Dạy Giáo Lý Theo Định Hướng Truyền Giáo

09/03/2017
15

Dạy Giáo lý theo định hướng Truyền giáo

Image result for Ad gentes" trong việc dạy giáo lý và phổ biến Kinh Thánh

Đề tài được Ủy ban Loan báo Tin Mừng đề nghị là: “Ad gentes” trong việc dạy giáo lý và phổ biến Kinh Thánh”. Tiêu đề này đặt ra ba vấn đề:

1. Trong việc dạy giáo lý và Kinh Thánh, cần trình bày về sứ mệnh truyền giáo “ad gentes” của Hội Thánh. Các thủ bản giáo lý cần bổ sung phần về truyền giáo nếu chưa có.

2. Truyền giáo không những là một bộ môn chuyên biệt với những vấn đề liên quan tới truyền giáo, mà còn là một định hướng, một “tinh thần”, thẩm thấu vào mọi phần của giáo lý và Kinh Thánh. Cần làm sáng tỏ ý nghĩa truyền giáo tiềm ẩn trong các chân lý đức tin. Đây là định hướng truyền giáo tiềm ẩn trong nội dung giáo lý. Xin nhờ các chuyên viên giáo lý biên soạn giúp.

3. Truyền giáo cũng phải là một định hướng trong chính việc dạy giáo lý. Mục tiêu của Đại hội này là khơi dậy tinh thần truyền giáo nơi các thành phần Dân Chúa. Vì thế, xin giới hạn đề tài vào điểm thứ ba này: “Dạy giáo lý theo định hướng truyền giáo”*. Một cách cụ thể, vấn đề được đặt ra cho hoạt động huấn giáo không phải chỉ là giảng dạy về sứ mạng truyền giáo của Hội Thánh, nhưng sâu xa hơn và khó hơn, thiết tưởng đó là: dạy giáo lý thế nào để sau khi học, người thụ huấn trở thành người loan báo Tin Mừng cho muôn dân, đặc biệt dạy giáo lý cho người dự tòng thế nào để chính họ sau khi đã trở thành môn đệ Đức Kitô cũng sẽ hân hoan loan báo Tin Mừng cho những ai họ gặp gỡ.

Xin nêu lên ít câu hỏi gợi ý, để từ đó thử tìm một phương pháp thích hợp.

– Một Việt kiều khi được đãi món gỏi cá nhệch, ông tỏ ý không muốn ăn cá sống và các thứ lá. Nhưng khi được chủ nhà thuyết phục, và nhất là vì nhìn thấy chủ nhà ăn một cách rất thú vị, nên từ chỗ không muốn ăn, ông đã thử và quả thực là thấy ngon. Trong suốt bữa ăn, ông chỉ ăn món gỏi ấy và còn gói cho vợ, bà vợ tin chồng nên cũng ăn và thấy thú vị. Có thể kết luận điều gì từ việc ăn gỏi cá để áp dụng cho việc dạy giáo lý?

– Có gì khác nhau giữa một phát ngôn viên tường thuật một tai nạn xe và một người đi trên chiếc xe gặp nạn?

– Thử làm một cuộc kiểm tra thực tế: các dự tòng có hiểu và cảm thấy thích thú về những điều họ học từ các lớp giáo lý ? Các sách giáo lý dự tòng như hiện có và phương pháp dạy truyền thống có đủ sức làm cho một dự tòng trở thành người loan báo Tin Mừng không?

Ngay cả đối với các tín hữu đã rửa tội, sau giờ học giáo lý, họ ra về mang tâm trạng vui tươi hạnh phúc, thanh thản phấn khởi, và muốn giữ mãi niềm phấn khích này để chia sẻ với người khác, hay ngược lại, họ cảm thấy sung sướng vì đã thoát được một giờ tù túng ngột ngạt và muốn quên ngay những gì vừa nghe?

Canh tân mục vụ theo định hướng truyền giáo

Hội Thánh tự bản chất là truyền giáo (TG 2). Sứ mạng loan báo Tin Mừng cho mọi thụ tạo mà Hội Thánh nhận từ nơi Đức Kitô chính là nối tiếp sứ mạng duy nhất mà Đức Kitô đã nhận từ nơi Chúa Cha: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (Ga 20, 21). “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ…” (Mt 28,19-20). Loan báo Tin Mừng không phải chỉ là một trong nhiều sứ mạng, cũng không chỉ là sứ mạng ưu tiên trên các sứ mạng khác, nhưng đó là sứ mạng duy nhất.

Tuy nhiên, không phải lúc nào các thành phần Dân Chúa cũng nhớ và thực hành lệnh truyền của Đức Kitô. Các Đức Thánh Cha gần đây, đặc biệt ĐTC Phanxicô, mong muốn Hội Thánh thực hiện cuộc canh tân toàn diện các hoạt động mục vụ theo định hướng truyền giáo: “Tôi ước mơ một chọn lựa truyền giáo, nghĩa là một nỗ lực truyền giáo có khả năng biến đổi mọi sự, để các thói quen, các cách hành động, các giờ giấc và chương trình, ngôn ngữ và các cơ cấu của Hội Thánh có thể được khai thông thích hợp cho việc loan báo Tin Mừng cho thế giới hôm nay, hơn là cho sự bảo tồn của Hội Thánh” (NVTM 27).

Theo định hướng ấy, việc dạy giáo lý cũng cần được thực hiện thế nào để nhắm đến mục tiêu loan báo Tin Mừng cho muôn dân (ad gentes).

Phương pháp kể chuyện

Trước hết, cần áp dụng phương pháp kể chuyện vào việc dạy giáo lý.

Huấn giáo không phải là một lớp học trình bày một số kiến thức liên quan đến đức tin Kitô giáo, nhưng nhằm một mục tiêu xa hơn. Đành rằng trong việc dạy giáo lý có dạy một số chân lý là nội dung đức tin, nhưng các chân lý ấy không được dừng lại nơi trí khôn, nhưng phải dẫn đến trái tim và hành động. Huấn giáo phải đưa con người đến chỗ yêu mến Chúa, gắn bó với Chúa và sống như Chúa dạy, để sau đó chia sẻ niềm vui Tin Mừng cho người khác. Xem ra việc dạy giáo lý của chúng ta mới chỉ dừng lại trong một “lớp” giáo lý. Cần ra khỏi khuôn khổ của một lớp học như trong trường phổ thông.

Nhiều khi việc dạy giáo lý của chúng ta đã nhồi nhét quá nhiều kiến thức với những ngôn ngữ thật trừu tượng. Giáo lý cho thiếu nhi nhiều khi chỉ là sự rút ngắn của sách “Giáo lý của Hội Thánh Công giáo”, một bản văn được viết cho cả giám mục và thần học gia ! Phải thành thật tự hỏi xem các dự tòng có hiểu và cảm nhận được gì từ sách giáo lý dự tòng như hiện có ? Dạy thật nhiều lý thuyết nhưng lại không hiệu quả, vì mới dừng lại ở bình diện trí khôn, chưa chuyển sang cái “tâm” và cái “hành”. Không khơi dậy được sự cảm nhận từ trong cõi lòng và không dẫn đến hành động, thì làm sao có thể nói đến việc chia sẻ niềm hạnh phúc của người môn đệ cho người chưa biết Chúa?

Người thời nay không thích suy tư trừu tượng, lý luận dài dòng. Phương pháp diễn dịch hệ thống xem ra khó lôi cuốn được họ. Người ta thích những gì cụ thể, sống động, những gì gây ấn tượng và cảm xúc nơi bản thân. Đặc biệt con người Việt Nam nói riêng cũng như người châu Á nói chung thích hình thức kể chuyện. Liên Hội Đồng Giám Mục châu Á (FABC) đã nhiều lần giới thiệu phương pháp này, và tông huấn “Giáo Hội tại châu Á” đã kêu gọi: “Việc loan báo Đức Giêsu Kitô có thể đạt hiệu quả nhất với phương pháp kể lại cuộc đời Ngài, như các sách Tin Mừng đã làm… Thượng Hội Đồng còn nhắc nhở việc giảng dạy giáo lý tiếp theo sau đó nên theo phương pháp sư phạm gợi ý, nghĩa là vận dụng các câu chuyện, dụ ngôn và biểu tượng, là những điều hết sức đặc thù trong phương pháp giảng dạy của người châu Á” (s. 20).

Một vài nhận xét về việc kể chuyện

Có những câu chuyện hay và những câu chuyện dở. Có nhiều yếu tố trong việc kể chuyện:

1. Trước hết, câu chuyện tự nó phải là hấp dẫn. Các mắt xích trong câu chuyện ăn khớp nhau và dẫn đến một kết thúc có hậu. Phong cách kể chuyện cũng là quan trọng. Có thể chuyện không hay, nhưng người kể có cách làm cho hấp dẫn.

2. Tuy nhiên người ta thích nghe một câu chuyện đáng tin, khả tín, xác thực, hơn là chuyện tưởng tượng. Nền tảng mạnh mẽ nhất của sự thật là kinh nghiệm trực tiếp của người thuật chuyện. Một người tường thuật kể lại kinh nghiệm của một ai đó. Có thể người tường thuật là người đáng tin, nhưng chuyện kể của họ không thể sánh được với câu chuyện của một người thật sự ở đó khi sự kiện xảy ra, bởi vì biến cố đó là một phần của con người ấy, hoặc chính con người ấy là thành phần của biến cố. Những câu chuyện hay nhất là những câu chuyện kể về chính mình, về kinh nghiệm của bản thân.

3. Khi trải qua một chuyện buồn vui đáng nhớ, người ta nôn nóng tìm một người để kể. Câu chuyện cần một người để nghe, cần một người để chia sẻ.

4. Câu chuyện không chỉ là nói về tôi. Nó cũng hướng về người khác, về gia đình và bạn bè của tôi, về hoàn cảnh xã hội, văn hoá, kinh tế, về “thời thế”. Chuyện của mình trở thành chuyện chúng mình.

5. Qua chuyện kể, ta nhận ra được sự thay đổi của chính bản thân: những gì tôi là hôm nay không giống như những gì tôi là trước đó. Chúng ta đã thay đổi và sẽ còn thay đổi nữa. Qua câu chuyện về đời tôi, người khác nhận ra và hiểu được những xác tín thiêng liêng và các chọn lựa luân lý của tôi. Không kể chuyện đời mình, người khác không hiểu tại sao tôi lại sống như thế này.

6. Chuyện kể khi được đón nhận có thể biến đổi người lắng nghe. Câu chuyện của một người có thể đánh thức người nghe nhớ lại những kinh nghiệm tương tự, mở ra những ý nghĩa mới, tạo ra sự kinh ngạc và lay động khỏi sự ngủ mê. Câu chuyện của người kể đan kết với câu chuyện của người nghe làm nảy sinh ra những câu chuyện mới. Thông thường một người biết lắng nghe cũng sẽ trở thành một người kể chuyện hay: người ấy có kinh nghiệm kết nối chuyện kể vào chuyện của mình, nên cũng biết cách chia sẻ chuyện của mình để nối kết vào chuyện của người khác nữa.

Có thể áp dụng phương pháp kể chuyện vào huấn giáo để mỗi người học giáo lý đều có khả năng và nhiệt tình loan báo Tin Mừng. Đây chỉ là những phác thảo gợi ý, có thể áp dụng cho việc dạy giáo lý nói chung, và đặc biệt là giáo lý cho người dự tòng.

1) Người kể: kể chuyện của chính mình

Khi đã có kinh nghiệm được một bác sĩ giỏi chữa cho khỏi một cơn bệnh hiểm nghèo, thì không cần ai yêu cầu, chính ta nôn nóng tìm người để kể, kể cho càng nhiều người càng tốt, kể say sưa hào hứng. Có khi người ta không muốn nghe mà vẫn kể. Một học sinh tìm được thầy giáo giỏi, hoặc một công nhân tìm được việc làm trong một công ty tốt, sẽ tìm mọi cách kể chuyện như thế. Kể chuyện về bác sĩ, về thầy giáo, về công ty, nhưng lại là kể chuyện của mình, với ngầm ý giới thiệu để nếu họ cũng ở trong tình trạng như ta, họ hãy tìm đến những người ấy. Người kể chuyện là người đã có kinh nghiệm, xác tín và đầy tràn niềm vui hạnh phúc, nên cũng là người kể chuyện hấp dẫn nhất.

Người loan báo Tin Mừng phải là người kể chuyện đầy xác tín, niềm vui phấn khởi, đầy lửa Thánh Thần. Chính Thánh Thần ban cho ta “tinh thần” truyền giáo, nghĩa là một sự thúc đẩy từ bên trong đem lại nhiệt huyết, vui tươi, quảng đại, can đảm, tràn đầy yêu thương, có sức làm lây lan (x. NVTM 261). Rất nhiều khi người ta không muốn nghe không phải vì chuyện kể cho bằng do người kể chuyện không có lửa; mà không có lửa vì họ chỉ là người tường thuật chứ họ không kể chuyện của chính mình.

Lửa nhiệt tình loan báo Tin Mừng phát xuất từ kinh nghiệm gặp gỡ cá vị với Đức Kitô. Giáo lý viên là người cảm nghiệm được niềm vui của Tin Mừng, niềm vui vì được Chúa yêu thương, nên được thôi thúc từ bên trong để thông truyền niềm vui của đời sống Kitô hữu cho người khác. Giáo lý viên không phải là người “làm” công tác dạy giáo lý tựa như một giáo viên dạy kiến thức về đạo, trái lại, họ “là” giáo lý viên, nghĩa là giáo lý mà họ thông truyền không phải chỉ là kiến thức đã thuộc, mà là đức tin của họ, là chính Đức Kitô đã thấm nhuần và biến đổi cuộc đời họ. Nói cách khác, giáo lý viên là người đầy tràn Đức Kitô, và niềm vui này tự lan tỏa.

