Ngày 30 Tháng 11 Thánh Giu-Se Du Linh Mục Thừa Sai Tử Đạo
Gương Thánh nhân: Các thánh tử đạo Việt Nam phải chịu nhiều hình khổ khác nhau để làm chứng cho Chúa, để hiệp thông với sự thương khó Chúa Giê-su cứu rỗi linh hồn mọi người. Theo sử liệu, trong số 117 Hiển thánh Tử đạo được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 suy tôn ngày 19 tháng 06 năm 1988, có 04 vị bị lăng trì (chặt tay chân trước khi chém đầu), 06 vị bị thiêu sinh (đốt sống), 75 vị xử trảm (chém đầu), 22 vị xử giảo (tròng dây chéo vào cổ rồi kéo cho đến chết), 09 vịrũ tù (chết trong tù) và 01 vị xử bá đao (cắt 100 miếng thịt trong thân thể), đó là Thánh Giu-se Du.
Giu-se Du sinh ngày 17 tháng 08 năm 1803, tại nước Pháp. Ngay từ nhỏ, cậu đã muốn đi tu làm Linh mục. Nhưng vì gia đình nghèo, cha mẹ không thể đáp ứng nguyện vọng của cậu được, nên tìm cách trì hoãn, cố ý cho cậu đổi ý định. Thấy cậu mãi kiên quyết một lòng theo Chúa, năm 1821 cha mẹ buộc lòng phải thắt lưng buộc bụng lo cho cậu vào chủng viện. Sau khi chịu chức phó tế, thầy Giu-se xin gia nhập Hội Thừa sai Pa-ri, cốt ý để sau nầy làm Linh mục sẽ đi truyền giáo tại các vùng Viễn Đông. Đúng như lòng sở nguyện, ngày 04 tháng tư năm 1829, thầy Giu-se được lãnh Bí tích Truyền chức Thánh, và sau đó đáp tàu sang Việt Nam . Nhưng vì lúc đó vua Minh Mạng đang bắt đạo gắt gao, cha phải dừng lại ở Ma-cao, mãi đến đầu tháng 03 năm 1830, mới vào đến Lái Thiêu. Cha ở đây học tiếng, chọn tên Việt Nam là Du, rồi đi giúp giáo hữu ở Nam Vang (khi đó thuộc địa phận Đàng Trong). Ít lâu sau, cha được gọi trở lại Lái Thiêu, làm giáo sư chủng viện, đồng thời đảm trách 25 họ đạo trong tỉnh Bình Thuận. Thật là một trách nhiệm nặng nề, lớn lao. Suốt ngày cha phải tận dụng thời giờ, vừa lo dạy dỗ chủng sinh, vừa ban các Bí tích cho giáo hữu, vừa giảng đạo cho lương dân. Trong một bức thư gởi về gia đình, cha viết:
“Con đang đảm trách 25 họ đạo rất cách xa nhau. Muốn chu toàn bổn phận, con phải hết sức cố gắng tận dụng thời giờ. Từ năm giờ sáng đến 9 giờ tối con phải làm việc cật lực, để vừa giúp lo các giáo hữu vừa giảng đạo cho lương dân…”
Cha mới đi hết 25 họ đạo được hai lần thì vua Minh Mạng ra lệnh lùng bắt hết các giáo sĩ ngoại quốc. Đức cha Từ và các cha thừa sai phải trốn qua Thái Lan, chỉ một mình cha hy sinh ở lại, lén lút đi giúp các họ đạo ở vùng Lục Tỉnh, như Cái Nhum, Cái Mơn, Giồng Rùm, Mặc Bắc…
Năm 1834, Lê Văn Khôi nổi lên chống lại triều đình, chiếm lấy thành Gia-định (Sàigòn). Y muốn nhờ cha kêu gọi giáo dân theo phe mình, nên đến Mặc Bắc bắt ép cha về Gia-định, yêu cầu cha ký tên vào các bản văn viết sẵn, để kêu mời người Công giáo tham gia chống lại triều đình. Cha nhất quyết từ chối và nói:
“Tôi đến Việt Nam chỉ để giảng đạo. Việc binh lính chiến tranh tôi không bao giờ biết tới.
