Ngày 12 Tháng 12 Thánh Calixtô Ii Giáo Hoàng

11/12/2017
8

Tuy cầm quyền Giáo hội không được bao lâu, nhưng thánh Calixtô II (Calixte) đã để lại cho Giáo hội nhiều thành tích đáng kể. Đặc biệt hơn cả là ngài đã giải quyết được mối tranh chấp giữa hai quyền bính đạo và đời đem lại hòa bình thịnh vượng cho Giáo hội. Người đương thời không ngớt lời ca tụng ngài là một con người đạo đức, nhiệt thành và tận tâm với nghĩa vụ giữa một thời buổi khó khăn và đau khổ nhất của ngôi Giáo hoàng.

Đức Calixtô sinh ra khoảng năm 1060, trong một gia đình quý phái thuộc miền Buốc-gô (Bourgogne), vì thế người ta còn gọi ngài là Ghi đơ Buốc-gô (Guy de Bourgogne).

Bà thân mẫu ngài là một người đạo đức, chỉ muốn cho con gần gũi với các tu sĩ và chăm lo giúp việc bàn thờ, để rồi mai ngày nhờ ơn Chúa con bà sẽ dâng mình vào một dòng tu nào đó. Nhưng trái với lòng mong muốn của bà hiền mẫu đó, người con yêu quý của bà lại cảm thấy ái mộ đời sống của một linh mục triều. Thế nên, sau nhiều năm theo học, kết quả tại một trường ở Bơ-giăng-sông (Besancon), Ghi đơ Buốc-gô được thụ phong linh mục, trước khi đủ tuổi theo luật định.

Từ đây những trách vụ nặng nề liên tiếp nhau đè nặng trên vai vị linh mục trẻ. Trước tiên ngài được cắt cử vào ban Kinh sĩ hội nhà thờ chính toà thánh Gioan ở Bơ-giăng-sông, rồi sau lại được chọn làm bí thư toà tổng Giám mục. Sau cùng dù còn trẻ tuổi, nhưng vì tài cao đức rộng, ngài được đức U-ba-nô II đặt làm tổng Giám mục thành Viênna. Trong hơn ba mươi năm coi sóc địa phận, ngài chỉ một niềm lo lắng chiến đấu để duy trì đức tin và làm cho mọi người nhìn nhận tự do và quyền lợi của Giáo hội. Vì từ đời Đức Giáo Hoàng Grêgôriô VII, luôn luôn xảy ra cuộc tranh chấp giữa giáo quyền và thế quyền. Nhà cầm quyền Đức lúc ấy chỉ muốn lấn át quyền của Giáo hội bằng cách xen vào nội trị của các toà Giám mục và các dòng tu. Một sự xâm phạm như thế hẳn là phạm đến tự do của Giáo hội và gây thiệt hại không ít cho các linh hồn.

Để đối phó với tình trạng ấy, Đức Giám mục Ghi đơ Buốc-gô luôn luôn tuân theo những chỉ thị của Toà thánh, tỏ rõ thái độ cương quyết không hề nhượng bộ trước một yêu sách nào của vua Henricô V, vua nước Đức. Hơn nữa, ngài còn chủ tọa công đồng miền tại Viênna để kết án nhà vua xâm phạm giáo quyền trong việc phong ban chức Giám mục, và ra vạ tuyệt thông cho vua. Vì tin cậy ngài, Đức Giáo Hoàng Pascal còn cắt cử Đức Tổng Giám mục thành Viênna làm đặc sứ Toà thánh tại Pháp.

Trong khi đó, vua Henricô V càng ngày càng tỏ ra quá khích tàn bạo. Vua sai người mưu sát Đức Giáo Hoàng Pat-can II, rồi tự ý đặt một Giám mục lên thay, lấy tước hiệu là Grêgôriô VIII. Đức Giê-la-giô II, Giáo hoàng thực thụ buộc phải bỏ Rôma tản cư sang Pháp. Tại đây, ngài được Đức Tổng Giám mục Viênna hết lòng thảo kính, tiếp đón và cung phụng.

