Phân Tích Bài Tin Mừng Thứ Bảy Tuần V Thường Niên Năm Lẻ (11/02/2017) – (Mc 8, 1-10)
“HỌ ĂN NO NÊ”.
BÀI ĐỌC I: St 3, 9-24
“Chúa đuổi ông ra khỏi vườn địa đàng, để cày ruộng đất”.
Trích sách Sáng Thế.
Thiên Chúa đã gọi Ađam và phán bảo ông rằng: “Ngươi ở đâu?” Ông đã thưa: “Con đã nghe thấy tiếng Ngài trong vườn địa đàng, nhưng con sợ hãi, vì con trần truồng và đang ẩn núp”. Chúa phán bảo ông rằng: “Ai đã chỉ cho ngươi biết rằng ngươi trần truồng, há chẳng phải tại ngươi đã ăn trái cây mà Ta đã cấm ngươi không được ăn ư?” Ađam thưa lại: “Người phụ nữ Chúa đã cho làm bạn với con, chính nàng đã cho con trái cây và con đã ăn”. Và Thiên Chúa phán bảo người phụ nữ rằng: “Tại sao ngươi đã làm điều đó?” Người phụ nữ thưa: “Con rắn đã lừa dối con và con đã ăn”. Thiên Chúa phán bảo con rắn rằng: “Bởi vì mi đã làm điều đó, mi sẽ vô phúc ở giữa mọi sinh vật và mọi muông thú địa cầu; mi sẽ bò đi bằng bụng, và mi sẽ ăn bùn đất mọi ngày trong đời mi. Ta sẽ đặt mối thù nghịch giữa mi và người phụ nữ, giữa miêu duệ mi và miêu duệ người đó, người miêu duệ đó sẽ đạp nát đầu mi, còn mi thì rình cắn gót chân người”. Chúa phán bảo cùng người phụ nữ rằng: “Ta sẽ làm cho ngươi gặp nhiều khổ cực khi thai nghén và đau đớn khi sinh con; ngươi sẽ ở dưới quyền người chồng, và chồng sẽ trị ngươi”. Người lại phán bảo Ađam rằng: “Vì ngươi đã nghe lời vợ mà ăn trái Ta cấm, nên đất bị nguyền rủa vì tội của ngươi. Trọn đời, ngươi phải làm lụng vất vả mới có mà ăn. Đất sẽ mọc cho ngươi đủ thứ gai góc, và ngươi sẽ ăn rau cỏ ngoài đồng. Ngươi phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi ngươi trở về đất, vì ngươi từ đó mà ra. Ngươi là bụi đất, nên ngươi sẽ trở về bụi đất”. Và Ađam đã gọi tên vợ mình là Evà: vì lẽ bà là mẹ của chúng sinh.
Thiên Chúa cũng làm cho Ađam và vợ ông những chiếc áo da và mặc cho họ. Và Người phán: “Này, Ađam đã trở thành như một trong chúng ta, biết thiện ác. Vậy bây giờ, đừng để hắn giơ tay hái trái cây trường sinh mà ăn và được sống đời đời”. Và Thiên Chúa đuổi ông ra khỏi vườn địa đàng, để cày ruộng đất, là nơi ông phát xuất ra. Và Người đã đuổi Ađam đi. Và ở phía đông vườn địa đàng Người đã đặt những thần Kêrubim và gươm lửa chớp chớp để canh giữ lối tới cây trường sinh.
Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 89, 2. 3-4. 5-6. 12-13
Đáp: Thân lạy Chúa, Chúa là chỗ chúng con dung thân, từ đời nọ trải qua đời kia (c. 1).
Xướng: 1) Ôi Thiên Chúa, trước khi núi non sinh đẻ, trước khi địa cầu và vũ trụ nở ra, tự thuở này qua thuở kia, vẫn có Ngài. – Đáp.
2) Chúa khiến con người trở về bụi đất, Người phán: “Hãy trở về gốc, hỡi con người”. Thực ngàn năm ở trước thiên nhan, tựa hồ như ngày hôm qua đã khuất, như một đêm thức giấc cầm canh. – Đáp.
3) Chúa khiến họ trôi đi, họ như kẻ mơ màng buổi sáng; họ như cây cỏ mọc xanh tươi, ban sáng cỏ nở hoa và xanh tốt, buổi chiều nó bị xén đi và nó héo khô. – Đáp.