Để thông truyền đức tin Kitô giáo, chính giáo lý viên phải là người đầy xác tín về Phúc Âm mà mình loan báo. Giáo lý viên không thể giống như người rao bán một sản phẩm mà chính mình cũng không tin và không dùng. “Một người không có xác tín, không phấn khởi, không chắc chắn và không yêu, người ấy chẳng thuyết phục được ai.” (NVTM 266)

Niềm xác tín này không hề mang tính lý thuyết và dừng lại trên bình diện tri thức. Nó phải thấm nhập vào trong tâm tình và cảm xúc, trong lối sống của giáo lý viên. Nói cách khác, đó chính là đời sống của một chứng nhân. Con người trong thế giới hôm nay không tin vào lý thuyết, cũng không muốn bị thuyết phục bởi lý lẽ, nhưng cảm xúc lại dễ bị đánh động. “Con người hôm nay tin tưởng các chứng nhân hơn là thầy dạy, tin vào kinh nghiệm hơn là bài vở, tin vào cuộc sống và hành động hơn là lý thuyết”. Điều này lại càng đúng khi nhớ lại rằng dạy giáo lý không chỉ là thông truyền đầy đủ kiến thức về đức tin một cách hệ thống, mà còn là dẫn đưa người khác vào sự hiệp thông với Đức Kitô và đi theo lối sống mới Ngài. Khi Tin Mừng đã trở thành sự sống của mình, giáo lý viên “dạy” giáo lý với niềm vui tươi phấn khởi và niềm vui này lây lan.

2) Chuyện kể: Chuyện Đức Giêsu

Có lẽ không cần chứng minh rằng câu chuyện Giêsu là câu chuyện hấp dẫn lôi cuốn. Những người lần đầu tiên đọc Tin Mừng đều nói lên cảm nhận như thế, dù có thể không tin và không muốn theo Chúa. Chuyện Giêsu là câu chuyện hay: tự câu chuyện đã hay rồi, và hay hơn nữa khi được viết dưới ơn linh ứng của Chúa Thánh Thần, và lại càng hay hơn nữa khi ơn Chúa tác động trong chính lúc người ta nghe hoặc đọc.

Câu chuyện hay nhưng có thể người kể chuyện lại làm cho nó trở thành buồn tẻ mất hấp dẫn. Phải thành thật nhận rằng các sách giáo lý hiện có chưa làm tỏa ra “hương thơm của Tin Mừng”. Đức Thánh Cha Phanxicô đã cảnh giác: “Đôi khi ta mất dân vì dân không hiểu ta nói gì, vì ta quên khuấy cả ngôn ngữ đơn giản để đưa vào chủ nghĩa duy trí, một chủ nghĩa hoàn toàn xa lạ đối với dân” (Diễn văn của ĐTC Phanxicô nói với các giám mục Brazil ngày 28-7-2013). Thay vì loan báo một tin vui phát xuất từ ân sủng và tình thương của Thiên Chúa, giáo lý viên thường tạo nên một tin buồn vì quá nhấn mạnh đến gánh nặng của những bổn phận chi ly.

a. Một câu chuyện hài hòa

Chuyện kể dù có nhiều tình tiết, nhưng tất cả đều ăn khớp với nhau và diễn tiến xoay quanh một trọng tâm. Tất cả đều được tập trung vào điểm chính yếu.

Sứ điệp mà Hội Thánh rao giảng là một sứ điệp đơn giản. Tất cả các chân lý đức tin tuy nhiều nhưng có một sự hài hòa và một thứ tự ưu tiên xoay quanh trọng tâm thiết yếu của Tin Mừng. “Sứ điệp phải tập trung vào những gì cốt yếu, những gì đẹp nhất, lớn nhất, lôi cuốn nhất và đồng thời cần thiết nhất. Chúng ta làm cho sứ điệp trở thành đơn giản, nhưng đồng thời không làm mất sự thâm sâu và chân lý của nó, nhờ đó nó càng trở nên mạnh mẽ và có sức thuyết phục” (NVTM 35). “Trong cái cốt lõi cơ bản này, cái toả sáng chính là vẻ đẹp của tình thương cứu độ của Thiên Chúa được mặc khải nơi Đức Kitô đã chết và sống lại từ cõi chết” (NVTM 36).

Một trong những nhược điểm của các giáo lý viên là cố nhồi nhét cho các học viên thật nhiều kiến thức, biến Tin Mừng thành một bài giáo khoa với đủ thứ bổn phận, những việc phải làm, phải hy sinh chịu đựng. Phải làm cho Tin Mừng chiếu tỏa vẻ đẹp và niềm vui chứ không là gánh nặng. Đời sống Kitô hữu phải đầy tràn niềm vui vì được Chúa yêu thương và cứu độ, được gặp Chúa là Đấng đã chết và sống lại vì mình. Đó mới là điều thiết yếu.

“Nếu trong năm phụng vụ, một cha xứ giảng về đức tiết độ mười lần nhưng chỉ nói về bác ái hay công bình hai hay ba lần, như thế là mất cân đối, nhất là vì nó cho thấy có sự sao lãng các nhân đức lẽ ra phải được nhắc đến nhiều nhất trong bài giảng và giáo lý. Cũng có sự mất cân đối như thế khi ta nói về lề luật nhiều hơn là về ân sủng, về Hội Thánh nhiều hơn là về Đức Kitô, về Giáo hoàng nhiều hơn là về Lời Chúa.” (NVTM 38).

“Luân lý Kitô giáo không phải là một dạng của chủ nghĩa khắc kỷ, hay thái độ từ bỏ mình, cũng không phải một thứ triết học thực hành, hay một danh mục các tội lỗi. Trên hết, Tin Mừng mời gọi chúng ta đáp lại vị Thiên Chúa của tình thương, Đấng cứu độ chúng ta, nhìn thấy Chúa nơi tha nhân và ra khỏi bản thân mình để tìm lợi ích cho tha nhân. Trong mọi hoàn cảnh, ta không được phép làm lu mờ lời mời gọi này ! Tất cả các nhân đức là để giúp ta đáp lại tình thương này. Nếu lời mời gọi này không chiếu toả một cách sinh động và hấp dẫn, toà nhà giáo huấn luân lý của Hội Thánh có nguy cơ trở thành một căn nhà bằng giấy, và đây là mối nguy lớn nhất của chúng ta. Trong trường hợp này, điều chúng ta giảng không phải là Tin Mừng, mà là một số điểm về giáo điều hay luân lý dựa trên một số chọn lựa ý thức hệ đặc thù. Sứ điệp sẽ có nguy cơ mất đi sự tươi trẻ và sẽ không còn là «hương thơm của Tin Mừng»” (NVTM 39).

b. Chuyện của cộng đoàn

Kể câu chuyện Giêsu là kể chuyện của mình. Mà chuyện của mình cũng là chuyện của cộng đoàn. Chuyện kể của tôi cũng cho thấy các tín điều và luân lý ấy đã làm nên cộng đoàn những người tin thế nào, tức là làm nên lịch sử Hội Thánh thế nào.

Cùng với việc kể chuyện cuộc đời Đức Giêsu, giới thiệu đời sống các thánh và những mẫu gương thánh thiện của các Kitô hữu khắp nơi là một cách tác động rất hiệu quả trên đời sống đức tin. Đó là một cách diễn giải cụ thể chân lý đức tin. Những gương sáng có khả năng giáo dục đức tin hiệu quả hơn lời nói rất nhiều. Hơn nữa, hằng ngày con người trong thế giới hôm nay phải chứng kiến quá nhiều sự dữ, bất công và hận thù, dễ đi đến hoài nghi và bi quan, không còn muốn tin vào bất cứ lý thuyết nào. Chính những mẫu gương thánh thiện sẽ có sức thuyết phục mạnh mẽ và giúp họ củng cố lòng tin và niềm hy vọng.

c. Ngôn ngữ kể chuyện

Khi kể chuyện cần có một ngôn ngữ riêng, một cách diễn đạt đặc thù. Không ai kể chuyện mà lại dùng ngôn ngữ triết học trừu tượng. Dạy giáo lý theo định hướng truyền giáo cần dùng ngôn ngữ kể chuyện.

Ngôn ngữ hữu thể luận trừu tượng và lôgic chặt chẽ ít tác động trên các tâm hồn bằng những gợi ý, những hình ảnh và kinh nghiệm thực tế của cuộc sống hằng ngày. Những người dạy giáo lý, nhất là các mục tử được đào tạo theo tư duy kinh viện, đã quen với lối suy tư và diễn đạt bằng những khái niệm hữu thể luận, sẽ thấy rằng những hình ảnh và những kinh nghiệm không thể diễn đạt đầy đủ nội dung đức tin. Tuy nhiên nếu cứ dừng lại ở bình diện suy tư trừu tượng, con người thời nay không thể hiểu và cũng không muốn lắng nghe sứ điệp của Tin Mừng, vì con người được tác động trên bình diện cảm xúc nhiều hơn trên bình diện suy tư.

Ngay cả trong thần học tín lý khi nói về mầu nhiệm Ba Ngôi, các nhà thần học nhận ra rằng nếu chỉ dừng lại ở những ý niệm hữu thể trừu tượng, sẽ làm cho mầu nhiệm trung tâm của Kitô giáo trở nên khô cằn thiếu sức sống và có nguy cơ ngày càng rời xa Tin Mừng. Do đó, ngày nay khi trình bày mầu nhiệm Ba Ngôi, các tác giả luôn diễn tả dưới khía cạnh lịch sử cứu độ: Ba Ngôi trong tương quan cụ thể với con người. Cần phải giữ cho sứ điệp Tin Mừng luôn đơn giản.

Lẽ dĩ nhiên, ngôn ngữ hữu thể luận là điều phải có, vì nó diễn tả mầu nhiệm cách chính xác và sâu xa; nhưng để được lắng nghe và được hiểu, thay vì lý luận cao siêu, tốt hơn nên trình bày sứ điệp Tin Mừng một cách “thẩm mỹ” để nó tỏa chiếu sức hấp dẫn lôi cuốn người khác.

Đối với Đức Thánh Cha Phanxicô, đức tin bước vào Hội Thánh qua trái tim người nghèo, chứ không qua đầu óc người trí thức. “Có lẽ ta đã giản lược cách nói năng của ta về mầu nhiệm vào các giải thích duy lý, nhưng đối với người tầm thường, mầu nhiệm bước vào họ qua ngả trái tim.” Theo Đức Thánh Cha, vai trò truyền giáo của Hội Thánh không phải để thắng một luận điểm mà là để cung hiến một điều gì đẹp đẽ. Ngài nói: “Chỉ có vẻ đẹp của Thiên Chúa mới lôi cuốn người ta. Phương thức của Thiên Chúa là phương thức lôi kéo, quyến rũ … Thiên Chúa làm sống lại trong ta ước muốn mời gọi người lân cận, ngõ hầu làm họ nhận ra vẻ đẹp của Ngài. Truyền giáo đã phát sinh từ chính sự quyến rũ thần linh đó, một quyến rũ phát sinh từ gặp gỡ” (Diễn văn của ĐTC Phanxicô nói với các giám mục Brazil ngày 28-7-2013).

Khi truyền đạt chân lý Tin Mừng, “phải có một ý tưởng, một tâm tình, một hình ảnh” (NVTM 157). Các chân lý đức tin cần được diễn giải cách sống động để nói lên ý nghĩa hiện sinh, tức là làm sao cho người nghe cảm thấy gần gũi và liên hệ thiết thực đối với cuộc sống của chính mình. Cần tìm ra nhiều hình ảnh, các ví dụ và áp dụng cụ thể, ngay trong thiên nhiên và đời thường, để người nghe cảm thấy “thú vị”. Một câu chuyện thích thú là câu chuyện người ta cảm thấy gần gũi với cuộc sống của mình.

3) Người nghe chuyện

Người kể chuyện đức tin cố gắng làm hết sức để thông truyền sứ điệp Tin Mừng, còn kết quả thế nào thì hoàn toàn là việc của Chúa Thánh Thần và của người nghe. Khi loan báo Tin Mừng cho người chưa biết Chúa, ta mong ước họ đón nhận Chúa Giêsu vào cuộc đời, nhưng chuyện kể Giêsu có chạm đến trái tim người nghe hay không, đó là huyền nhiệm của ân sủng và tự do. Người kể chuyện chỉ biết cầu nguyện, đồng hành và sống đời chứng nhân.

Tuy nhiên, nếu giáo lý viên biết cách kể chuyện đức tin như đã nói trên -một đức tin “khách quan” đã trở thành kinh nghiệm sống của mình, họ sẽ có thể đánh thức những kinh nghiệm tương tự nơi người nghe. Khi kể chuyện đức tin như một chứng nhân sống động đáng tin, các tín điều cũng như các nguyên tắc luân lý đã được nhập thể vào trong đời sống của bản thân. Đó là những kinh nghiệm sống của một cuộc đời hạnh phúc nay được chia sẻ cho tha nhân. Tín điều và luân lý không còn là những chân lý khô khan trừu tượng, cũng không là một hệ thống giáo điều mang tính áp đặt, bởi vì chúng tạo nên ý nghĩa của cuộc đời tôi, làm nên giá trị của đời tôi, xác định hướng đi và chọn lựa của cuộc sống tôi. “Tôi biết tôi tin vào ai”. Tôi biết tại sao tôi tin tôi giữ, điều tôi tin tôi giữ ảnh hưởng thế nào trên cuộc đời của tôi. Qua việc kể chuyện đức tin, tôi cho thấy chúng đã thành hình và ảnh hưởng trên nhân cách, trên lối sống cá nhân và gia đình tôi thế nào.

Một chuyện kể như thế có sức tác động để người nghe liên kết những kinh nghiệm của tôi vào cuộc đời họ. Câu chuyện của người kể đan kết với câu chuyện của người nghe làm nảy sinh những câu chuyện mới. Do đó người biết lắng nghe cũng sẽ là người kể chuyện hay. Một khi đã đón nhận câu chuyện Giêsu, mỗi tín hữu cũng sẽ trở thành người kể chuyện Giêsu cho người khác, mỗi học viên giáo lý đều là nhà truyền giáo, mỗi tân tòng đều có nhiệt tình hứng khởi và khả năng kể chuyện Giêsu của đời mình cho người khác.