Ngày 08 tháng 09 năm 1835, quân triều đình chiếm lại được thành Gia-định. Cha vừa dâng lễ xong thì quân lính áp vào bắt, đánh đập tàn nhẫn rồi nhốt vào củi hết sức chật hẹp, giải về kinh đô.
Trong thời gian ở đây, cha phải chịu tra khảo vô cùng đau đớn, bắt ép phải nhận tội tham gia phản loạn với Lê Văn Khôi. Quan cho nung đỏ kềm sắt, kẹp vào hai đùi cha đến khi thịt bị cháy khét. Nhưng cha luôn khẳng định:
– Tôi không bao giờ tham gia với Lê Văn Khôi. Tôi chỉ làm việc tông đồ, rao truyền đạo Chúa.
Thấy không buộc được tội tham gia phản loạn, quan bắt tội giảng đạo và bảo đạp lên thập giá. Nhưng vị anh hùng đức tin tuyên bố thà chết chớ không thể thất trung với Chúa. Và kết quả là cha hưởng được án bá đao, một cực hình kinh khủng nhất mà chỉ một mình cha được lãnh nhận. Đó là phần thưởng lớn lao dành cho người Chúa thương.
Sáng sớm ngày 30 tháng 11 năm 1835, quân lính điệu vị anh hùng đức tin ra pháp trường Thợ Đúc. Bốn lý hình đã chực sẵn: một tên cầm kềm, một tên cầm dao, một tên đếm cho đủ 100 miếng thịt cắt ra, còn tên kia biên vào sổ.
Sau hồi trống hiệu, lý hình bắt đầu cắt miếng da trên trán, rồi xẻo từng miếng thịt trên ngực, trên tay… cho đến khi đủ 100 miếng… Thử hỏi trên thế gian nầy có đau đớn nào bằng? Còn cực hình nào hơn? !… Đã vậy, sau khi vị chứng nhân tắt thở, quân lính còn cắt đầu ngài, chặt thân mình ngài ra làm bốn, ném xuống sông, còn đầu thì xay nát rồi rắc xuống sau. Thật là một cái chết vô cùng thê thảm ! Thiết tưởng không còn bằng chứng nào hùng hồn mạnh mẽ hơn nữa của niềm tin vào Thiên Chúa…
Đức Thánh Cha Lê-ô 13 đã phong Chân phước cho cha Giu-se Du ngày 27 tháng 05 năm 1900. Và ngày 19 tháng 06 năm 1988, Đức Giáo Chủ Gioan Phaolô 2 suy tôn ngài lên Hiển Thánh.
Quyết tâm: Quyết chí một lòng trung thành với Chúa, tận dụng thời giờ Chúa ban để mở rộng Nước Chúa, và sẵn sàng chịu mọi khốn khó để làm chứng cho Chúa, theo gương thánh Giu-se Du, Linh mục thừa sai tử đạo.
Lời nguyện:Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại, luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng.
GPVL
Danh mục tin tức
- Bài Giảng - Suy Niệm Tin Mừng (5707)
- Bài Hát mỗi tuần (168)
- Ca Đoàn (17)
- Các Chương Trình cần biết (735)
- Đức Mẹ Maria (290)
- Giải đáp - Thắc mắc - Sống Đạo (1763)
- Giáo Họ (32)
- Hạnh Các Thánh (1111)
- Hạnh các Thánh Tử Đạo Việt Nam (22)
- Học hỏi Thánh Vịnh (1)
- Hội Đoàn (38)
- Kiến thức về đời sống - Y tế (669)
- Kinh Sách - Văn Kiện (37)
- Lớp Giáo Lý (48)
- Sáng Tác Thơ Ca - Nhạc... (486)
- Sinh hoạt Giáo Dân (52)
- Tâm Tình Giáo Dân (501)
- Thánh Giuse (48)
- Thánh Lễ - Chầu Thánh Thể (248)
- Thánh Tích (60)
- Thánh Vịnh (2)
- Thông Báo (607)
- Thư Giãn & Lắng Đọng (459)
- Tin Công Giáo Thế Giới (8199)
- Tin Công Giáo Việt Nam (1091)
- Truyện ngắn (9)
- Tưởng Niệm (469)
- Video Học Hỏi Kinh Thánh - Audio Bài Giảng (47)