4) Xin dạy chúng con biết đếm ngày giờ, để chúng con luyện được lòng trí khôn ngoan. Lạy Chúa, xin trở lại, chớ còn để tới bao giờ? Xin tỏ lòng xót thương tôi tớ của Ngài. – Đáp.
ALLELUIA: Tv94, 8ab
Alleluia, alleluia! – Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Chúa, và đừng cứng lòng. – Alleluia.
BÀI TIN MỪNG: Mc 8, 1-10
“Họ ăn no nê”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Trong những ngày ấy, dân chúng theo Chúa Giêsu đông đảo, và họ không có gì ăn, Người gọi các môn đệ và bảo: “Ta thương đám đông, vì này đã ba ngày rồi, họ không rời bỏ Ta và không có gì ăn. Nếu Ta để họ đói mà về nhà, họ sẽ mệt lả giữa đường, vì có nhiều người từ xa mà đến”. Các môn đệ thưa: “Giữa nơi hang địa này, lấy đâu đủ bánh cho họ ăn no!” Và Người hỏi các ông: “Các con có bao nhiêu bánh?” Các ông thưa: “Có bảy chiếc”. Người truyền dân chúng ngồi xuống đất, rồi Người cầm lấy bảy chiếc bánh, tạ ơn, bẻ ra và trao cho các môn đệ phân phát. Các ông chia cho dân chúng. Các môn đệ còn có mấy con cá nhỏ. Người cũng đọc lời chúc tụng và truyền cho các ông phân phát. Dân chúng ăn no nê và người ta thu lượm những miếng còn thừa lại được bảy thúng. Số người ăn độ chừng bốn ngàn. Rồi Người giải tán họ, kế đó Người cùng các môn đệ xuống thuyền mà đến miền Đal-ma-nu-tha.
Đó là lời Chúa.
___________________________
PHẦN MỞ ĐẦU:
Các Bài Đọc hôm nay liên quan đến những lợi ích và tai hại của thức ăn.
TRONG BÀI ĐỌC I Trích sách Sáng Thế, cả ma quỉ và tổ tiên con người phải lãnh nhận các hậu quả trầm trọng, vì đã bất tuân sự chỉ dẫn của Thiên Chúa để ăn trái của Cây Biết Thiện Ác.
Bài đọc I, Tác giả đã tường thuật lại cuộc đối thoại đầy thú vị và lịch sử giữa Thiên Chúa và hai con người đầu tiên sau khi đã pham tội.
Ta cần để ý những điểm sau đây:
1/. ĐIỂM THỨ NHẤT: “AI ĐÃ CHỈ CHO NGƯƠI BIẾT RẰNG NGƯƠI TRẦN TRUỒNG”.
Cái nhìn của con người về chính mình: trước và sau khi đã pham tội khác nhau một trời một vực.
Ngay từ lúc được tạo dựng, Ađam và Evà sống trong tình trạng trần truồng, không một mảnh vải che thân. Nhưng không ai cảm thấy xấu hổ về sự trần truồng đó, trái lại họ rất tốt đẹp, vì Thiên Chúa thấy họ cũng như mọi sinh vật được dựng nên đều tốt đẹp.
Nhưng từ khi nghe lời dụ dỗ của con rắn, phạm tội bất tuân lệnh Chúa, Ông bà Nguyên tổ đã trở nên xấu xa và họ mới cảm thấy xấu hổ vì sự trần truồng của mình.
Câu Chúa nói với Ađam làm cho ta phải suy nghĩ: “”Ai đã chỉ cho ngươi biết rằng ngươi trần truồng, há chẳng phải tại ngươi đã ăn trái cây mà Ta đã cấm ngươi không được ăn ư?”.
Có nghĩa, nếu con người không phạm tội, thì họ không thể biết mình trần truồng cho dù họ không mặc quần áo, lúc đó cái nhìn của con người về chính mình luôn trong sáng và thánh thiện. Họ luôn thấy mình tốt đẹp.
Chính do tội lỗi, mắt họ, cái nhìn của họ đã vẩn đục, họ mới nhận ra mình trần truồng.