Mục tiêu của việc dạy giáo lý theo định hướng truyền giáo là như thế. Đó là điều đáng ao ước, xem ra quá lý tưởng và đầy cao vọng, nhưng Phúc Âm cho thấy điều ấy không hề là ảo tưởng, mà là điều phải đạt được trong hoạt động loan báo Tin Mừng. Cũng như Anrê đã kể chuyện Giêsu cho Phêrô, Philipphê kể cho Nathanael, chị phụ nữ Samaria kể chuyện gặp gỡ Đức Giêsu cho mọi người trong thành…, các môn đệ của Đức Giêsu hôm nay cũng phải có khả năng kể chuyện đức tin như thế. Một người được Phúc-Âm-hóa thực sự cũng sẽ là người có khả năng Phúc-Âm-hóa. Mỗi Kitô hữu phải là một “môn đệ thừa sai”.

(*Bài thuyết trình tại Đại hội Loan Báo Tin Mừng lần III)

ĐGM Giuse Nguyễn Năng

TGPSG

Những bước chuyển mình của Hội Thánh trên đường loan báo Tin Mừng: Từ Ad Gentes đến Evangelii Gaudium (tóm tắt)

Image result for ĐGM Cosma Hoàng Văn Đạt

Nhằm kỉ niệm năm mươi năm sắc lệnh Ad Gentes (đến với muôn dân) ra đời, chúng ta cùng nhau nhìn lại sự chuyển mình của Hội Thánh trên đường Loan báo Tin Mừng: từ văn kiện Ad Gentes (AG) đến văn kiện Evangelii Gaudium (EG)*.

Văn kiện AG của Công Đồng Vaticano II khẳng định “bản chất của Giáo Hội là truyền giáo” (AG, Số 2).

Thượng Hội Đồng Giám mục họp năm 2012 tái khẳng định: tân phúc âm hoá là một lời kêu gọi được gửi tới mọi người và nhằm tới ba đối tượng chính:

1. Thứ nhất là người sống đạo khô khan

2. Thứ hai là người không sống đạo

3. Thứ ba là người chưa biết Chúa.

Với tông huấn EG, Đức Phanxicô mời gọi các tín hữu truyền giáo với hình thức “mới mà không mới”: đó là loan báo Tin mừng bằng sức hút: “Thay vì tỏ ra muốn áp đặt những bó buộc mới, người Kitô hữu phải tỏ ra như là những người muốn chia sẻ niềm vui của mình, chỉ ra một chân trời của cái đẹp, và mời gọi mọi người khác tới dự một bữa tiệc ngon. Hội Thánh phát triển không phải bằng việc chiêu dụ, nhưng “bằng sức thu hút” (EG, số 14).

A. Ad Gentes: Truyền giáo là bản chất của Giáo Hội

1. Chủ đích của việc rao giảng Tin Mừng

Chủ đích của việc rao giảng Tin Mừng là loan báo về “Đấng được Chúa Cha thánh hóa và sai xuống trần gian” (x. Ga 19,36).

Đồng thời, chủ đích của hoạt động truyền giáo cũng là việc gầy dựng cộng đoàn nơi các dân tộc hay những cộng đồng chưa có sự hiện diện của Giáo Hội (AG, số 6).

2. Ai là người LBTM ?

Loan báo Tin Mừng không phải là của riêng ai mà “toàn thể Giáo Hội đều phải truyền giáo và công cuộc Phúc Âm hóa là nhiệm vụ căn bản của đoàn Dân Chúa” (AG, số 35).

3. Tại sao phải LBTM khi Công đồng Vaticanô II khẳng định những người ở ngoài Giáo hội cũng có thể được cứu độ?

Thật vậy, những ai không vì lỗi của mình mà chưa biết đến Tin Mừng của Đức Kitô và Giáo Hội Người, nhưng lại thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa, và dưới tác động của ơn thánh, họ cố gắng hành động để chu toàn thánh ý Thiên Chúa được biểu lộ qua mệnh lệnh của lương tâm, thì vẫn có thể đạt được ơn cứu độ vĩnh cửu. Cả những người không vì lỗi của mình mà chưa nhận biết Thiên Chúa cách rõ ràng, nhưng cố gắng sống đời chính trực, dĩ nhiên là với ơn Chúa, thì Chúa Quan Phòng cũng không từ chối ban ơn trợ lực cần thiết để họ được cứu độ (LG, số 16).

Dù những người chưa biết Chúa cũng có thể được ơn cứu độ, chúng ta vẫn vui sướng được LBTM cho mọi người. Được biết Đức Giêsu một cách rõ ràng là hạnh phúc lớn. Chúng ta không muốn giữ hạnh phúc đó cho riêng mình. Hơn nữa, niềm tin minh nhiên vào Đức Giêsu làm cho con người được gắn bó chặt chẽ với Đấng Cứu độ do Thiên Chúa sai đến, nhờ đó họ có thể được ơn cứu độ một cách “vững chắc” hơn.

B. Đức Phaolô VI: Tông huấn Evangelii Nuntiandi

Tông huấn ra đời trong bối cảnh kết thúc năm thánh, kỉ niệm mười năm bế mạc Công Đồng Vatican II và vấn đề Phúc âm hóa của Thượng hội Đống Giám Mục năm 1974. Qua tông huấn này, Đức Phaolô IV muốn khuyến khích các Ki-tô hữu thêm lòng yêu mến, nhiệt thành và hân hoan chu toàn sứ mệnh loan báo Tin Mừng.

1. Sứ giả Tin Mừng, những chứng nhân chân thực

Thời nay, người ta thường hay lặp đi lặp lại rằng thế kỷ này thèm khát sự chân thực. Nhất là đối với giới trẻ, người ta nói rằng họ ghê tởm sự giả trá, ngụy tạo và trên hết mọi sự họ tìm kiếm sự thật, sự trong suốt (EN, số 76).

Người ta vẫn luôn luôn đặt câu hỏi cách âm thầm hay lớn tiếng: “Anh có thực sự tin điều anh loan truyền không? Anh có sống đều anh tin không? Anh có thực sự rao giảng điều anh sống không? Lòng nhiệt thành truyền giáo của chúng ta phải được xuất phát từ sự thánh thiện thật sự của một cuôc sống được nuôi dưỡng bằng cầu nguyện, và nhất là bằng lòng yêu mến đối với phép Thánh Thể. Hơn nữa, như Công Đồng đã nêu rõ việc rao giảng cũng phải làm cho người rao giảng lớn lên trong đường thánh thiện (EN, số 76).

2. Sứ giả Tin Mừng, người xây dựng hiệp nhất

Sức mạnh của việc rao giảng Tin Mừng sẽ giảm sút nhiều nếu những người loan truyền chia rẽ nhau bằng mọi rạn nứt. (EN, số 77). Số phận của việc rao giảng Tin Mừng liên kết chặt chẽ với chứng tá hiệp nhất của Giáo Hội.

3. Sứ giả Tin Mừng, người phục vụ của chân lý

Tin Mừng mà chúng ta có trọng trách rao giảng cũng là lời chân lý. Chân lý đem lại tự do (Ga 8,32) và bình an tâm hồn, đó chính là những điều người ta tìm kiếm khi đến nghe chúng ta rao giảng Tin Mừng. Chân lý về Thiên Chúa, chân lý về con người và số phận huyền nhiệm của con người, chân lý về thế gian, đó là những sự thật chúng ta tìm được trong Lời Chúa. Và chúng ta không phải là chủ sở hữu nhưng chỉ là người quản lý, người phát ngôn và đầy tớ phục vụ chân lý đó (EN, số 78).

4. Trở thành dấu chỉ của tình yêu: xây dựng nền văn minh tình thương

Tình yêu này là gì? Hơn cả tình cảm của môt nhà giáo, đó là tình yêu của một người cha một người mẹ. Một dấu chỉ của tình yêu này chính là biết lo lắng ban phát chân lý và dẫn tới hiệp nhất. Một dấu chỉ khác đó là tận hiến hoàn toàn cho việc loan báo Đức Kitô (EN, số 79).

Trước hết là tôn trọng tình trạng tôn giáo và tinh thần của những người mà ta rao giảng. Tôn trọng tiết điệu của họ mà ta không có quyền cưỡng ép. Tôn trọng lương tâm và xác tín của họ để không cưỡng bách họ.

Một dấu chỉ khác của tình yêu này là biết lo lắng không làm tổn thương người khác, nhất là những người còn yếu đức tin (x, 1Cr 8,9-13; Rm 14,15) bằng những lời nói tuy có thể rõ ràng đối với những người thông thạo, nhưng đối với các tín hữu thì đó có thể là nguồn bối rối và vấp phạm như một vết thương lòng.

Trước tiên Tin Mừng phải được công bố bằng chứng tá. Chẳng hạn giữa cộng đoàn nhân loại mà họ đang sống, một Kitô hữu hay một nhóm Kitô hữu, biểu lộ khả năng cảm thông và đón nhận, chia sẻ đời sống và số phận với những người khác, tỏ tình liên đới trong những nỗ lực chung nhằm đạt được những gì là cao qúy và tốt đẹp nhất.

C. Đức Gioan Phaolô II: Giáo Hoàng của những chuyến công du

Đức Phaolô VI đã ra khỏi nước Ý, và Đức Gioan Phaolô II là người mang lại ý nghĩa cho việc ra khỏi nước Ý. ĐGH Gioan-Phaolô II đã “chạm” đến cuộc đời xa hơn biên giới của Giáo Hội. Lúc sinh thời, ĐGH Gioan-Phaolô II đã được coi là vị thánh sống, hiện thân của lòng nhân hậu. Người ta gọi Ngài là “Giáo hoàng của mọi thời đại”.

Lý do căn bản của việc truyền giáo là sự mạc khải cuối cùng mà Thiên Chúa đã mạc khải về chính mình trong Đức Giêsu Kitô, vì thế tự bản tính, Giáo Hội có tính cách thừa sai. Giáo Hội không thể không loan báo Tin Mừng, tức chân lý toàn vẹn mà Thiên Chúa đã tỏ bày (RM, số 5)

D. Từ Ad Gentes đến THĐGMTG và Liên HĐGM Á Châu

1. Sứ giả Tin Mừng, người xây dựng hiệp nhất

 Chúng ta chân thành cảm thấy bổn phận hoán cải bản thân trước tiên theo sức mạnh của Chúa Kitô, Đấng duy nhất có khả năng canh tân mọi sự, nhất là cuộc sống nghèo nàn của chúng ta.

2.  Sứ giả Tin Mừng, bạn được sai đến đâu?

Đến với một thế giới đầy thách đố, nhưng đồng thời có nhiều cơ hội .

3. Sứ giả Tin Mừng, bạn được sai đến với ai?

a.    Kề cận với những ai đang khát khao ý nghĩa trọn vẹn cho cuộc sống.

b.   Đến với những người đã rời xa đức tin.

4. Sứ giả Tin Mừng, bạn thi hành sứ vụ như thế nào?

a.    Đối thoại

Công cuộc Tân Phúc âm hóa kêu gọi lấy tinh thần đối thoại thúc đẩy cuộc sống hằng ngày và chọn tương quan hòa hợp chứ không đối đầu.

b.    Hiện diện khiêm hạ

Chứng từ lặng lẽ nhưng hùng hồn của đời sống Kitô hữu đích thực đòi phải biết hiện diện trong khiêm hạ, biết sống đối thoại, trong đó bao gồm cuộc sống cầu nguyện và “chiêm niệm”. Sự hiện diện khiêm hạ phải được thể hiện bằng nếp sống giản dị và liên kết với người nghèo.

5. Vai trò ngôn sứ

Ngôn sứ có nhiệm vụ bảo vệ phẩm giá làm người của tất cả mọi người, nhất là của phụ nữ, trẻ em và những người không có đủ điều kiện sống cho ra con người. Qua việc tố cáo bất công, những sứ giả mới của Tin Mừng loan báo tình yêu của Thiên Chúa, ưu tiên dành cho người nghèo.

Liên đới với những nạn nhân: Chúa Giêsu đứng về phía nạn nhân của các thảm họa và bất công. Người liên đới với những ai bị xã hội loại bỏ. Liên đới và xót thương những nạn nhân và bị gạt ra ngoài lề xã hội phải trở thành chiều kích chính yếu của linh đạo Tân Phúc âm hóa.

E. Evangelii Gaudium

Sau năm mươi năm Công Đồng Vatican II, Đức Giáo Hoàng Phanxicô cho ra tông huấn Niềm Vui của Tin Mừng. Tông huấn này vừa như phác họa lại những bước đường cơ bản Giáo Hội đã đi, nhưng đồng thời cũng đưa ra những gợi ý cụ thể cho công cuộc loan báo Tin Mừng của Giáo Hội đầu thế kỷ 21. Cụ thể Giáo Hội phải được gây dựng được những cộng đoàn tràn đầy niềm vui và niềm vui ấy sẽ lan tỏa ra đến tận các vùng ngoại biên, qua việc gặp gỡ văn hóa và chiếu tỏa lòng thương xót.

1.  Gây dựng cộng đoàn rao giảng Tin Mừng

Một cộng đoàn loan báo Tin Mừng dấn mình vào đời sống hằng ngày của dân chúng bằng lời nói và hành động; cộng đoàn ấy vượt qua các khoảng cách, sẵn sàng hạ mình khi cần, và ôm ấp đời sống con người, chạm vào thân thể đau khổ của Đức Kitô nơi người khác.

Một cộng đoàn loan báo Tin Mừng cũng nâng đỡ, đồng hành với dân chúng ở mỗi bước đi trên đường, bất kể con đường này có thể dài hay khó đi bao nhiêu. Cộng đoàn này cũng quen với việc kiên nhẫn chờ đợi và sự chịu đựng tông đồ. Một cộng đoàn loan báo Tin Mừng luôn luôn để tâm tới kết quả, vì Chúa muốn nó sinh hoa kết quả. Nó chăm sóc hạt giống và không mất kiên nhẫn với cỏ dại.

Sau cùng, một cộng đoàn loan báo Tin Mừng thì chan chứa niềm vui.

