi: – Bê-na-đô, ngươi ở đây làm gì?

Mỗi lần hỏi như thế, ngài đặt thêm cho mình những việc lành phải làm, những việc hãm mình phải chấp nhận. Ngài hãm mình nhiệm nhặt đến nỗi ngài ăn như không ăn, uống như chẳng uống; ngài coi thường mọi của ăn hằng ngày. Danh tiếng ngài lan rộng khắp nơi, hương thơm nhân đức ngài tỏa lan cả vùng. Chẳng những ngài nên gương sáng trọn lành cho các tu sĩ trong dòng, mà còn lôi cuốn nhiều người từ xa đến học hỏi sống tốt như ngài. Những ai không đến được thì viết thơ nhờ ngài hướng dẫn, giải quyết các việc khó khăn trong đời sống thiêng liêng cũng như vật chất của họ. Và thánh nhân sẵn sàng trả lời cho hết mọi người. Do đó mà ngày nay thư từ của ngài còn lưu lại rất nhiều.

Thánh nhân chịu cực chịu khó làm các việc đó vì lòng mến Chúa yêu người. Ngài sống vì tình yêu, cho tình yêu, như lời ngài nói: “Tình yêu tự nó đủ cho nó, nó tự hài lòng với nó và nó là mục đích của chính nó. Nó là chính công nghiệp của mình và là chính phần thưởng cho mình. Tình yêu không tìm gặp căn cứ nào ở ngoài mình và cũng không tìm hiệu quả nào ở ngoài mình. Hiệu quả của nó là chính việc yêu mến. Tôi yêu là vì tôi; và tôi yêu là để tôi yêu. Tình yêu là một sự thật cao cả, ít là khi trở về nguyên lý của nó, khi trở lại nguồn gốc của nó, khi lộn về nguồn mạch của nó để có được dòng nước cứ chảy mãi. Trong tất cả các cảm xúc, cảm giác và cảm tình của linh hồn, chỉ có tình yêu cho phép tạo vật được đáp lại. Tạo hóa, không được bằng vai ít ra cũng được tương tự như Người. Bởi vì khi Thiên Chúa yêu, Người chẳng muốn gì khác việc được yêu lại”.

Ngoài ra nhiệt tâm lo cho dòng và hướng dẫn đàng nhân đức cho mọi người, thánh nhân còn tận tình giúp việc chung của Hội thánh. Ngài đứng ra dàn xếp và thu phục các nước trong thời gian Giáo hội ly khai, đồng thời làm tư vấn cho các vị Giáo Hoàng. Trong cuộc thánh chiến chống lại Hồi giáo lần thứ hai, Thánh nhân được Đức Giáo Hoàng Êu-gen thứ 3 giao cho đi vận động các vua chúa tham gia. Nhưng cuộc thánh chiến nầy bị thất bại, vì các tướng lãnh tham lam ích kỷ, tranh chấp quyền lợi với nhau. Đã vậy, họ còn đổ lỗi cho thánh nhân, khiến cho các nhà chức trách đạo đời phê bình chỉ trích, làm cho ngài phải buồn sầu đau khổ. Nhưng ngài không phàn nàn trách móc ai, một cam lòng chấp nhận vì lòng mến Chúa.

Thánh nhân qua đời tại Cô-lê-vô, ngày 20 tháng 8 năm 1153. Năm 1174 ngài được Đức Thánh Cha A-lét-xăn thứ 3 tôn phong Hiển thánh. Và Đức Giáo Hoàng Pi-ô thứ 8 nâng ngài lên Tiến sĩ Hội thánh năm 1830.

Quyết tâm: Hết lòng lo cho mọi người tấn tới trên đàng nhân đức thánh thiện và tận tâm giúp việc Hội thánh, theo gương thánh Bê-na-đô viện phụ.

Lời nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã cho thánh viện phụ Bê-na-đô đầy nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, để trở nên ngọn đèn cháy sáng trong Giáo hội. Nhờ lời Người nguyện giúp cầu thay, xin cho chúng con cũng được lòng hăng hái như Người, để sống thế nào cho xứng danh là con cái ánh sáng.