Sau đó ít lâu ngài trở về Ma-công (Macon) và lâm bệnh tại đó. Đức Giáo Hoàng truyền cho người ta đem ngài về tu viện Cluny vì ngài muốn được chết ở đó một cách sốt sắng và hèn hạ như một tu sĩ.

Trước khi tắt thở, Đức Giáo Hoàng cho hội các Hồng y lại bên giường để cử người lên kế vị. Ý ngài muốn chọn Đức Giám mục Cô-nông (Conon) là người mà ngài nhận thấy có tâm huyết tranh đấu bênh vực quyền lợi Giáo hội hơn cả. Nhưng chính Đức Giám mục đó một mực thoái thác, ngài ngắt lời Đức Thánh Cha và tâu: “Tâu Đức Thánh Cha, xin đừng để cho con phải gánh vác trách nhiệm nặng nề đó, con chỉ là người bất xứng, vô tài! Giáo hội lúc này cần có một vị lãnh đạo cứng rắn, tài ba và sáng suốt. Vậy nếu Đức Thánh Cha cho phép, chúng con xin đề cử Đức Tổng Giám mục Viênna. Với ơn Chúa trợ giúp và công nghiệp hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, ngài sẽ cứu vãn Giáo hội khỏi cường quyền áp chế”.

Mấy ngày sau, Đức Giáo Hoàng Giê-la-giô băng hà và toàn thể các Hồng y họp tại Cluny đều đồng thanh bầu Đức Giám mục Ghi đơ Buốc-gô lên ngôi Giáo Hoàng, mặc dầu ngài hết sức từ chối vịn lẽ mình chỉ là một Giám mục vô danh. Đức tân Giáo Hoàng lấy danh hiệu là Calixtô II.

Trước gánh nặng mà người ta vừa đặt lên ngài, Đức tân Giáo Hoàng rùng mình kinh sợ. Nhưng vừa đưa mắt nhìn trời với lòng tin tưởng phó thác, ngài liền cảm thấy được ơn nâng đỡ để bắt tay vào cuộc chiến đấu.

Thực vậy, với tài ba đức độ và uy danh lẫy lừng, đức Calixtô sớm thực hiện ngay được những điều mà toàn thế giới đều mong ước và kỳ vọng nơi ngài. Tuy chỉ chấp chính trong thời gian vắn vỏi là 5 năm, ngài cũng đã cung hiến cho lịch sử Giáo hội những trang rất vẻ vang.

Việc đầu tiên của ngài, cũng là dự định chung của đức tân Giáo hoàng là tổ chức một công đồng chung bàn đến vấn đề trao ban quyền chức. Trong thời gian chuẩn bị từ tháng ba đến tháng mười, Đức Giáo Hoàng đã đi khắp nước Pháp để thúc giục giáo dân cầu nguyện cho công đồng được kết quả; lấy gương sáng của đời sống khiêm tốn và hăng hái hoạt động làm bài học cụ thể để giảng dạy mọi người. Trong khi đó ngài không quên chú ý lắng nghe những lời than trách, sửa chữa những sai lầm của mọi người, với tất cả tấm lòng của một vị cha chung hiền hậu, ngài cũng giao tiếp thân cận với vua nước Pháp để xiết chặt thêm mối tình giao hảo của Toà thánh với chính phủ nước này.

Công đồng khai mạc tại nhà thờ chính toà Đức Bà, trong một bầu khí trang nghiêm sốt sắng, và toàn thể các vị dự công đồng đều hết lòng khâm phục đức khôn ngoan và tinh thần quảng bác của Giáo Hoàng Calixtô.