2. Gầy dựng giáo xứ hướng về truyền giáo

Giáo xứ có tính linh động cao, có thể tiếp thu những tình huống khá khác biệt tùy theo sự cởi mở và óc sáng tạo truyền giáo của người mục tử và của cộng đoàn. Giáo xứ là một cộng đoàn của các cộng đoàn, một thánh điện để những người khát nước đến uống dọc đường, và một trung tâm thường xuyên vươn ra truyền giáo.

3. Lòng đạo đức bình dân

Trong nhiều điểm nhấn của Niềm Vui Tin Mừng, Đức Phanxicô đã không quên nhắc lại tầm quan trọng của lòng đạo đức bình dân trong công cuộc loan báo Tin Mừng. Ngài nói: “Tầm quan trọng của lòng đạo đức bình dân: một cách diễn tả đích thực về hoạt động truyền giáo tự phát của Dân Chúa” (EG, số 122).

4. Trong Thánh Thần của Đức Chúa Phục Sinh

a.    Đức Kitô Phục Sinh là nguồn gốc sâu xa của mọi niềm hy vọng. Nếu chúng ta nghĩ rằng không cái gì thay đổi được, chúng ta phải nhớ rằng Đức Giêsu Kitô đã chiến thắng tội lỗi và sự chết và bây giờ là Đấng toàn năng. Đức Giêsu Kitô đang sống thực sự. Đức Kitô sống lại và được tôn vinh là nguồn suối hy vọng của chúng ta, và Ngài sẽ không từ chối giúp đỡ chúng ta trong việc thực thi sứ mạng Ngài đã ủy thác cho chúng ta.

b.    Sức sống của Đấng Phục Sinh đã thấm nhập vào thế giới. Sự sống lại của Đức Kitô không phải là một biến cố của quá khứ; nó chứa đựng một sức mạnh cốt thiết đã thấm nhuần thế giới này. Ở đâu mà tất cả có vẻ như đã chết, ở đó các dấu hiệu phục sinh đột nhiên xuất hiện. Đó là một sức mạnh không thể cưỡng lại được. Bất kể hoàn cảnh đen tối đến đâu, sự thiện luôn luôn xuất hiện trở lại và lan tỏa. Mỗi ngày trong thế giới của chúng ta, cái đẹp luôn luôn tái sinh, nó lớn lên xuyên qua những bão tố của lịch sử. Các giá trị luôn luôn có khuynh hướng xuất hiện trở lại dưới những dạng mới, và loài người cũng đã tái sinh hết lần này qua lần khác từ những tình huống xem như là đã tận số. Sức mạnh của sự sống lại là như thế, và tất cả những người loan báo Tin Mừng là những công cụ của sức mạnh ấy.

Kết luận

Giáo Hội Việt Nam sau hơn 400 năm truyền giáo nhưng tỉ lệ vẫn chưa tới 10% dân số. Năm mươi năm qua với biết bao thay đổi trong phương pháp truyền giáo, với ánh sáng của Vatican II, với các thông điệp về truyền giáo nhưng tỉ lệ người Công Giáo không tăng hoặc có tăng thì không đáng kể; có những nơi dậm chân tại chỗ, có những nơi suy giảm. Chúng ta cũng cần nhìn lại sau năm mươi năm khởi đầu truyền giáo: từ số không lên khoảng 150 ngàn. Đây là con số cho chúng ta suy nghĩ.

Chúng ta cần so sánh với với các tông đồ thời Hội Thánh sơ khai; so sánh với cha Đắc Lộ, những thừa sai, thầy giảng và giáo dân đầu thế kỳ 17.

Khi đưa ra những nhận định và những gợi ý trên nhằm để chúng ta đặt ra câu hỏi là chúng ta phải làm gì? Xin hãy không đỗ lỗi cho hoàn cảnh: Múa vụng chê đất lệch! Chúng ta hãy cùng xét mình với kinh tôi thú nhận: lỗi tại tôi mọi đàng!

Nhìn lại công cuộc truyền giáo từ Hội Thánh sơ khai cho đến hôm nay chúng ta dễ dàng nhận ra rằng khó khăn xuất hiện ở mọi thời đại. Nhưng trong bối cảnh hiện nay, chúng ta có thể nhận thấy rõ ràng là hoàn cảnh thuận lợi hơn, nhiều phương tiện truyền giáo hơn. Nhưng chúng ta cũng có thể thấy rằng chúng ta đang sống chủ nghĩa “túm tụm”: Giáo Hội mình tốt rồi, giáo xứ mình mạnh rồi, gia đình mình thánh thiện rồi nên phải bảo vệ cái tốt, cái mạnh và cái thánh thiện đó bằng việc co cụm lại!

Đề nghị

Năm tới, Giáo Hội sống năm Phúc Âm hóa xã hội, nhưng trước tiên cần Tân Phúc Âm hóa nội bộ để Phúc Âm hóa xã hội. Thay vì những gợi ý, xin đưa ra vài đề nghị:

1. Tập trung vào Tin Mừng về con người và xã hội;

2. Tôn kính tổ tiên;

3. Hoạt động bác ái;

4. Sân chư dân;

5. Gặp gỡ và đối thoại

6. Hướng về Trời mới đất mới (Kh 21,1)

Mỗi người chúng ta có thể có những góp ý cụ thể nữa.

———-

* Bài viết cho Đại hội Loan Báo Tin Mừng lần III năm 2015

ĐGM Cosma Hoàng Văn Đạt

Canh tân hoạt động loan báo Tin Mừng tại Việt Nam ngày nay

Image result for ĐGM Anphongsô Nguyễn Hữu Long

Trong bài này, diễn giả trình bày hai phần:

1. Xem quá khứ và xét hiện tại đểđiểm lại những gì đã làm được hay chưa làm được trong sứ vụ Loan Báo Tin Mừng (LBTM) tại Việt Nam 50 năm qua, kể từ Ad Gentes.

2. Phải làm gì trong tương lai để công cuộc LBTM có kết quả, dựa trên Evangelii Gaudium.

***

1.1 Cha Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, nhân kỷ niệm 50 năm thiết lập hàng Giáo phẩm tại Việt Nam (1960-2010), đã viết bài “Nhìn lại sứ mạng truyền giáo trong 50 năm qua”, trong đó ngài cho rằng hiệu quả truyền giáo tại Việt Nam chưa cao. Nếu căn cứ vào các thống kê thường niên của HĐGMVN, con số tín hữu công giáo tại Việt Nam không gia tăng mà lại có chiều hướng thụt lùi:

– Năm 1960, số giáo hữu tại Việt Nam là 2.000.000 / 30.000.000 người, tỷ lệ 6,93%.

– Năm 2000, số giáo dân là 5.200.000 / 77.000.000 người, tỷ lệ 6,70% .

– Năm 2008, con số này là 6.100.000 / 86.100.000 người, tỷ lệ 7,18%.

– Năm 2014, tổng số giáo dân là 6.606.495 / 95.247.775 người, tỷ lệ 6,93%

Kết quả là sau 55 năm (1960-2015), tỷ lệ dân số công giáo tại Việt Nam bằng nhau: 6,93% !

Số tín hữu gia nhập đạo, tức chịu phép Rửa tội, cho thấy thường do hai cách: hoặc sinh ra từ gia đình công giáo; hoặc do kết hôn với người có đạo (chiếm 80-90% trong số người lớn theo đạo). Như thế thì phải nói rằng việc loan báo Tin Mừng tại Việt Nam sau 50 năm không có kết quả là bao, nếu dựa vào các con số thống kê.

1.2 Số người theo đạo không tương xứng với số nhân sự lo việc truyền giáo. Năm 2014, số linh mục cả nước là 4.635 (3.546 linh mục giáo phận và 1.089 linh mục dòng); số chủng sinh là 2.357, số tiền chủng sinh là 2.389; số tu sĩ là 19.717 (2.834 nam tu, 16.883 nữ tu); số giáo lý viên cả nước là 59.448 người. Tổng số các nhân sự gắn liền với việc truyền giáo là 88.546 người. Số người tân tòng gia nhập đạo năm 2014 là 41.395 người. So sánh hai con số 88.546 và 41.395, ta thấy cứ hai tín hữu ưu tuyển chưa đem được một người vào đạo. Đó là chưa nói đến con số rất lớn các hội viên hội đoàn công giáo tiến hành trong cả nước.

1.3 Trước 1975, miền Nam được thuận lợi để truyền giáo trong mọi lãnh vực như tôn giáo, giáo dục, y tế, bác ái xã hội, huấn nghệ, truyền thông đại chúng… GH được tự do truyền giáo, mở trường học các cấp, điều hành nhà thương, cô nhi viện, dưỡng đường, trường huấn nghệ. Về truyền thông, GH có nhà xuất bản, báo chí, đài truyền hình, đài phát thanh. Về truyền giáo, có Hội Thừa Sai Việt Nam. Các dòng ngoại quốc và dòng bản quốc được tự do phát triển. Trong khi đó, Giáo Hội tại miền Bắc bị bó tay hoàn toàn do những khó khăn xã hội. Nguyên việc lo cho người có đạo đã khó, nói gì đến việc truyền giáo. Nhiều giáo phận bị kiệt quệ về nhân sự do cuộc di cư năm 1954, và tiếp đó là khó khăn về vật lực.

1.4 Biến cố tháng 4.1975 làm cho toàn Giáo Hội Việt Nam lâm vào tình trạng khó khăn về tôn giáo. Giáo Hội mất hết mọi phương tiện để truyền giáo. Từ thập niên 1990 trở đi thì bắt đầu dễ dàng hơn nhờ sự cởi mở về tôn giáo. Các chủng viện, tu viện được chiêu sinh, việc phong chức linh mục và bổ nhiệm dần dần thuận lợi, việc xây dựng hay sửa chữa các cơ sở tôn giáo cũng dễ dàng hơn, các buổi lễ tôn giáo được tổ chức ở mọi cấp từ giáo xứ, giáo phận và toàn quốc. Các cuộc hành hương lên đến cả trăm ngàn người tại La Vang, Tà Pao, Sở Kiện, các đại lễ tại các giáo phận, giáo xứ được tổ chức hoành tráng, rầm rộ… Bước vào thiên niên kỷ thứ III, nhờ tiến bộ về khoa học kỹ thuật, những phương tiện truyền thông như internet, điện thoại di động, truyền hình cáp, website… lan rộng đến mọi nơi mọi người. Các giáo phận, hội dòng, hội đoàn và cá nhân đã vận dụng những tiến bộ này để đưa Tin Mừng đến với mọi người. Hiện nay, tuy tại một số địa phương vẫn còn những hạn chế và khó khăn về tôn giáo, nhưng phải nhìn nhận rằng GH có trong tay mọi phương thế để thực hiện công cuộc loan báo Tin Mừng, thế nhưng số người tin theo đạo vẫn không gia tăng! Nguyên nhân tại đâu ?

1.5 Trước hết do GHVN chưa có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về công cuộc loan báo Tin Mừng. Muốn nhận thức đúng thì cần phải biết quan điểm, đường lối và hoạt động của GH về vấn đề truyền giáo. Năm mươi năm qua, GH đã ban hành nhiều văn kiện quan trọng liên quan đến sứ vụ truyền giáo… Nhưng đa số tín hữu Việt Nam, kể cả các linh mục, tu sĩ, không được học hỏi thấu đáo, thì không thể có nhận thức đầy đủ và đúng đắn về việc loan báo Tin Mừng.

1.6 Nguyên nhân thứ hai, giáo dân Việt Nam giữ đạo rất tốt cho mình, nhưng lại thiếu nhiệt huyết thông truyền niềm tin ấy cho người khác, họ nghĩ việc truyền giáo là của ai khác, phần mình chỉ lo cho mình được rỗi. Chính sự thiếu nhiệt huyết này làm cho công cuộc loan báo Tin Mừng tại Việt Nam bị trì trệ, không có kết quả. Nhìn vào anh em Tin Lành tại Việt Nam, chúng ta thấy họ rất nhiệt tình truyền bá đạo. Trong những hoàn cảnh khó khăn nhất, họ vẫn mạnh dạn và hăng say đem Tin Mừng giới thiệu cho mọi người, nhất là cho anh em dân tộc. Số tín đồ Tin Lành ngày càng cao. Tin Lành được truyền vào nước ta năm 1911, tức sau đạo công giáo 300 năm. Đến nay, chỉ sau 100 năm, Hội Thánh Tin Lành tại Việt Nam đã có khoảng 2.200.000 tín đồ, bằng 1/3 số giáo dân công giáo. Chúng ta cũng có thể nhìn vào Giáo hội Hàn Quốc. Giáo Hội này có nhiều điểm tương đồng với GHVN: cùng ở châu Á, cùng chịu ảnh hưởng Khổng Lão Phật, cùng chịu bách hại, cùng có nhiều chứng nhân đức tin… Vào khoảng thập niên 1960, tỷ lệ giáo dân tại Hàn quốc kém Việt Nam, nhưng sau đó đã gia tăng gấp đôi, và hiện nay đã đạt trên 11%. Giáo Hội Hàn quốc còn đề ra chiến dịch truyền giáo 20-20, nghĩa là họ kỳ vọng vào năm 2020, tỷ lệ giáo dân sẽ đạt 20%.

1.7 Nguyên nhân thứ ba, đó là vì thiếu nền tảng Kitô học vững chắc. Ðể có thể rao giảng Chúa Kitô cho dân tộc Việt Nam vốn nặng về Tam giáo, cần vững vàng về học thuyết Kitô giáo. Học thuyết này sẽ giúp người tín hữu thống nhất về mặt tư tưởng cũng như hành động với Ðức Giêsu và giới thiệu Ngài cho người khác, giải đáp thỏa đáng các vấn đề về Ðức Kitô trong tinh thần đại kết và đối thoại liên tôn. Trong nỗ lực đó, một vài giáo phận như Xuân Lộc đã tổ chức hội thảo “Kể chuyện Chúa Giêsu”. Không thể rao giảng Chúa Kitô nếu không biết Ngài. Ta biết Ngài qua Kinh Thánh, như lời thánh Hiêrônimô: “Không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Kitô”, biết Ngài qua giáo lý của Hội Thánh. Nhưng phải nhìn nhận rằng kiến thức về Kinh Thánh, về giáo lý nơi đa số giáo dân Việt Nam ngày nay vẫn ở mức rất thấp, rất hạn hẹp.