Cũng như trong nghệ thuật, ông hoạ sĩ thường vẽ những bức tranh phụ nữ khoả thân rất đẹp trên phương diện nghệ thuật. Nhưng người xem lại nảy sinh những ý nghĩ méo mó. Như vậy, cùng sự khoả thân nhưng nó đẹp hay xấu tuỳ theo cái nhìn của con người.
Như vậy, với câu Chúa nói, ta có thể kết luận: không ai chỉ cho Ađam và Evà biết mình trần truồng, không ai chỉ hết, mà chính họ nhìn thấy mình như vậy.
Câu đầu tiên của Bài đọc I đã khẳng định điều đó. Tác giả viết: “Thiên Chúa đã gọi Ađam và phán bảo ông rằng: “Ngươi ở đâu?” Ông đã thưa: “Con đã nghe thấy tiếng Ngài trong vườn địa đàng, nhưng con sợ hãi, vì con trần truồng và đang ẩn núp”.
2/. ĐIỂM THỨ HAI: SỰ VÔ TRÁCH NHIỆM ĐỔ THỪA CHO NGƯỜI KHÁC.
Sự vô trách nhiệm và thói xấu đổ thừa cho người khác không phải bây giờ mới có mà nó đã xuất hiện từ thưở ban đầu.
Khi bị Thiên Chúa hạch cái tội tội ăn trái cấm, ông Ađam đã đổ thừa cho bà Evà, bà Evà đổ thừa cho con rắn. Cả hai ông bà không ai dám đứng ra nhận lãnh trách nhiệm về mình.
Tội lỗi đối với Chúa không phải là điều quan trọng, vì tội lỗi luôn thuộc về con người, còn tha thứ thuộc về Thiên Chúa.
Nếu ông Ađam và bà Evà dám can đảm nhìn nhận tội lỗi của mình có lẽ tình hình đã đi theo hướng khác. Họ có thể được Thiên Chúa tha thứ ngay lúc đó.
Nhưng chữ “nếu” ở đây chỉ là sự suy nghĩ con người thời nay, nó không thể có vì sự kiện đã xảy ra rồi.
Bao lâu con người biết ý thức về tội lỗi của mình và quyết tâm trở về với Chúa, họ sẽ được Chúa đón nhận và biến đổi thành con người mới.
Vì thế đừng bao giờ loanh quanh về lỗi lầm của mình, đừng đổ thừa cho hoàn cảnh, đổ thừa cho người khác. Chỉ khi nào ta biết nhìn nhận lỗi lầm của mình, ta mới xứng đáng nhận lãnh ơn tha thứ của Thiên Chúa. Vì “tội lỗi là của con người, tha thứ là của Thiên Chúa”.
3/. ĐIỂM THỨ BA: HÌNH PHẠT CỦA TỘI LỖI.
Tội lỗi luôn đi kèm với hình phạt cũng như công đức luôn đi với phần thưởng. Bất cứ tội nào dù nặng hay nhẹ đều có hình phạt đi kèm theo.
Tội của Ađam và Evà là Tội Nguyên Tổ nên hai ông bà đã nhận được hình phạt thật kinh khủng và tương xứng, Tác giả cũng chỉ ra những hình phạt cho hai ông bà:
+ Ông AĐAM:
1/. “Trọn đời, ngươi phải làm lụng vất vả mới có mà ăn”,
vì đất và các sinh vật đã bị nguyền rủa bởi tội của con người, tất cả không còn ngoan ngoãn nghe theo lời con người nữa. Con người phải vất vả làm lụng mới có mà ăn chứ nó không có sẵn như trong vườn Địa đàng. Và phải vất vả suốt cuộc đời.
2/. “Ngươi là bụi đất, nên ngươi sẽ trở về bụi đất”.
Con người không những vất vả, mà không còn trường sinh bất tử, họ phải chết, thân xác sẽ vùi xuống lòng đất và trở về với tro bụi.
Chúa Giêsu sẽ thực hiện Công trình cứu chuộc, Ngài sẽ trả lại cho con người sự sống đời đời. Nhưng sự sống đời đời chỉ được trả lại khi con người kết thúc đời này.
+ Bà EVÀ:
“Ta sẽ làm cho ngươi gặp nhiều khổ cực khi thai nghén và đau đớn khi sinh con; ngươi sẽ ở dưới quyền người chồng, và chồng sẽ trị ngươi”.