Sau mấy phiên họp, Đức Calixtô tuyên bố tạm ngưng công đồng để đi Mu-giông (Mouzon) vì Hoàng đế Đức hẹn gặp ngài tại đó; ngài ra đi mang theo niềm chứa chan hy vọng đồng thời cương quyết giữ vững lập trường tranh đấu cho quyền lợi của Giáo hội. Trong khi đó, Hoàng đế Đức vẫn một chiều ngang ngược như xưa; chẳng những không từ bỏ lỗi lầm, nhà vua còn mang theo ba nghìn quân võ trang đầy đủ để dọa nạt, gây áp lực cho Đức Giáo Hoàng và nếu cần có thể bắt cóc ngài nữa.

Sau nhiều cuộc đàm phán vô hiệu quả, Đức Giáo Hoàng đành trở về và tuyên bố phạt vạ nhà vua. Người ta mang đến cho mỗi Giám mục, tu viện trưởng một cây nến đốt cháy. Đức Giáo Hoàng trịnh trọng và lớn tiếng tuyên bố bản án, tức thì theo nghi thức mọi nến cháy đều được dập tắt và vất bỏ xuống đất. Tuy đã tuyên án và thề hứa trung thành y án cho đến khi vua Đức hối cải, nhưng với tâm hồn của một vị chủ chăn nhân từ, Đức Calixtô II lúc nào cũng sẵn sàng giang hai tay để chờ đón con người cố chấp ấy.

Mọi việc đã tạm xong xuôi, Đức Calixtô trù tính trở về Rôma nơi ngự trị muôn đời của các vị đại diện chính thức của Chúa ở trần gian. Trên đường trở về, đâu đâu ngài cũng được giáo quyền và chính quyền địa phương hoan hô nhiệt liệt và đua nhau tỏ tình con thảo. Đặc biệt hơn cả là cuộc nghênh đón của những người Rôma dành để cho ngài. Kỵ binh đoàn Rôma đã rời xa thành ba ngày đàng để cung nghinh vị đại diện Chúa khải hoàn về thủ đô.

Thấy Giáo Hoàng chính thức trở về, Giáo Hoàng đối lập do Hoàng đế Đức đặt lên phát hoảng nên bỏ trốn đến Sutry (Sutri). Tại đây ông còn tiếp tục gây cuộc khủng bố và tàn sát những ai suy tôn Đức Giáo Hoàng. Nhưng chẳng bao lâu sau, ông bị người ta bắt và giải nộp cho Đức Calixtô. Nhờ lượng nhân từ của Đức Thánh Cha, ông thoát khỏi tay lý hình, chỉ phải giam trong một tu viện để rồi được chết ở đó cách yên hàn thánh thiện vào năm 1125.

Ngôi Giáo Hoàng đối lập do Hoàng đế Henricô V đặt lên bị sụp đổ thì mộng tham lam của nhà vua cũng dần dần tan vỡ. Hơn nữa, vua bắt đầu cảm thấy án vạ của Rôma đã đè nặng trên mình; các công thần khanh tướng và Giám mục cũng dần dần xa lìa nhà vua.

Trong khi tại các nhà thờ ở Đức, người ta ăn chay cầu nguyện, đi kiệu để xin Chúa mở lòng cho nhà vua trở về làm hòa với Giáo hội, thì chính Đức Calixtô cũng không ngừng sáng nghĩ ra những giải pháp đem lại hòa bình cho Giáo hội. Ngài tiếp tục sai những đặc sứ toà thánh đến yết kiến nhà vua để chuyển đạt những bức văn thư của ngài đầy lời lẽ hiền hòa nhưng cũng không kém phần cương quyết.

Vua Henricô V lúc này cũng không còn kiêu căng như trước nữa, nhưng đã bắt đầu nhìn nhận Đức Calixtô và những Giám mục giao hảo với ngài. Vua tiếp kiến các đặc sứ của Đức Giáo Hoàng trong một bầu không khí thân mật. Sau 12 ngày hội kiến với các ngài, vua bằng lòng ký kết một bản tuyên khai từ bỏ việc xâm phạm quyền trao ban mũ gậy, cùng hứa để Giáo hội được tự do cắt cử và phong chức các Giám mục. Cuối bản văn, vua còn bày tỏ ý chí tùng phục bằng những lời kết thúc sau đây.