1.8 Đời sống đạo của người tín hữu chưa đi đôi với niềm tin. Thiếu căn bản về giáo lý, kiến thức sơ sài về đạo làm cho đạo và đời không ăn nhập với nhau trong cuộc sống. Ðời sống đạo thể hiện nơi các nghi lễ, các hoạt động bên ngoài, hơn là vào niềm xác tín và cảm nghiệm bên trong. Ngày xưa Chúa đã dùng ngôn sứ Ysaia để khiển trách dân Israel thờ kính Chúa ngoài môi miệng còn lòng trí thì xa Chúa (cf Ys 29,13). Phải chăng chúng ta quá chú trọng đến hình thức bên ngoài, tổ chức các đại hội, lễ lạc, hành hương một cách hoành tráng, tốn phí, phô trương…, mà kết quả xét về mặt truyền giáo thì không có gì!

1.9 Những thách đố của thời đại như chủ nghĩa duy vật, hưởng thụ, tương đối gây ảnh hưởng khiến cho nhiều kitô hữu chỉ sống đạo vật vờ, như mặc cái áo. Ở ngoài Bắc, do nhiều năm thiếu vắng bí tích, nhà thờ, linh mục, nhiều giáo dân đã phai nhạt đức tin hoặc mất đức tin. Bây giờ, khi mọi sự có vẻ dễ dàng hơn, đời sống vật chất đỡ hơn, thì lại bị ảnh hưởng của não trạng hưởng thụ, ngại khó, dẫn đến thái độ hờ hững, giữ đạo chiếu lệ. Đức cha Phêrô Nguyễn Khảm trong một bài viết đăng trên báo Hiệp Thông, số 87, nêu lên ba điểm trong cách sống đạo của phái Ngũ Tuần, qua đó kêu gọi cũng phải nỗ lực như vậy nơi người công giáo: Believing (xác tín về niềm tin của mình); Belonging (cảm nhận sự gắn bó trong cộng đoàn); Beheaving (thể hiện niềm tin của mình, không mặc cảm, sợ hãi).

1.10 Gần đây, một vấn nạn thường được đặt ra, đó là có nên truyền giáo không ? Nhiều người chủ trương không nên, vì cho rằng việc chiêu mộ tín đồ cải đạo là xâm phạm tự do của con người.  Tài liệu làm việc (Lineamenta) chuẩn bị cho THĐGM khóa XIII năm 2012, số 35-36 giải đáp vấn nạn này như sau :

“Ngày nay có một sự lầm lẫn ngày càng tăng khiến nhiều người không nghe hoặc không thi hành mệnh lệnh truyền giáo của Chúa (xem Mt 28,19). Người ta thường chủ trương rằng tìm cách thuyết phục người khác theo đạo là giới hạn tự do của họ. Theo quan điểm này, chỉ được phép trình bày ý tưởng của mình và mời gọi người ta hành động theo lương tâm họ mà không nhắm tới việc làm cho họ trở lại với Đức Kitô và đức tin Công Giáo. Có thể nói là chỉ cần giúp người ta trở nên nhân bản hơn hay trung thành hơn với đạo của họ; chỉ cần xây dựng những cộng đồng tìm kiếm công lý, tự do, hoà bình và tình liên đới. Hơn nữa, một số người còn chủ trương rằng không cần phải loan báo Đức Kitô cho những ai không biết Ngài, hoặc không cần phải khuyến khích họ vào Hội Thánh, vì họ vẫn có thể được cứu rỗi mà không cần phải minh nhiên biết Đức Kitô và không cần phải gia nhập Hội Thánh một cách chính thức” (số 35).

Thực ra, loan báo Tin Mừng để mời gọi người khác vào đạo vẫn là điều cần thiết :

“Mặc dù những người không phải là Kitô hữu vẫn có thể được cứu rỗi nhờ ân sủng Thiên Chúa ban cho, bằng những cách chỉ một mình Người biết, song Hội Thánh không thể không biết rằng mỗi con người đều muốn biết khuôn mặt thật của Thiên Chúa và vui hưởng hôm nay tình bạn của Đức Giêsu Kitô, Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta. Việc gắn bó với Đức Kitô, Đấng là Sự Thật, và trở nên thành viên của Hội Thánh Người không làm giảm tự do con người, nhưng đúng hơn nó gia tăng tự do và dẫn đưa tự do tới chỗ hoàn thiện nhờ một tình yêu xả kỷ và sự chăm lo cho hạnh phúc của mọi người. Quả là một món quà vô giá khi được sống trong vòng tay yêu thương của tất cả các bạn hữu của Thiên Chúa, nhờ được hiệp thông với thịt và máu ban sự sống của Con Thiên Chúa; và quả là vô giá khi đón nhận từ Người sự chắc chắn rằng tội lỗi của chúng ta được tha, và được sống trong tình yêu phát sinh từ đức tin! Hội Thánh muốn mọi người được dự phần vào sự giàu có ấy, để họ có thể đạt được chân lý sung mãn và các phương thế cứu độ, để “được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang” (Rm 8,21). Khi loan báo và thông truyền đức tin, Hội Thánh bắt chước chính Thiên Chúa, Đấng tự thông ban chính mình cho nhân loại bằng việc ban Con của Người là Đấng đổ tràn Thánh Thần để mọi người có thể được tái sinh làm con cái Thiên Chúa”  (số 36)

Sắc lệnh Ad Gentes số 7 cũng quả quyết: “Dù Thiên Chúa có thể dùng những đường lối Ngài biết để đưa những kẻ không vì lỗi mình mà chưa biết Phúc Âm đến với đức tin, vì không có đức tin thì không thể làm vui lòng Ngài, nhưng Giáo Hội có bổn phận vàđồng thời có thánh quyền rao giảng Phúc Âm; do đó, ngày nay và luôn mãi, hoạt động truyền giáo vẫn còn giữ trọn vẹn hiệu lực và cần thiết”.

ĐTC Phaolô VI khẳng định vị trí ưu tiên của việc rao giảng Tin Mừng và nhắc nhở các tín hữu: “Sẽ rất ích lợi nếu mỗi Kitô hữu và mỗi người rao giảng Tin Mừng cầu nguyện theo ý tưởng này: người ta cũng có thể được cứu rỗi bằng những cách thức khác, cho dù chúng ta không rao giảng Tin Mừng cho họ; nhưng đối với chúng ta, liệu chúng ta có thể được cứu rỗi hay không nếu vì sự trễ nải, sợ hãi hay hổ thẹn – điều mà Thánh Phaolô gọi là ‘xấu hổ vì Tin Mừng’ – hay vì những tư tưởng sai lạc mà chúng ta không rao giảng Tin Mừng?” (Tông huấn Evangelii Nuntiandi)

2. Còn nhiều điều cần phân tích thêm, nhưng ta hãy tạm bằng lòng với bấy nhiêu cái được và chưa được. Tâm tình của chúng ta khi nhìn về những điều đã làm được trong quá khứ là tạ ơn Chúa; về những điều chưa làm được là xin ơn hoán cải mục vụ để đẩy mạnh hơn sự canh tân sứ vụ loan báo Tin Mừng như ĐTC Phanxicô kêu gọi trong tông huấn EG số 25-33. Hướng về tương lai, ta thử rảo qua những điều cần phải làm, những lãnh vực phải lưu tâm, để canh tân công cuộc loan báo Tin Mừng cho hợp với thời đại hiện nay tại Việt Nam.

2.1 Trước hết, về phương diện cá nhân, sứ vụ loan báo Tin Mừng chỉ có hiệu quả nếu mỗi người kitô hữu có được mối tương quan cá nhân với Chúa Kitô, nói như thánh Phaolô: “Tôi biết tôi đã tin vào Đấng nào” (2Tm 1,12). Chính sự xác tín vào Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ sẽ thúc đẩy người ấy mạnh dạn sống và loan báo Ngài cho người khác, như hai tông đồ Phêrô và Gioan đã mạnh dạn nói trước Thượng hội đồng khi bị cấm rao giảng về Đức Giêsu: “Những gì tai đã nghe, mắt đã thấy, chúng tôi không thể không nói ra” (Cv 4,20). Đức thánh cha Phanxicô viết trong tông huấn Niềm vui của Tin Mừng: “Tôi kêu mời mọi kitô hữu ở khắp nơi, ngay từ lúc này, đi vào một cuộc gặp gỡ cá vị và mới mẻ với Đức Giêsu Kitô” (EG số 3). Tài liệu làm việc của THĐGM khóa XIII cũng viết: “…việc tái khám phá tâm điểm của việc tân phúc âm hoá, đó là, sự trải nghiệm đức tin Kitô giáo: gặp gỡ với Đức Kitô, Tin Mừng của Thiên Chúa Cha cho nhân loại, là Tin Mừng biến đổi chúng ta, tập hợp chúng ta lại và dẫn đưa chúng ta, nhờ hồng ân Chúa Thánh Thần, tới một sự sống mới mà chúng ta bây giờ đã trải nghiệm rồi, ngay trong việc chúng ta cảm nhận mình được qui tụ thành Hội Thánh. Đồng thời, sự sống này là nguyên nhân của niềm vui thúc đẩy chúng ta làm những chứng nhân và người hân hoan loan tin về hồng ân đã nhận, đi khắp các nẻo đường trên thế giới, trong khi ngóng đợi sự hoàn thành Nước Thiên Chúa” (số 17).

2.2 Để có mối liên hệ mật thiết với Đức Giêsu Kitô, thì sự học hỏi Tin Mừng, giáo lý và huấn quyền của Giáo Hội, là những điều cần thiết cho công cuộc loan báo Tin Mừng. Đã đến lúc GHVN phải quan tâm đào sâu sự hiểu biết này, chứ không thể để tình trạng dốt nát hiểu biết về Chúa tồn tại. Với những phương tiện và khả năng hiện có trong tầm tay, chúng ta không còn có thể đổ lỗi cho bất cứ ai hay bất cứ hoàn cảnh nào ngăn cản sự học hỏi, đào sâu kiến thức đạo. Giáo lý là nền tảng, là cái móng của cả tòa nhà, nên nếu không vững chắc thì cả tòa nhà sẽ sụp đổ. Phần lớn những người bỏ đạo hay hờ hững là vì họ không hiểu biết Tin Mừng và giáo lý đó thôi. Trong đại hội LBTM năm nay, chúng ta vui mừng được Đức cha Giuse Nguyễn Năng, chủ tịch UBGLĐT/HĐGMVN thuyết trình về đề tài “Canh tân các hoạt động huấn giáo theo viễn tượng truyền giáo” rất thích hợp.

2.3 Khích lệ và tạo điều kiện để giáo dân tham gia vào sứ vụ truyền giáo. Công đồng Vatican II đề cao vai trò đi đầu của người tín hữu trong mọi phương diện, nhất là truyền giáo. Sắc lệnh Tông đồ Giáo dân của công đồng Vatican II cho ta một số nhận định về vai trò truyền giáo của giáo dân như sau:

– Người giáo dân góp phần loan báo Tin Mừng bằng chứng tá đời sống và bằng lời rao giảng của họ: “Chính chứng tá của đời sống Kitô hữu và những việc lành được làm với tinh thần siêu nhiên có sức lôi kéo người ta đến đức tin và đến với Thiên Chúa, vì Chúa phán: “Sự sáng của các con phải chiếu giãi trước mắt mọi người, để họ xem thấy việc lành các con mà ngợi khen Cha các con ở trên trời” (Mt 5,16). Tuy nhiên việc tông đồ này không chỉ ở tại việc làm chứng bằng đời sống. Người tông đồđích thực còn tìm dịp loan truyền Chúa Kitô bằng lời nói hoặc cho người chưa tin để đưa họ đến đức tin, hoặc cho tín hữu để giáo huấn họ, củng cố và thúc đẩy họ sống sốt sắng hơn “vì tình yêu Chúa Kitô thôi thúc chúng ta” (2 Cor 5,14) và trong lòng mọi người phải âm vang lời Thánh Tông Ðồ: “Thật khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Phúc Âm” (1Cor 9,16) (TĐGD số 6);

– “Trong những miền thiếu linh mục hay khi các ngài không được tự do thi hành chức vụ, thì Giáo Hội khó có thể hiện diện và hoạt động hữu hiệu nếu không nhờ giáo dân cộng tác” (TĐGD số 1); “Việc tông đồ cá nhân có môi trường hoạt động đặc biệt trong những miền người công giáo ít oi và tản mát”. (TĐGD số 17). “Việc tông đồ cá nhân này rất cần thiết và cấp bách trong những miền mà tự do của Giáo Hội bị cản trở trầm trọng. Trong những hoàn cảnh khó khăn đó, giáo dân tùy khả năng thay thế linh mục, họ liều mất tự do của mình và đôi khi ngay cả mạng sống mình để dạy giáo lý công giáo cho những người chung quanh, huấn luyện cho những người ấy biết sống đạo và khuyến khích họ năng lãnh nhận các bí tích và đặc biệt tôn sùng phép Thánh Thể. Thánh Công Ðồng hết lòng tạ ơn Thiên Chúa đã không ngừng cho xuất hiện ngay cả trong thời đại chúng ta những người giáo dân can đảm phi thường giữa những cơn bách hại. Thánh Công Ðồng lấy tình người cha yêu thương và tri ân họ” (TĐGD số 16). Tại giáo phận Hưng Hóa, có những cộng đoàn người H’Mông ở xã Na Cô Sa, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên, suốt mấy chục năm không có bóng dáng linh mục, không nhà thờ, không bí tích, nhưng họ vẫn giữ được đức tin nhờ chính những người giáo dân dạy giáo lý cho nhau, rửa tội cho nhau, và đùm bọc nhau giữ đạo, bất chấp mọi ngăn cản, cấm đoán, trở ngại. Thật đáng ngưỡng phục những con người đơn sơ nghèo hèn bé mọn này!

– Muốn thế, điều cần thiết là phải huấn luyện người tín hữu sâu sắc về đức tin, trang bị cho họ vốn kiến thức giáo lý. “Việc tông đồ chỉ đạt tới kết quả mỹ mãn nhờ việc huấn luyện đầy đủ và chuyên biệt” (TĐGD số 28), điều mà chúng ta thấy còn rất thiếu nơi tín hữu Việt Nam, chính vì thế mà họ ngại ngùng không dám nói về niềm tin của mình.