Người phụ nữ sẽ lãnh trách nhiệm mang thai và sinh con. Đó là Thiên chức cao cả của người phụ nữ. Nhưng sinh con không trong tình trạng bình thường mà phải đau đớn, đau đớn trong cô độc mà người ta thường ví đó là cuộc vượt cạn một mình.
Người vợ phải sống dưới quyền của người chồng.
+ CON RẮN:
“”Bởi vì mi đã làm điều đó, mi sẽ vô phúc ở giữa mọi sinh vật và mọi muông thú địa cầu; mi sẽ bò đi bằng bụng, và mi sẽ ăn bùn đất mọi ngày trong đời mi. Ta sẽ đặt mối thù nghịch giữa mi và người phụ nữ, giữa miêu duệ mi và miêu duệ người đó, người miêu duệ đó sẽ đạp nát đầu mi, còn mi thì rình cắn gót chân người”.
Con rắn là con vật vô phúc nhất trong các sinh vật, nó không được đi bằng chân mà phải bò bằng bụng.
Nhưng trong lời nguyền rủa này, Thiên Chúa đã hé lộ cho con người biết Chương trình Cứu độ của Ngài. Như vậy, lời hứa cứu độ đã được vang lên ngay từ thuở ban đầu.
4/. ĐIỂM THỨ TƯ: THIÊN CHÚA VẪN YÊU THƯƠNG CON NGƯỜI SAU KHI PHẠM TỘI.
Tác giả viết: “Thiên Chúa cũng làm cho Ađam và vợ ông những chiếc áo da và mặc cho họ”.
Có nghĩa Thiên Chúa không bỏ rơi hai ông bà, mà Ngài còn đích thân làm những chiếc áo da và mặc cho họ để có thể chống lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên, vì thiên nhiên lúc này đã bị nguyền rủa cùng với con người. Mặt khác, những chiếc áo này sẽ giúp con người vơi đi cái mặc cảm về sự trần truồng của mình.
Nhưng con người ngày nay lại muốn cởi chiếc áo đó ra để khoe sự loã lồ của họ.
Tác giả kết thúc bằng câu: “Và Người đã đuổi Ađam đi. Và ở phía đông vườn địa đàng Người đã đặt những thần Kêrubim và gươm lửa chớp chớp để canh giữ lối tới cây trường sinh.”
Có nghĩa, Cửa vườn Địa đàng, cửa Trời đã đóng lại không cho con người trở lại, chỉ sau khi khi Chúa Giêsu vâng phục Thánh ý Chúa Cha, chịu phép rửa của Gioan tại sông Giocđan, và với cái chết của Ngài trên thập giá, cửa trời đã được mở ra để chào đón con người trở về.
Đó là tất cả ý nghĩa của Bài đọc I hôm nay.
TRONG BÀI TIN MỪNG theo thánh Marcô, Chúa Giêsu làm phép lạ cho 4,000 người ăn no nê. Vì của ăn này, tất cả dân chúng trở nên mạnh khỏe và không bị ngất xỉu dọc đường.
Chúng ta bắt đầu đi vào Bài Tin mừng:
_____________________________
BÀI PHÂN TÍCH (Mc 8, 1-10)
Bài Tin mừng hôm nay (Mc 8, 1-10) Marcô tường thuật Phép lạ Đức Giêsu hóa bánh ra nhiều lần thứ hai. Như vậy đã có 02 phép lạ Đức Giêsu hóa bánh ra nhiều. Lần thứ nhất, được cả 04 Thánh sử thuật lại. Ta có thể liệt kê 02 phép lạ như sau:
+ PHÉP LẠ HÓA BÁNH RA NHIỀU LẦN THỨ NHẤT: Matthêu (Mt 14, 13 -21); Marcô (6, 30-44); Luca (Lc 9, 10 -17); Gioan (Ga 6, 1-13).
+ PHÉP LẠ HÓA BÁNH RA NHIỀU LẦN THỨ HAI: Matthêu (Mt 15, 32-39); Marcô (Mc 8, 1-10).