“Tôi thành thực giao hòa cùng Đức Calixtô và với Giáo hội Rôma. Tôi hứa trung thành trợ giúp khi Giáo hội cần đến và khi Giáo hội có điều gì khiếu nại, tôi sẽ sẵn sàng phân xử công minh”.

Ai sẽ tả được cho hết niềm hân hoan tràn ngập tâm hồn Đức Calixtô khi ngài nghe tin Hoàng đế Đức đã cùng với đặc sứ Toà thánh là Đức Hồng y Lambertô ký kết giao hảo với Giáo hội.

Nhân danh Đức Giáo Hoàng, Đức Hồng y đặc sứ đã giải vạ, tha tội và cho nhà vua rước lễ, trong khi đó giáo dân cùng nhau hát vang những ca khúc tạ ơn Thiên Chúa.

Như vậy, việc mà năm vị tiên Giáo hoàng không đạt được thì nay với ơn Chúa, sau ba năm chấp chính, Đức Calixtô đã thành công. Giáo hội được hoàn toàn bằng yên.

Lợi dụng những ngày bằng yên đó, Đức Calixtô lo bành trướng ảnh hưởng cũng như việc làm của ngài trên khắp thế giới công giáo. Nhờ ngài, kinh thành Rôma đã phục hồi được nhịp sống thanh bình và vẻ huy hoàng thuở xưa. Tất cả những đồn lũy do các vương hầu lãnh chúa xây nên, nay được phá đổ để thay thế vào bằng những thánh đường hay những tư trang ngoạn mục. Đại giáo đường thánh Phêrô cũng được ngài sửa sang cho thêm phần tráng lệ. Những cuộc tranh chấp, bất hòa giữa tu viện nọ với nhà thờ kia, hoặc giữa địa phận này với giáo tỉnh khác đều được ngài dàn xếp phân xử cách khéo léo. Ngoài ra nhờ ngài mà sổ bộ các thánh còn được hân hạnh ghi tên ba vị thánh mới: A-nun (Arnoul), Giám mục Soát-sông (Soisson), Công-ra đan-tóp (Conrad d’Altorf), Giám mục Công-tăng (Constance) và Huy-gơ (Hugues) tu viện trưởng Cluny.

Sau hết để chấm dứt những tranh chấp đáng buồn trong việc trao quyền chức, đồng thời để thực hiện cho Giáo hội những cải cách cần thiết và mới mẻ, Đức Calixtô đã triệu tập một công đồng chung ở Latêranô với sự hiện diện của 32 Hồng y, hơn ba trăm Giám mục và sáu trăm tu viện trưởng. Trong công đồng đó, ngài châu phê bản tuyên khai giải vạ cho vua Henricô V. Ngài đã phân biệt rõ ràng những cách thế trao ban quyền bính trong phạm vi thiêng liêng cũng như trần thế: những ông hoàng khi muốn trao quyền cho ai thì dùng phủ việt, hay cách nào tương tự, còn nhẫn gậy sẽ chỉ được dành để cho việc trao ban quyền bính thiêng liêng mà thôi. Theo thói quen đã có từ lâu trong giới tu sĩ, ngài cũng tuyên bố những ai đã chịu chức thánh đều mắc ngăn trở kết bạn. Ngoài ra còn rất nhiều quyết định khác do công đồng này soạn thảo và thi hành đem lại cho Giáo hội những nguồn sinh lực mới và dồi dào.

Thiên Chúa hình như đã dành để cho Đức Calixtô sứ mệnh mưu cầu hòa bình. Sứ mệnh đó nay ngài đã chu tất, và ngài chỉ còn đợi ngày Chúa gọi về để lĩnh thưởng. Ngày mong ước ấy không bao lâu sau đã đến với ngài. Cuối năm 1124, ngài bị một chứng sốt làm hao mòn sinh lực và băng hà ngày 12 tháng 12, sau 5 năm và 10 tháng chèo lái con thuyền Giáo hội. Thi hài ngài được để tại đại giáo đường Latêranô.

Tinmung