Trong đại hội LBTM này, chúng ta sẽ được nghe cha Trưởng ban LBTM giáo phận Xuân Lộc trình bày về việc đào tạo tác viên Tin Mừng là những giáo dân, cũng như hoạt động của họ, được biết là mang lại nhiều kết quả. Đây cũng là tân Phúc-Âm hóa bằng phương pháp mới. Ước mong kế hoạch đào tạo tác viên Tin Mừng được nhân rộng tại các giáo phận Việt Nam.

2.4 GHVN phải đáp ứng lời kêu gọi của Đức thánh cha Phanxicô: “Ra đi từ vùng đất tiện nghi của mình, để đến với mọi vùng “ngoại vi” đang cần ánh sáng Tin Mừng” (EG số 20). Đây là âm vang lệnh lên đường của Chúa Giêsu trước khi về trời: “Anh em hãy ra đi khắp tứ phương thiên hạ, giảng dạy cho muôn dân và làm phép rửa cho họ”. Thật đáng ngưỡng mộ khi một số hội dòng trong nước đã gửi tu sĩ của mình ra đi đến năm châu bốn bể để loan báo Tin Mừng, mặc dù trong nước vẫn còn nhiều nơi anh em đồng bào của ta chưa được biết Chúa là ai. Công cuộc truyền giáo và tái truyền giáo vẫn còn ngổn ngang và bức thiết. Đạo Công giáo đã hiện diện tại Việt Nam trong 4 thế kỷ, thế mà còn rất nhiều người Việt nam chưa biết Chúa là Đấng nào, nhiều đồng bào dân tộc chưa hề được nghe nói về Chúa ! Tại Hưng Hóa, sau 70 năm (từ 1945) sống dưới chế độ, rất nhiều anh chị em giáo hữu gốc Bùi Chu, Ninh Bình, Thái Bình di dân lập nghiệp tại các tỉnh vùng Tây Bắc đã lơ là nguội lạnh, thậm chí mất đức tin. Con số lên đến trăm ngàn người chứ không ít! Chúng ta phải cảm nghiệm bài học thấm thía của dụ ngôn tìm chiên lạc: Người mục tử tốt lành ấy dám để 99 con trong hoang địa để đi tìm con chiên lạc cho bằng được. Thấy rồi, anh vác chiên lên vai, đem về nhà, mời bạn bè chung vui. Chúng ta nhìn nhận rằng GHVN vẫn còn thờ ơ với sứ vụ loan báo Tin Mừng. Các linh mục chỉ mới lo cho các con chiên ngoan đạo, còn chiên lạc đàn thì chưa quan tâm đến. Các dòng tu còn lẩn quẩn với việc mưu sinh hoặc lo phát triển cơ sở vật chất, chưa dám mạnh dạn dấn thân ra đi đến vùng sâu vùng xa, vùng biên giới. ĐTGM Bùi Văn Đọc, trong bài nói chuyện với hội nghị Bề trên Thượng cấp các dòng tại K’Long ngày 5.11.2013 đã nói: “Giáo hội tại Việt Nam trong thời hiện đại, chưa chu toàn đầy đủ sứ vụ loan báo Tin mừng. Có những cố gắng còn rời rạc, chưa được nối kết và hướng dẫn. Cần phải có một sự “chuyển mình thật mạnh dạn”, thật can đảm từ “mục vụ bảo trì” (pastorale de maintien), gìn giữ và bảo vệ cơ chế, cơ sở, sang “mục vụ truyền giáo” đích thực (pastorale missionnaire)”. Chúng ta mong GHVN mạnh dạn đứng dậy, mở cửa, ra đi mọi miền, để đem Tin Mừng Chúa đến với anh chị em đồng bào. Ước gì các giáo phận dồi dào về nhân lực và vật lực sẵn sàng chia sẻ với các giáo phận thiếu thốn. Lấy giáo phận Hưng Hóa làm thí dụ: đây là giáo phận rộng mênh mông bao la, diện tích 54.500 km2, có nhiều dân tộc thiểu số (27/54 dân tộc), địa hình phức tạp, giao thông khó khăn, dân cư tản mát. Giáo phận chịu nhiều thương đau  trong suốt 70 năm qua, từ 1945. Vì thời gian dài không có linh mục, bí tích, cộng đoàn, nên con số tín hữu lơ là nguội lạnh rất nhiều. Công cuộc truyền giáo và tái truyền giáo tại đây thật bức thiết. Hiện tại, giáo phận vẫn còn ít linh mục, tu sĩ, khốn khó về vật chất. Giáo phận Hưng Hóa mong được các giáo phận có nhiều linh mục tu sĩ san sẻ nhân sự giúp cho giáo phận theo mô hình Fidei Donum, trong khi chờ đợi giáo phận có thêm các linh mục, nhưng xem ra khó được hưởng ứng.

2.5 Các lãnh vực cần Tân Phúc-Âm hóa ngày nay, cách riêng tại Việt Nam, theo Lineamenta của THĐGM khóa XIII:

– Lãnh vực văn hóa: Trào lưu tục hóa đang lan tràn nhanh tại Việt Nam. Do ảnh hưởng thuyết vô thần thực tiễn, não trạng hưởng thụ vật chất ngày càng tăng, người Việt Nam xưa vốn dễ hướng chiều về tôn giáo, nay dễ dàng loại trừ hoặc dửng dưng với niềm tin tôn giáo. Hoặc họ bằng lòng với những hình thức tín ngưỡng tâm linh lệch lạc để bù trừ và để trấn an tâm hồn vốn khát vọng Đấng Chân Thiện Mỹ đích thật. Ngay nơi những tín hữu công giáo, ta cũng dễ nhận thấy tâm thức tín ngưỡng cầu khẩn, vụ lợi. Một tâm thức như thế sẽ khó đứng vững trước những thử thách của đức tin. Lãnh vực này thật là một thách thức cho công cuộc Tân Phúc-Âm hóa tại Việt Nam, đòi hỏi chúng ta có nhiệt huyết mới, phương pháp mới và cách diễn tả mới cho thích hợp với người thời đại thì mới mong thành công.

– Lãnh vực xã hội: Tại Việt Nam, hiện tượng di dân về các thành phố lớn để kiếm sống đã làm xáo trộn những truyền thống tốt đẹp như tình gia đình, nghĩa vợ chồng, tình làng xóm, để nghiêng theo chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ. Về mặt tôn giáo, hiện tượng di dân cũng tác động nặng nề để dễ mất đi niềm tin và sự thực hành tôn giáo nơi những tín hữu trẻ tuổi trong môi trường xa lạ, thiếu vắng sự nâng đỡ của xứ đạo, gia đình, hội đoàn. Đây chính là “vùng ngoại vi” mà công cuộc tân Phúc-Âm hóa cần thâm nhập.

– Lãnh vực kinh tế: Tại Việt Nam, sự chênh lệch giàu nghèo rất lớn, kéo theo nhiều vấn đề: di dân kinh tế, hấp lực của đồng tiền, phân biệt đối xử (trọng phú khinh bần), làm ăn bất chính (táng tận lương tâm), bạo lực (cá lớn nuốt cá bé), tham nhũng hối lộ…, trong nhiều trường hợp dẫn đến chỗ dửng dưng với tôn giáo. Sách Châm Ngôn 30,7: “Xin đừng để con túng nghèo, cũng đừng cho con giàu có; chỉ xin cho con cơm bánh cần dùng, kẻo được quá đầy dư, con sẽ khước từ Ngài mà nói: “Đức Chúa là ai vậy?” hay nếu phải túng nghèo, con sinh ra trộm cắp, làm ô danh Thiên Chúa của con”. Tân Phúc-Âm hóa thực tế là GH phải nêu chứng tá nghèo khó, gần gũi người nghèo, đứng về phía họ theo lời kêu gọi của ĐTC Phanxicô: “Tôi muốn một GH nghèo”. Đồng thời, GH phải mạnh dạn nói không với một nền kinh tế loại trừ (EG. 53), với ngẫu tượng mới là tiền bạc (EG. 55-56), với một hệ thống tài chánh thống trị thay vì phục vụ (EV. 57-58), với tình trạng bất bình đẳng, nguồn gốc của bạo lực (EV. 59). Chỉ có thể làm những việc này nếu có nhiệt huyết mới của công cuộc Tân Phúc-Âm hóa.

– Lãnh vực dân sự: Cho đến nay, xem ra người công giáo Việt Nam vừa bị gạt ra bên lề xã hội, vừa thụ động không dấn thân trong lãnh vực này, trong khi GH muốn chúng ta “nhập thế”, bởi công cuộc Tân Phúc-Âm hóa cũng phải quan tâm đến lãnh vực này, như quyết tâm xây dựng và cổ vũ nền hoà bình; phát triển các dân tộc; các qui định luật pháp quốc tế tốt hơn và sự tương tác của các chính phủ mỗi nước; lắng nghe, đối thoại và hợp tác giữa các nền văn hoá và các tôn giáo khác nhau (đối thoại liên tôn); bảo vệ các quyền con người và các dân tộc, đặc biệt các nhóm thiểu số; thăng tiến các thành phần dễ bị tổn thương nhất; và sự toàn vẹn của tạo dựng và một sự dấn thân cho tương lai của hành tinh chúng ta (Thông điệp Laudato si’ về môi trường). Nhiều Giáo Hội địa phương (vd Hàn quốc) đang dấn thân hoạt động cho những vấn đề này, chuyên cần theo đuổi và cổ vũ chúng trong đời sống hằng ngày của các cộng đoàn chúng ta.

– Lãnh vực nghiên cứu khoa học và công nghệ: Thời đại hiện nay có những thành tựu kỳ diệu đáng kinh ngạc trong lãnh vực này. Trong một thế giới số và toàn cầu hoá, khoa học và kỹ thuật có nguy cơ trở thành những thần tượng mới, ‘tôn giáo mới”, hứa hẹn sự thịnh vượng và thoả mãn tức thời.

– Lãnh vực truyền thông, cách riêng internet: Lãnh vực này đang thời thượng, vì cống hiến cho con người nhiều cơ hội để phát triển mọi mặt, nhưng nó cũng lại là một thách đố cho Hội Thánh. Không một nơi nào trên thế giới hôm nay mà truyền thông không thể tới được, và vì thế mọi nơi đều chịu ảnh hưởng của nền văn hoá số và điện toán. Các phương tiện truyền thông này mau chóng trở thành “diễn đàn” của đời sống dân sự và trải nghiệm xã hội, được thấy rõ qua sự phổ biến của internet. Các công nghệ truyền thông phải được chúng ta nhìn một cách tích cực, không thành kiến, như là một nguồn lực đòi chúng ta phải có con mắt phân định và biết sử dụng chúng một cách khôn ngoan và có trách nhiệm. Hội Thánh đã sử dụng các phương tiện này như một công cụ hữu ích để loan báo Tin Mừng. Ngày nay, cùng với các phương tiện truyền thông có tính truyền thống hơn, đặc biệt sách báo và truyền thanh, thì các media mới đang ngày càng trở thành một nhân tố quan trọng trong tác vụ loan báo Tin Mừng của Hội Thánh, giúp tạo ra sự tương tác ở nhiều cấp khác nhau: địa phương, quốc gia, châu lục và toàn cầu. Chúng ta thấy rất rõ tiềm năng trong việc sử dụng cả các phương tiện cũ và mới, cần có một tiến trình phân định chăm chú và được chia sẻ, không chỉ để thẩm định tốt hơn các tiềm năng sử dụng chúng trong việc loan báo Tin Mừng, nhưng còn để hiểu đúng những nguy cơ và hiểm họa có thể có (cf. Lineamenta số 61). Biết khôn ngoan sử dụng mặt tích cực của media vào công cuộc LBTM chính là áp dụng phương pháp và cách diễn tả mới của cuộc Tân Phúc-Âm hóa vậy.

– Lãnh vực tôn giáo: Ngày nay, trong khi khuynh hướng loại trừ, dửng dưng với tôn giáo gia tăng, thì đồng thời lại có khuynh hướng quay về với tôn giáo nhờ các hình thức linh đạo mới, đặc biệt nơi giới trẻ. Người Việt nam nói chung hiện vẫn có niềm tin tín ngưỡng trong cuộc sống, tuy vẫn dễ có những lệch lạc ngộ nhận như mê tín dị đoan. Giới trẻ vẫn còn gắn bó với tôn giáo, người đi tu vẫn còn nhiều. Tuy nhiên, phải giúp họ xác tín hơn nữa vào tôn giáo đích thật, tìm cho cuộc sống có ý nghĩa. Giới trẻ thật sự cần tân Phúc-Âm hóa để có niềm tin vững chãi trước những thách đố khi vật chất và khuynh hướng hưởng thụ cám dỗ.

2.6 Nhìn vào xã hội và Giáo Hội Việt Nam hôm nay, chúng ta nhận thấy cần phải Tân Phúc-Âm hóa với nhiệt huyết mới, phương pháp mới và cách diễn tả mới để sứ vụ loan báo Tin Mừng có thể đơm hoa kết trái. Xin nêu lên một số lãnh vực và hoạt động mục vụ cần quan tâm như sau:

– Phát triển mô hình cộng đoàn cơ bản, các nhóm nhỏ cùng chí hướng, hoạt động, sở thích, để cá nhân dễ hòa nhập và không cảm thấy xa lạ hay bị lãng quên.

– Huấn luyện giáo dân và tạo điều kiện để họ cộng tác vào sứ vụ loan báo Tin Mừng, như đã trình bày ở trên.

– Cổ vũ sự phối hợp giữa các Ủy ban thuộc HĐGMVN, không phải mỗi ủy ban hoạt động riêng rẽ, độc lập. Trong Đại hội này, chúng ta vui mừng có sự tham dự của một số đại diện các Ủy ban thuộc HĐGMVN, để trao đổi thêm về hoạt động chung với nhau trong hướng loan báo Tin Mừng, vì tất cả mọi hoạt động của GH đều liên quan ít nhiều đến sứ vụ loan báo Tin Mừng.