So sánh hai phép lạ:
+ LẦN THỨ NHẤT: Xảy ra gần Carphacnaum, vùng của Do Thái. Phép lạ từ 05 chiếc bánh và 02 con cá, nuôi sống cho 5.000 người đàn ông (không tính đàn bà và trẻ con) và còn dư 12 thúng đầy. Phép lạ lần thứ nhất do các môn đệ chủ động, đến xin Đức Giêsu giải tán dân chúng, để họ vào các làng mạc mà mua thức ăn.
+ LẦN THỨ HAI: Xảy ta tại vùng Decapolis, lãnh thổ của Dân Ngoại. Phép lạ từ 07 chiếc bánh và mấy con cá nhỏ, nuôi sống cho 4.000 người đàn ông (không tính đàn bà và trẻ con) và còn dư 07 thúng đầy. Phép lạ thứ hai do chính Đức Giêsu chủ động, sai các môn đệ lo cho dân chúng ăn.
“TRONG NHỮNG NGÀY ẤY, LẠI CÓ MỘT ĐÁM RẤT ĐÔNG, VÀ HỌ KHÔNG CÓ GÌ ĂN, NÊN ĐỨC GIÊ-SU GỌI CÁC MÔN ĐỆ LẠI MÀ NÓI: “THẦY CHẠNH LÒNG THƯƠNG ĐÁM ĐÔNG, VÌ HỌ Ở LUÔN VỚI THẦY ĐÃ BA NGÀY RỒI MÀ KHÔNG CÓ GÌ ĂN!”
Marcô mô tả khung cảnh hôm nay, CÓ MỘT ĐÁM RẤT ĐÔNG. Tiếp đến ông mô tả, “HỌ KHÔNG CÓ GÌ ĂN”. Họ đã ở với Đức Giêsu 03 ngày rồi.
“VÌ HỌ Ở LUÔN VỚI THẦY ĐÃ BA NGÀY RỒI MÀ KHÔNG CÓ GÌ ĂN!”
Thật kỳ lạ, một biển người theo Đức Giêsu đã 03 ngày, không ăn uống gì mà vẫn say mê nghe Ngài giảng, đủ cho thấy Đức Giêsu cuốn hút dân chúng thế nào. Lời của Ngài là lời Hằng sống, làm cho dân chúng quên đi và không còn nhớ cái đói, cái khát thể lý.
Bài Tin mừng hôm nay muốn nói cho con người thời đại biết, ngoài của ăn vật chất, còn một của ăn tinh thần nữa, đó là Lời Chúa.
Đã ba ngày họ theo Chúa mà quên cả ăn uống, thật là đáng phục; đáng phục vì họ ham nghe Lời Chúa giảng dạy đến quên cả ăn uống như vậy. Đáng phục hơn vì họ biết coi trọng đời sống tinh thần hơn cả đời sống vật chất. Đáng phục hơn nữa vì họ mê theo Chúa mà quên hết mọi sự.
Thánh sử Matthêu viết: “Đã có lời chép rằng: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.” (Mt 4, 4).
Hôm nay Đức Giê-su vẫn tiếp tục nuôi chúng ta trong Thánh Thể. Một chút bánh và rượu, kết quả từ lao công của con người, được Chúa Giê-su biến thành Mình Máu Người để trở nên nguồn sống cho ta.
Của ăn Lời Chúa quan trọng còn quan trọng hơn của ăn phần xác. Của ăn phần xác chỉ duy trì sự sống tạm bợ trên trần gian này, còn của ăn lời Chúa mới giúp ta có sức tiến về quê trời. Ta không được coi thường của ăn nào, và Lời Chúa phải được ta đặt đúng vị trí trên bậc thang giá trị của nó.
“THẦY CHẠNH LÒNG THƯƠNG ĐÁM ĐÔNG!”, Marcô muốn nói với con người qua mọi thời đại biết, Thiên Chúa luôn rung động trước nỗi khổ, nỗi lo lắng, trước cái đói của con người. Ngài chạnh lòng thương đến những nhu cầu, cho dù đó là nhu cầu vật chất.
Đức Giêsu đã nhìn thấy cơn đói đang hành hạ dân chúng, mặc dù họ vẫn say mê nghe Ngài giảng. Ngài chạnh lòng thương, có nghĩa từ tận đáy lòng yêu thương, Ngài đã nhận ra và nó đòi hỏi Ngài phải làm điều gì đó.