– Công cuộc Tân Phúc-Âm hóa để loan truyền đức tin được nhắm đến ba đối tượng: 1/ các kitô hữu vẫn giữ đạo; 2/ những người đã được rửa tội nhưng nguội lạnh, để mời họ hoán cải, phục hồi niềm vui của đức tin; 3/ những người chưa biết Chúa hay chối bỏ Ngài. (cf. EV.14). Cho đến nay, nói chung, chúng ta chỉ mới chú trọng làm mục vụ cho những người đang giữ đạo, những con chiên ngoan hiền, chứ chưa quan tâm đủ đến những người khô khan nguội lạnh, hay những người chưa hề biết Chúa, những người có cái nhìn sai lầm về Thiên Chúa và Giáo Hội công giáo. GHVN cần mạnh dạn ra đi, đến với những người anh em này để loan báo Tin Mừng. Họ cũng có quyền được biết Chúa và làm con của Ngài. Các giám mục phải dành một phần nhân lực và vật lực để LBTM cho những người chưa biết Chúa: “Giám Mục phải lo liệu để hoạt động tông đồ không chỉ giới hạn cho những người đã tòng giáo, nhưng phải dành một phần nhân lực và vật lực tương đương vào việc rao giảng Phúc Âm cho những người ngoài Kitô giáo” (AG.30)

– Hướng đến những anh chị em dân tộc thiểu số. Những người này cho đến nay vẫn chịu nhiều thiệt thòi, cả về vật chất lẫn tinh thần. Cụ thể tại Hưng Hóa, có đến 27/54 dân tộc thiểu số, nhưng mới chỉ có một vài dân tộc ít ỏi như Mường, H’Mông, Thái, Mán được biết Chúa, còn những dân tộc khác chưa hề được nghe rao giảng Tin Mừng.

– GHVN cần thận trọng kẻo rơi vào khuynh hướng phô trương: xây nhà thờ lộng lẫy, hoang phí; tổ chức các cuộc lễ hoành tráng, tốn kém rất nhiều, mà chưa dám dốc lực vào việc truyền giáo. Nên bớt đi những xa hoa phù phiếm, để dành vật lực vào công cuộc LBTM đúng nghĩa.

– Chia sẻ nhân lực với những giáo phận đang thiếu linh mục, tu sĩ truyền giáo. Đây chính là điều công đồng Vatican II đã nói đến: “Tùy sức có thể, các giám mục hãy lo gửi một số linh mục của mình đến thi hành thánh vụ tại những xứ truyền giáo và các giáo phận nói trên vĩnh viễn hay ít là trong một thời gian hạn định” (CD. 6; AG. 19). Các linh mục dám dấn thân cho những nơi cần đến: “Các linh mục phải tỏ ra sẵn sàng, và khi có dịp, các ngài phải hăng say tình nguyện để Ðức Giám Mục sai đi khởi công truyền giáo tại những miền xa xôi và bị bỏ rơi trong giáo phận mình hoặc trong các giáo phận khác” (AG. 20). “Vì ngày càng cần nhiều thợ vườn nho Chúa và vì các linh mục giáo phận cũng ước ao ngày càng được góp phần lớn hơn vào việc rao giảng Phúc Âm cho thế giới, nên Thánh Công Ðồng rất ước mong các Giám Mục, trong khi cân nhắc về việc thiếu linh mục rất trầm trọng đang cản trở việc rao giảng Phúc Âm cho nhiều miền, hãy sai đến những giáo phận thiếu giáo sĩ vài linh mục xuất sắc đã tự hiến để làm việc truyền giáo và đã được chuẩn bị đầy đủ, để họ thi hành thừa tác vụ truyền giáo với tinh thần phục vụ ít là trong một thời gian” (AG. 38).

– Các dòng tu hoạt động phải sẵn sàng cộng tác vào sứ vụ LBTM: “Còn các Hội Dòng sống đời hoạt động, hoặc theo đuổi mục đích hoàn toàn truyền giáo hoặc không, đều phải thành thật tự vấn trước mặt Chúa xem mình có thể bành trướng hoạt động vào việc mở rộng Nước Chúa nơi muôn dân không; xem mình có thể trao một số thừa tác vụ cho những người khác để cống hiến sức lực mình cho các xứ truyền giáo không; xem mình có thể khởi công hoạt động trong các xứ truyền giáo bằng cách thích nghi Hiến Pháp của mình nếu cần, mà vẫn theo tinh thần của Vị Sáng Lập không; xem các tu sĩ của mình có thể tùy sức tham gia vào hoạt động truyền giáo không; xem cách sống thường xuyên của họ có phải là một chứng tá của Phúc Âm được thích nghi với đặc tính và hoàn cảnh của dân chúng không” (AG. 40).

– Quảng đại đóng góp vật chất cho các Hội Giáo Hoàng Truyền Giáo. Từ vài năm nay, GHVN đã  đóng góp nhiều hơn so với những năm trước cho các Hội Giáo Hoàng Truyền Giáo, tuy vẫn không tương xứng với việc nhận lại sự trợ giúp từ các Hội này. Điều này đặt cho chúng ta một suy nghĩ, đó là phải chăng đã đến lúc GHVN không nên ngửa tay nhận sự trợ giúp từ Tòa Thánh nữa, vì chúng ta đã nhận quá nhiều và quá lâu, trong khi rõ ràng GHVN có thể tự túc tự lực được, đồng thời đóng góp quảng đại hơn nữa để các hội Giáo Hoàng Truyền Giáo có thể giúp các Giáo Hội cần hơn?

Kết luận

Bài thuyết trình hy vọng khơi lên nơi Đại hội một sự thao thức và dấn thân hơn trong tương lai cho sứ vụ tân Phúc-Âm hóa. Xin Chúa Cha ban Chúa Thánh Thần đến giúp chúng ta tiếp nối sứ vụ loan báo Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta hãy để cho những lời Chúa về sứ vụ truyền giáo âm vang trong tâm hồn, củng cố niềm tin-cậy-mến của chúng ta, những môn đệ Ngài.

– “Đẹp thay bước chân người rảo khắp núi đồi để loan báo tin vui, tin bình an” (Is 52,7).

– “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4,18-19).

– “Đức Giêsu đi khắp các thành thị, làng mạc, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền. Đức Giêsu thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt. Bấy giờ, Người nói với môn đệ rằng: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Mt 9,35-38).

– “Đức Giêsu nói với các ông: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,19-20).

ĐGM Anphongsô Nguyễn Hữu Long

Tính hiện thực của sắc lệnh Ad Gentes tại Việt Nam*

Để kỷ niệm 50 năm Sắc lệnh Ad Gentes, Bộ Truyền giảng Tin Mừng cho các dân tộc sẽ tổ chức Hội nghị khoáng đại vào cuối năm 2015; vì thế Đại hội của Ủy ban Loan báo Tin Mừng trực thuộc HĐGMVN lần này cũng tập trung vào Sắc lệnh Ad Gentes, một tài liệu mang tính định hướng cho việc truyền giáo của Hội Thánh toàn cầu trong suốt 50 năm qua. Thật vậy, sáu chương của Ad Gentes cung cấp những gì căn bản và cần thiết nhất cho sứ vụ truyền giáo: nền tảng thần học, định hướng và phương thế thực hiện, phân công tổ chức…, tất cả vẫn còn nguyên giá trị cho công cuộc truyền giáo ngày nay. Ngoài ra, không những mời gọi đọc lại Sắc lệnh Ad Gentes, Ban Tổ chức còn muốn đối chiếu với thực tế của Giáo Hội tại Việt Nam. Thiết nghĩ đây là một đề tài quá lớn, lại bị giới hạn về thời giờ, vì thế chỉ xin gợi lên một vài chủ điểm để cùng nhau suy nghĩ và thảo luận.

1. Nhiệt tình thừa sai

Trong một lần hội nghị của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, dựa trên số thống kê từ những bản phúc trình hằng năm của các giáo phận, vị đại diện Tòa Thánh đã làm một bản đối chiếu, cho thấy trong những năm qua, tỉ lệ dân số Công giáo gia tăng cùng với tỉ lệ chung của dân số tại Việt Nam. Nghĩa là cũng chỉ qua đường sinh sản, và có thể hiểu thêm rằng việc truyền giáo không có kết quả bao nhiêu.

Phải chăng đây là tình trạng chung trên thế giới, ngoại trừ châu Phi? Dân số Công giáo không những không gia tăng mà còn mất đi, ví dụ, tình trạng bỏ đạo hoặc chuyển sang các giáo hội khác…đang diễn ra tại châu Mỹ La tinh từ nhiều năm nay, cụ thể tại Brazil, và không phải không có tại châu Á.

Đâu là nguyên nhân của tình trạng đáng buồn này? Trước hết, phải nói đến điều mà nhà thần học Joseph Ratzinger, sau này là Đức Bênêđictô XVI, gọi là cuộc khủng hoảng về chính ý niệm truyền giáo. Ngay từ khi các nghị phụ bàn luận về Sắc lệnh Ad Gentes, ngài đã viết: “Vấn đề then chốt, vốn tác động mạnh mẽ lên toàn bộ bối cảnh của vấn đề, là cuộc khủng hoảng về chính ý niệm truyền giáo. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng này là do những thay đổi lớn lao trong suy tư hiện đại về nhu cầu truyền giáo. Động lực thúc đẩy các nhà truyền giáo trong quá khứ cố gắng đem người ta đến với Đức Kitô nay ngày càng mất đi tính khẩn thiết của nó. Điều thúc đẩy các vị thừa sai vĩ đại vào đầu thời hiện đại ra đi khắp thế giới, và điều làm cho các ngài không thể nghỉ yên, đó là xác tín rằng ơn cứu độ chỉ có nơi Đức Kitô mà thôi. Hằng triệu con người bất ngờ xuất hiện từ những miền đất trước đây không biết tới và sẽ bị kết án đời đời vì không có sứ điệp Tin Mừng. Do đó, bổn phận thánh thiêng của người tín hữu phải rao giảng Tin Mừng mọi nơi xem ra là trách nhiệm thúc bách nhất của tình huynh đệ, bởi lẽ tình yêu không chỉ liên quan đến những nhu cầu trần thế mà còn liên quan đến vận mệnh con người: hoặc được cứu độ, hoặc bị kết án đời đời. Đang khi đó, trong những thế hệ gần đây, ý tưởng ngày càng thắng thế là Thiên Chúa có thể và muốn cứu độ mọi người dù họ ở ngoài Hội Thánh, mặc dù vẫn cần đến Hội Thánh. Ngoài ra, trong thời gian gần đây, đã xuất hiện cách giải thích lạc quan hơn về các tôn giáo trên thế giới…Sự lạc quan quá đáng, tức là quan điểm cho rằng các tôn giáo trên thế giới đều là những nẻo đường cứu độ, quan điểm đó không thể hòa hợp với sự đánh giá trong Kinh Thánh về các tôn giáo này. Điều đáng ghi nhận là Công đồng đã phản ứng sắc bén thế nào đối với những quan điểm hiện đại đó. Trong cuộc thảo luận về bản văn, đã có sự nhẹ nhàng hơn” (Joseph Ratzinger, Theological Highlights of Vatican II). Có thể thấy điều được gọi là “sự nhẹ nhàng” này khi đối chiếu với Ad Gentes, số 7.

Vấn đề nhà thần học Ratzinger nêu lên có tầm quan trọng đặc biệt, vì đó chính là cái làm nên động lực truyền giáo và nhiệt tình thừa sai; vì thế phải chân thành tự hỏi: Liệu chúng ta có còn nhiệt tình thừa sai? Có còn dám xác tín rằng Đức Kitô là Đấng Cứu Độ duy nhất? Có thực sự gắn bó với Đức Kitô như là “mối lợi lớn nhất” và nói được rằng “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Phúc Âm”?

Trên bình diện thần học, Ad Gentes khẳng định rõ ràng: “Dù Thiên Chúa có thể dùng những đường lối chỉ một mình Ngài biết để đưa những kẻ không phải vì lỗi của mình mà chưa nhận được Tin Mừng đến với đức tin, là điều kiện tối cần để làm đẹp lòng Ngài; tuy nhiên Giáo Hội vẫn có bổn phận, và cả quyền bất khả xâm phạm, trong việc loan báo Tin Mừng; do đó, hoạt động truyền giáo hôm nay và mãi mãi vẫn luôn thật sự cấp bách và cần thiết” (số 7).

Khẳng định đó đặt nền tảng trên chính lệnh truyền của Chúa Giêsu: “Vậy các con hãy đi dạy dỗ muôn dân, rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho các con” (Mt 28,19-20). Và lời của Thánh Phaolô: “Làm sao tin nếu không nghe nói, làm sao nghe nói nếu không có người rao giảng, làm sao có người rao giảng nếu không có ai được sai đi.” Các vị giáo hoàng gần đây, cụ thể là Đức giáo hoàng Phanxicô, không ngừng nhắc nhớ về điều đó: “Sứ mệnh của tôi giữa lòng Dân không chỉ là một phần của đời tôi hoặc một thứ phù hiệu mà tôi có thể gỡ bỏ; không phải một cái gì phụ thêm hay chỉ là một khoảnh khắc trong đời. Trái lại, đó là điều gì đó mà tôi không thể dứt bỏ khỏi mình nếu không muốn tiêu diệt chính mình. Tôi là một sứ mệnh trên trái đất này, đó là lý do tại sao tôi có mặt trong cuộc đời. Chúng ta phải coi mình như được đóng ấn, thậm chí được in nhãn bởi sứ mệnh mang ánh sáng, phúc lành, tạo sức sống, nuôi dưỡng, chữa lành, giải thoát (Evangelii Gaudium, số 273).

Tuy nhiên, trong thực tế, xem ra nhiệt tình truyền giáo đã sa sút nhiều. Cùng với sự kiện tạp chí Ad Gentes phải đóng cửa vì không thể tiếp tục, cha Pietro Gheddo, chủ bút của tạp chí, trình bày những suy nghĩ và nhận định của mình: “Cho đến Công đồng Vatican II, có sự xác định rõ ràng căn tính của chúng ta là đi đến gặp gỡ những người ngoài Kitô giáo, ở bất cứ nơi đâu Thánh Thần sai đến, để loan báo và làm chứng cho Đức Kitô và Tin Mừng của Chúa, mà mọi người đều cần đến. Vâng, chúng ta cũng nói về việc bác ái và giáo dục, sức khỏe, sự tiến bộ, những quyền và sự công bằng cho người nghèo và những người bị bóc lột. Nhưng trên hết mọi sự là nhiệt tâm đem Chúa Giêsu đến cho những người đang sống mà không biết đến Thiên Chúa của Tình Yêu và Tha Thứ…Còn ngày nay, các nhà truyền giáo vận động chống lại nợ nước ngoài, chống chạy đua vũ trang, chống thuốc giả, đòi hỏi nước sạch; ngày nay không còn nói đến truyền giáo cho công chúng nữa nhưng nói về những việc trần thế, xã hội, môi sinh. Bạn có thể cho tôi biết có bao nhiêu bạn trẻ hăng hái và trở thành nhà truyền giáo sau một cuộc phản kháng chống lại chạy đua vũ trang? Thưa, không ai cả”.

Chính vì vậy, câu hỏi mà Sắc lệnh Ad Gentes đặt ra cho chúng ta ngày nay: Có thể và nên làm gì để khơi dậy nhiệt tình thừa sai, nơi bản thân và nơi anh chị em mình?

2. Làm chứng và loan báo

Sắc lệnh Ad Gentes đề cao tầm quan trọng của chứng tá đời sống trong việc truyền giáo: “Tất cả các Kitô hữu, dù sống ở đâu, đều phải dùng chứng tá và gương mẫu đời sống để thể hiện con người mới họ đã đón nhận qua bí tích Thánh tẩy, đồng thời biểu dương sức mạnh của Chúa Thánh Thần đã củng cố họ qua bí tích Thêm Sức, để những người chung quanh nhìn thấy các việc lành họ làm mà ngợi khen Chúa Cha” (số 11). Các vị giáo hoàng thời hậu Công đồng tiếp tục nhấn mạnh điều này; cụ thể là Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II nhắc lại giáo huấn của Chân phước Giáo hoàng Phaolô VI: “Con người ngày nay tin tưởng vào các chứng nhân hơn là thầy dạy, vào kinh nghiệm hơn là giáo huấn, vào đời sống và hành động hơn là lý thuyết. Chứng tá đời sống Kitô hữu là hình thức truyền giáo đầu tiên và không thể thay thế” (Redemptoris Missio, số 42).

Tuy nhiên, không thể bỏ qua việc loan báo bằng lời. Người ta thường trích dẫn giáo huấn trên của Chân phước Phaolô VI về chứng tá đời sống, nhưng lại thường xuyên quên mất câu kế tiếp: “Ngay cả những chứng từ tốt lành nhất cũng không có hiệu quả về lâu về dài nếu không được giải thích, trình bày bằng sự loan báo Chúa Giêsu…Không có Phúc Âm hóa đích thực nếu Danh hiệu, giáo huấn, đời sống, các lời hứa, Vương quốc và mầu nhiệm Đức Giêsu Nazaret, Con Thiên Chúa, không được giải thích” (Evangelii Nuntiandi, số 22).

Đây cũng là điều được xác định rõ trong Ad Gentes: “Tại những nơi Thiên Chúa đã mở rộng lối vào cho việc rao giảng mầu nhiệm Đức Kitô, phải tin tưởng và bền chí loan báo cho tất cả mọi người nhận biết Thiên Chúa hằng sống và Đấng Ngài sai đến cứu chuộc mọi người là Đức Kitô, để những người ngoài Kitô giáo được Chúa Thánh Thần mở lòng, tự ý trở về với Chúa trong niềm tin, và thành tâm gắn bó với Đấng là ‘đường, sự thật và sự sống’, Đấng không chỉ đáp ứng, mà đúng hơn, còn vượt quá đến vô cùng những ước vọng thiêng liêng của con người” (Ad Gentes, số 13). Ở một nơi khác, Sắc lệnh viết: “Không phải chỉ cần hiện diện và được thiết lập trong một dân tộc nào đó, hay chỉ cần làm việc tông đồ bằng gương lành là đủ, nhưng đoàn dân Kitô hữu được thiết lập và hiện diện chính là để dùng lời nói và việc làm loan báo Chúa Kitô cho anh chị em đồng bào ngoài Kitô giáo, và giúp họ đón nhận Chúa Kitô cách trọn vẹn” (số 15).

Trong thực tế, chúng ta đã làm gì? Phải chăng chỉ nhấn mạnh chứng tá đời sống và ngại loan báo về Chúa Giêsu cho lương dân?

Trong một cuốn sách của ngài, Đức hồng y Tagle, Tổng giám mục Manila, Philippines, kể lại một kinh nghiệm trong thời còn học thần học tại Đại học Công giáo Hoa Kỳ. Một cặp vợ chồng người Trung Quốc theo học ngành khoa học tại đại học Công giáo. Họ tình cờ phát hiện những giảng khóa về tôn giáo ở đây nên ghi danh tìm hiểu. Và họ hết lời ca tụng giáo huấn của Công giáo về nhiều mặt, cho rằng giáo huấn này sẽ giúp giải quyết mọi vấn đề của Trung Quốc. Nhưng sau đó, họ nói thêm với linh mục Tagle: Từ ngày chúng tôi tới đây, không thấy người Công giáo nào đến nói cho nghe về đạo, đang khi đó, cứ mỗi Thứ Sáu, lại có hai người Tin Lành đến gõ cửa và ngỏ ý xin vào nhà để nói về đạo của họ! Hóa ra đại học Công giáo lo nghiên cứu thần học chuyên sâu nhưng không quan tâm loan báo Tin Mừng cho người ngoài Kitô giáo.

Những gì Hồng y Tagle kể lại cũng là những gì đã và đang diễn ra tại Việt Nam, và thực tế đó trở thành lời tra vấn cho người người Công giáo: Tại sao chúng ta ngại giới thiệu và loan báo Tin Mừng cho lương dân? Đâu là những lý do tạo nên tình trạng đó và có thể làm gì để vượt qua?

3. Truyền giáo trong một xã hội “động”

Vào thởi điểm Sắc lệnh Ad Gentes được ban hành, không ai có thể nghĩ đến sự sụp đổ nhanh chóng của Liên-xô cũ và khối Cộng sản Đông Âu, cũng không ai hình dung nổi sẽ có cuộc cách mạng về truyền thông như ngày nay. Do đó, so sánh với thời điểm hiện nay, thế giới của Ad Gentes vẫn còn là thế giới “tĩnh”, còn ngày nay là một thế giới “động”. Tính cách “động” này được cụ thể hóa trong hai lãnh vực: di dân và truyền thông.

a. Di dân

Sự kiện Hội đồng Tòa Thánh về Di Dân (Migrants) được đổi tên là “People on the Move” cho thấy tính cách “động” của thế giới ngày nay. Tại Việt Nam, Báo cáo mục vụ của Ủy ban Di dân năm 2015 cho biết: “Tại Việt Nam, làn sóng di dân vì việc làm và học tập đã phổ biến đến độ trở thành một hiện tượng phổ thông. Nhiều thiếu niên đến tuổi trung học phải rời bỏ thôn làng ra huyện xã đi học, đến ngưỡng tuổi đại học thì phải lên các thành phố lớn để học cao lên, có được tấm bằng cử nhân trong tay lại chẳng ai muốn quay về quê nghèo xóm cũ. Biết bao thanh niên không tìm được đường đến trường thì dắt dìu nhau đi tìm việc ở công trường hãng xưởng. Nông thôn ngày càng vắng người trẻ, thành thị ngày càng tấp nập người nhập cư”.

Người ta nói đến nhiều hậu quả tiêu cực trong đời sống người di dân, cách riêng trong giới Công giáo, chẳng hạn tình trạng sống xa quê làm cho nhiều người trẻ bị mất đức tin, vướng vào nhiều tệ nạn…Tình trạng di dân còn đặt ra nhiều vấn đề nan giải cho đời sống gia đình và trách nhiệm giáo dục con cái. Đời sống của rất nhiều giáo xứ vùng nông thôn cũng chịu ảnh hưởng lớn từ tình trạng này.

Không thể phủ nhận những hậu quả tiêu cực trên, nhưng cũng cần phải nhận ra những tác động tích cực, cách riêng từ tầm nhìn truyền giáo: Di dân là sứ giả loan báo Tin Mừng.

Sau bài tường thuật về cuộc tử đạo của thánh Têphanô, sách Công Vụ viết: “Hồi ấy, Hội Thánh tại Giêrusalem trải qua một cơn bắt bớ dữ dội. Ngoài các Tông đồ ra, mọi người đều phải tản mác về các vùng quê miền Giuđêa và Samari…Vậy những người phải tản mác này đi khắp nơi loan báo Lời Chúa” (8,1-4). Kinh nghiệm đó được tái diễn trong lịch sử Hội Thánh Việt Nam.

Với cuộc di cư năm 1954, những cộng đoàn di cư đã mang đến sức sống mới và đóng góp tích cực cho sự phát triển của Giáo Hội tại miền Nam Việt Nam, cụ thể tại Sài Gòn và Xuân Lộc.

Sau 1975, sự hiện diện của các cộng đồng Công giáo Việt Nam tại nhiều nước trên thế giới cũng được các giám mục địa phương đánh giá như phúc lành cho Giáo hội, vì những cộng đồng này cung cấp ơn gọi linh mục và tu sĩ, làm gương về đời sống đạo nhiệt thành sốt sắng.

Ngày nay cũng thế, anh chị em di dân đang góp phần tích cực vào sinh hoạt của các giáo xứ tại nơi họ đến để làm việc, trong đó phải kể đến Tổng giáo phận Sài Gòn.

Vậy, trong viễn tượng truyền giáo, chúng ta có thể làm gì ?

-Đồng hành: Theo Tông huấn Verbum Domini, “Các giáo phận phải tùy theo khả năng mà tiếp đón và chăm sóc các anh chị em di dân, để khi được Tin Mừng đánh động, chính họ trở thành sứ giả của Lời Thiên Chúa và chứng nhân của Đức Kitô Phục Sinh, niềm hi vọng của thế giới” (số 105). Đức Bênêđictô XVI cũng nhắn nhủ các giám mục Việt Nam trong chuyến ad limina 2009: “Mong rằng anh em phát triển nền mục vụ thích hợp cho người trẻ di dân trong nước, qua việc tăng cường sự hợp tác giữa các giáo phận gốc của họ và các giáo phận họ đến, và cung cấp cho họ những lời khuyên về mặt đạo đức và các chỉ dẫn thực hành”.

-Huấn luyện di dân thành sứ giả Tin Mừng: Di dân không chỉ là người đón nhận Tin Mừng và sự phục vụ của Hội Thánh địa phương, nhưng chính họ còn là sứ giả Tin Mừng. Vì thế cần gây ý thức và tạo điều kiện để họ thi hành sứ vụ.

b. Các phương tiện truyền thông xã hội

Thế giới hôm nay là thế giới của internet, cách riêng mạng xã hội, một thế giới được gọi là “ảo” nhưng hiệu quả lại rất thật :

Facebook: 1,280,000,000 “cư dân”

Google: 1,6000,000,000 “cư dân”

Twitter: 645,750,000 “cư dân”.

Giáo Hội Công giáo ý thức điều này rất rõ: “Trong số các hình thức mới của truyền thông đại chúng, ngày nay người ta nhìn nhận rằng vai trò của internet ngày một lớn hơn, đây là một diễn đàn mới, ở đó chúng ta phải làm cho Tin Mừng vang lên…Trong thế giới internet, một thế giới cho phép hàng tỉ hình ảnh xuất hiện trên hàng triệu màn hình trên thế giới, sẽ phải xuất hiện gương mặt của Đức Kitô cũng như có thể nghe được tiếng nói của Người, vì ‘nếu không có chỗ cho Đức Kitô, thì cũng không có chỗ cho con người’” (Verbum Domini, số 113).

Tại Việt Nam trong những năm qua, xuất hiện rất nhiều trang web Công giáo, từ Hội Đồng Giám Mục đến các giáo phận, dòng tu, nhóm, cá nhân. Tuy nhiên phải nhìn nhận rằng tất cả đều còn rất khiêm tốn, chưa có trang web nào đáng gọi là cơ quan ngôn luận tầm cỡ như La Croix, National Catholic Register, Catholic Herald… Giả như các Ủy ban trực thuộc Hội Đồng Giám Mục cùng cộng tác với nhau để làm chung một trang web, hi vọng mọi sự sẽ tốt hơn!

Đồng thời, cũng có thể đặt thêm câu hỏi: Có trang web nào chuyên về truyền giáo chưa? Có trang web nào hướng đến đối tượng là lương dân chứ không chỉ cung cấp tư liệu cho người Công giáo về đề tài truyền giáo? Ước mong những câu hỏi này sẽ thúc đẩy chúng ta cùng nhau suy nghĩ thêm và có những hành động cụ thể.

Kết luận

Trong dụ ngôn Người gieo giống (Mt 13,3-9), sau khi nói đến những hạt giống rơi xuống vệ đường, trên sỏi đá, trong bụi gai, Chúa Giêsu nói: “Có những hạt lại rơi nhằm đất tốt nên sinh hoa kết quả, hạt được gấp trăm, hạt được sáu mươi, hạt được ba mươi”. Nghĩa là dụ ngôn kết thúc với cung giọng rất lạc quan. Dù thế nào chăng nữa, vẫn có những hạt rơi vào đất tốt và sinh hoa kết trái phong phú. Thế nên dù thời thế thuận lợi hay không thuận lợi, hãy cứ ra đi và gieo hạt, lên đường và loan báo Tin Mừng. Đi trong tin tưởng, gieo trong hi vọng, và loan báo trong vui mừng.

———–

*Bài thuyết trình tại Đại hội Loan Báo Tin Mừng lần III năm 2015

ĐGM Phêrô Nguyễn Văn Khảm

WGPSG