Vâng phải dừng lại ngay buổi giảng dạy để giải quyết vấn đề lương thực.
Trong quá khứ và hiện tại đã xuất hiện nhiều thuyết: Duy vật – Duy thần – Duy lý – Duy tâm,….
Bất kể lý thuyết nào có từ “DUY” đi phía trước trước, sẽ làm cho cái nhìn và hành động của con người bị lệch về một phía. Kitô giáo không duy gì hết, trên hết và trước hết, Kitô giáo là sự kết hợp với một Đấng, đó là Thiên Chúa. Và Kitô giáo diễn tả thật sống động sự kết hợp giữa con người với Thiên Chúa. Thiên Chúa luôn yêu thương con người và Ngài thấy rõ nỗi khao khát của con người. Vâng hôm nay Đức Giêsu đã chạnh lòng thương, vì đã 03 ngày rồi họ không có gì ăn.
“NẾU TA ĐỂ HỌ ĐÓI MÀ VỀ NHÀ, HỌ SẼ MỆT LẢ GIỮA ĐƯỜNG, VÌ CÓ NHIỀU NGƯỜI TỪ XA MÀ ĐẾN”.”
Đức Giêsu không chấp nhận giải pháp giải tán dân chúng, để họ tự giải quyết lương thực cho mình. Cũng như trong phép lạ hóa bánh ra nhiều lần thứ nhất, Ngài không chấp nhận giải pháp các môn đệ đưa ra, là giải tán dân chúng để họ tự lo liệu.
Giải tán dân chúng, đó là giải pháp quá dễ dàng, chẳng ai phàn nàn gì hết, vì họ đến đây do tự nguyện, và nghe Ngài giảng dạy 03 ngày nay cũng do tự nguyện. Nhưng một vị Thiên Chúa chạnh lòng thương, không thể chấp nhận giải pháp đó, chính Ngài phải hành động, vì chạnh lòng thương ắt phải đưa đến hành động.
Tại sao Đức Giêsu không chấp nhận giải pháp này?
Marcô viết: “HỌ SẼ MỆT LẢ GIỮA ĐƯỜNG, VÌ CÓ NHIỀU NGƯỜI TỪ XA MÀ ĐẾN. Chúa Giêsu đã lường trước hậu quả của giải pháp “Giải tán dân chúng”. Nếu để người ta xỉu ở dọc đường, hóa ra Thiên Chúa quá vô tâm sao? Không bao giờ.
“CÁC MÔN ĐỆ THƯA: “GIỮA NƠI HOANG ĐỊA NÀY, LẤY ĐÂU ĐỦ BÁNH CHO HỌ ĂN NO!”
Các môn đệ cũng hiểu được nỗi ưu tư của Đức Giêsu, nhưng các ông chỉ là con người, các ông cũng đành chịu. Marcô viết: “GIỮA NƠI HOANG ĐỊA NÀY”, đó là nơi không có gì hết. Như vậy cho dù có tiền cũng chẳng làm gì được. Marcô còn viết tiếp: “Lấy đâu ra bánh cho họ ăn no?” Marcô nhấn mạnh không phải chỉ ăn thôi, mà còn phải “ĂN NO”.
Như vậy bài toán sẽ không có lời giải với sức của con người, Marcô muốn chứng minh, việc Đức Giêsu sắp làm là một phép lạ, đó là việc của Thiên Chúa.
Tại sao các môn đệ không nhớ lại phép lạ hóa bánh ra nhiều lần thứ nhất?
Các ông đã chứng kiến phép lạ này thì các ông còn lo lắng gì nữa. Vả lại các ông cũng từng chứng kiến các phép lạ Đức Giêsu đã thực hiện, các ông phải an tâm chứ sao lại nao núng?
Thưa: 02 phép lạ hóa bánh ra nhiều cách nhau khá lâu, nhưng điều quan trọng, các môn đệ chưa phải là môn đệ chính danh, có nghĩa khi theo Đức Giêsu các ông vẫn còn mang những suy nghĩ của mình, suy nghĩ rất con người. Các ông còn phải trải qua nhiều thử thách nữa mới có thể toàn tâm toàn ý với Đức Giêsu. Bằng chứng, khi Đức Giêsu bị nộp cho quân dữ, các ông chỉ biết nghĩ đến mình mà bỏ trốn, người ở lại thì lo chối Thầy, hoặc đứng từ xa mà nhìn. Chỉ khi Chúa Thánh Thần hiện xuống mới biến đổi các ông toàn diện. Như vậy, trước sự kiện hôm nay, các ông chỉ biết suy nghĩ theo con người, và các ông đã bế tắc.
“NGƯỜI HỎI CÁC ÔNG: “ANH EM CÓ MẤY CHIẾC BÁNH?” CÁC ÔNG ĐÁP: “THƯA CÓ BẢY CHIẾC.”
Với quyền phép của Thiên Chúa, Chúa Giêsu có thể từ không có gì làm ra bánh và cá để cho dân chúng ăn. Thế nhưng, Ngài đã không làm như thế, mà Ngài đã dùng mấy chiếc bánh và mấy con cá có sẵn của con người.
Nhiều nhà chú giải còn gọi phép lạ bánh hóa nhiều là phép lạ của tình thương. Vì thế mà phép lạ bánh hóa nhiều được coi như là hình ảnh của Bí tích Thánh Thể là Bí Tích Tình yêu. Vì yêu thương mà Chúa đã lấy thịt máu mình để nuôi con người.
Xin Chúa cho chúng ta biết quảng đại chia sẻ với những anh chị em chúng ta để qua đó chúng ta được xứng đáng là con cái Thiên Chúa.
Niềm vui biết chia sẻ là niềm vui được nhân gấp đôi và của cải được chia sẻ là của cải còn mãi.
“NGƯỜI TRUYỀN CHO HỌ NGỒI XUỐNG ĐẤT. RỒI NGƯỜI CẦM LẤY BẢY CHIẾC BÁNH, DÂNG LỜI TẠ ƠN, VÀ BẺ RA, TRAO CHO CÁC MÔN ĐỆ ĐỂ CÁC ÔNG DỌN RA. VÀ CÁC ÔNG ĐÃ DỌN RA CHO ĐÁM ĐÔNG.”
Ta để ý từng động tác của Đức Giêsu: CẦM LẤY – TẠ ƠN – BẺ RA – TRAO CHO.
“RỒI NGƯỜI CẦM LẤY BẢY CHIẾC BÁNH”, có nghĩa cầm tất cả, vì 07 chiếc bánh này sẽ có phần mình trong phép lạ sắp thực hiện. Cũng như vị linh mục khi Truyền phép cho bánh và rượu trở nên Mình và Máu Chúa, tất cả các bình đựng bánh chưa làm phép, phải được mở ra đặt trên khăn thánh bàn thờ.
Dâng lời tạ ơn. Đức Giêsu tạ ơn Chúa Cha, vì tất cả mọi sự phải quy hướng về Ngài. Chúa Cha là nguyên nhân và cùng đích của muôn loài muôn vật. Ngài sẽ nuôi sống con người qua những chiếc bánh này, quyền năng Thiên Chúa sẽ thực hiện điều kỳ diệu.
Cuối cùng, Marcô viết: “trao cho các môn đệ để các ông dọn ra. Và các ông đã dọn ra cho đám đông.” Tại sao Đức Giêsu không tận tay trao cho dân chúng?
Chúa Giêsu làm phép bánh xong, Ngài không đích thân phân phát mà trao cho các môn đệ để các ông phân phát. Nghĩa là tuy Chúa có thể ban bánh cho lương dân, nhưng Ngài muốn chúng ta góp phần mình vào đó.
Tóm lại: Phép lạ hóa bánh ra nhiều gồm các bước sau đây:
1/. Cầm lấy.
2/. Tạ ơn.
3/. Bẻ ra.
4/. Trao cho các môn đệ để tiếp tục bẻ ra.
“CÁC ÔNG CŨNG CÓ MẤY CON CÁ NHỎ. NGƯỜI ĐỌC LỜI CHÚC TỤNG, RỒI BẢO CÁC ÔNG DỌN CẢ CÁ RA. ĐÁM ĐÔNG ĐÃ ĂN VÀ ĐƯỢC NO NÊ.”
“Đám đông đã ăn và được no nê”, không chỉ “no” mà là “NO NÊ”, có nghĩa phép lạ đã đáp ứng tất cả nhu cầu thể lý của dân chúng. Họ không ăn theo kiểu làm khách, ăn cho có, nhưng ăn thật tình, ăn mặc sức.
“NGƯỜI TA NHẶT LẤY NHỮNG MẨU BÁNH CÒN THỪA: BẢY GIỎ! MÀ ĐÁM ĐÔNG CÓ KHOẢNG BỐN NGÀN NGƯờI.”
4.000 người ăn no nê + 07 giỏ còn dư, nó muốn nói lên điều gì?
Marcô muốn nói cho toàn thế giới biết: Ơn huệ của Thiên Chúa luôn dồi dào cho con người, không bao giờ cạn kiệt. Thiên Chúa luôn ban ơn cho ta cách dồi dào, ta xin một, Thiên Chúa ban cho ta gấp xa con số ấy.
Đến đây độc giả có thể đặt ra câu hỏi:
Tại sao ngày hôm nay con người lại nghèo, con người lại lo lắng như vậy? Có phải tại Thiên Chúa không còn quan tâm nữa không?
Ta thấy rõ nét nhất, đó là SỰ VÔ CẢM CỦA CON NGƯỜI HÔM NAY.
Con người ngày nay sống rất vô cảm, thờ ơ với người chung quanh, họ chỉ biết nghĩ đến mình và con cái mình, không còn biết ai khác, y như trên trái đất này chỉ có mình họ. Họ không cảm thấy chút áy náy với người nghèo, với người bất hạnh chung quanh. Đây không phải là tất cả, nhưng nó lại là tình trạng phổ biến. Điều này đúng không những trên phương diện cá nhân, mà còn đúng trên phuơng diện tập thể và quốc gia. Chính sự vô cảm này tạo ra hố sâu ngăn cách giữa giàu và nghèo như hiện nay.
“NGƯỜI GIẢI TÁN HỌ. LẬP TỨC, ĐỨC GIÊ-SU XUỐNG THUYỀN VỚI CÁC MÔN ĐỆ VÀ ĐẾN MIỀN ĐAN-MA-NU-THA.”
Đức Giêsu giải tán dân chúng sau khi đã ăn no nê. Ta có thể nói đây là cuộc rao giảng Tin mừng lý tưởng và rất thành công. Trước tiên, Đức Giêsu ban Lời Hằng Sống làm lương thực nuôi dưỡng phần hồn, sau đó Ngài thực hiện phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi phần xác. Như vậy Ngài quan tâm đến cả phần hồn và phần xác cho con người. Bây giờ Ngài có thể yên tâm giải tán dân chúng mà không sợ họ bị xỉu dọc đường.
“Lập tức, Đức Giê-su xuống thuyền với các môn đệ và đến miền Đan-ma-nu-tha.”
Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa đã nuôi con mỗi ngày. Xin Chúa ban cho con quả tim biết xót thương trước những thiếu thốn của anh chị em.
Amen.
______________________________
Giuse Nguyễn Viết Tâm.
Danh mục tin tức
- Bài Giảng - Suy Niệm Tin Mừng (5707)
- Bài Hát mỗi tuần (168)
- Ca Đoàn (17)
- Các Chương Trình cần biết (735)
- Đức Mẹ Maria (290)
- Giải đáp - Thắc mắc - Sống Đạo (1763)
- Giáo Họ (32)
- Hạnh Các Thánh (1111)
- Hạnh các Thánh Tử Đạo Việt Nam (22)
- Học hỏi Thánh Vịnh (1)
- Hội Đoàn (38)
- Kiến thức về đời sống - Y tế (669)
- Kinh Sách - Văn Kiện (37)
- Lớp Giáo Lý (48)
- Sáng Tác Thơ Ca - Nhạc... (486)
- Sinh hoạt Giáo Dân (52)
- Tâm Tình Giáo Dân (501)
- Thánh Giuse (48)
- Thánh Lễ - Chầu Thánh Thể (248)
- Thánh Tích (60)
- Thánh Vịnh (2)
- Thông Báo (607)
- Thư Giãn & Lắng Đọng (459)
- Tin Công Giáo Thế Giới (8199)
- Tin Công Giáo Việt Nam (1091)
- Truyện ngắn (9)
- Tưởng Niệm (470)
- Video Học Hỏi Kinh Thánh - Audio Bài Giảng (47)