Ngày 24 Tháng 11 Các Thánh Tử Đạo Việt Nam Bổn Mạng Hội Thánh Việt Nam

23/11/2016
1

Gương Thánh nhân: Hôm nay Giáo hội Công giáo và đặc biệt Hội thánh Việt Nam mừng kính toàn thể CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM . Lịch Công giáo (“những ngày lễ Công giáo”) đề là lễ “Thánh An-rê Trần An Dũng Lạc và các bạn Tử đạo”.

Theo sử liệu, đạo Chúa được truyền giảng tại Việt Nam vào thế kỷ 16. Và suốt gần 300 năm sau đó, đã có khoảng 130.000 Ki-tô hữu bị giết vì đạo, do trung thành giữ vững đức tin và để nên hạt giống trổ sinh thêm người có đạo; trong số đó có 117 vị đã được Đức Giáo Chủ Gioan Phaolô 2 suy tôn lên Hiển thánh ngày 19 tháng 06 năm 1988, gồm có 08 Giám mục, 50 Linh mục, 16 Thầy giảng, 01 Chủng sinh và 42 Giáo dân. Các ngài đã phải chịu rất nhiều hình khổ: 79 vị bị trảm quyết (chặt đầu), 16 vị xử giảo (siết cổ chết), 08 vị chết rũ tù, 06 vị bị thiêu sống, 04 vị bị lăng trì (chặt tay chân), 01 vị xử bá đao (lóc 100 miếng thịt ), 01 vị tử thương.

Hội Đồng Giám mục chọn các thánh tử đạo Việt Nam làm bổn mạng Giáo Hội Việt Nam, để nhờ các ngài cầu bầu cùng Chúa cho đạo thánh ngày càng phát triển trên quê hương xứ sở, và cho mọi tín hữu biết noi gương các ngài, luôn can đảm trung thành với Chúa.

Hôm nay cũng là ngày:

THÁNH PHÊ-RÔ CAO, PHÊ-RÔ KHOA VÀ VINH SƠN ĐIỂM
Giám Mục và Linh Mục Tử Đạo

Gương Thánh nhân: Sau khi bị bắt, Đức Cha Cao, hai cha Phê-rô Khoa và Vinh-sơn Điểm bị nhốt chung trong ngục ở Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Suốt thời gian ở trong ngục, mỗi ngày ba vị cùng nhau lần chuỗi Môi Khôi, kêu xin Đức Mẹ ban ơn giúp sức, để đủ sức mạnh và can đảm chịu mọi cực hình vì Chúa. Các ngài hoàn toàn phó thác đời mình cho Mẹ là Nữ Vương hàng Linh mục. Sau mỗi khi lần chuỗi các ngài đồng thanh cầu khẩn: “Lạy Mẹ Ma-ri-a, xưa Mẹ đã dâng Con yêu dấu của Mẹ trong đền thờ và trên Thánh giá, nay xin Mẹ cũng dâng hiến chúng con trong cuộc tử đạo…”

Nhờ đó, các ngài đã chiến thắng mọi khổ hình, vượt qua mọi thử thách, trung thành với Chúa đến hơi thở cuối cùng.

* * *

Phê-rô Cao sinh ngày 20 tháng 02 năm 1808, tại miền Co-rê nước Pháp.

Cha mẹ muốn cho cậu làm Linh mục, nên ép cậu vào chủng viện. Cậu miễn cưỡng vâng lời, song chẳng cảm thấy hứng thú mộ mến gì. Do đó, cậu sống trong chủng viện như lụt bình trôi; chẳng những thế, cậu còn lỗi phạm kỷ luật như cơm bữa. Cha giám đốc phải xử phạt cậu thường xuyên, nhưng rồi cậu cũng chứng nào tật nấy, chẳng sửa đổi được chút nào. Song Chúa quan phòng đã sắp đặt cho cậu. Một hôm cậu bị cơn sốt nặng. Trên giường bệnh, cậu được dịp đọc cuốn Niên Giám của Trường Truyền Giáo, ghi lại cuộc đời của các vị giảng đạo ở Viễn Đông. Cậu cảm thấy phấn khởi, muốn nối gót các nhà truyền giáo, đem Chúa đến cho những người ở miền xa. Khi mạnh lại, cậu xin chuyển qua chủng viện Hội Thừa sai Pa-ri, ngày ngày chuyên cần học hỏi tu luyện, với ước nguyện làm tông đồ mở rộng Nước Chúa. Ngày 21 tháng 11 năm 1830, thầy Phê-rô thụ phong Linh mục, và lên đường truyền giáo.

Dọc đường tàu bị bão tố, cha phải dừng lại ở Ma-cao. Đến ngày 15 tháng 05 năm 1832, cha mới tới Việt Nam . Sau thời gian học tiếng, cha lấy tên là Cao, và được Đức Cha Du, Giám mục giáo phận Tây Đàng Ngoài sai đi rao giảng Tin mừng tại Nghệ An, Hà Tỉnh và Bố Chính.

Từ ngày đó, cha lăn xả vào cánh đồng truyền giáo, đem hết tài năng sức lực phục vụ các linh hồn, rao truyền đạo Chúa cho lương dân. Nhưng mới hoạt động tông đồ được mấy tháng, thì ngày 06 tháng giêng năm 1833, vua Minh Mạng ra chiếu chỉ cấm đạo toàn quốc. Cha phải ẩn trốn rày đây mai đó để lo việc mục vụ, ban các Bí tích cho các giáo hữu. Cuộc bắt đạo ngày càng gay gắt, cha phải xuống hầm ẩn trốn. Quan quân lục soát tìm kiếm không gặp cha, họ liền bắt một thiếu nữ có đạo, đánh đập tra khảo dữ dội, buộc phải chỉ chỗ cha trú ẩn. Cô can đảm không khai, nhưng người cha thấy con mình bị đòn đau đớn quá thì cầm lòng không nổi, đã chỉ dẫn cho quân lính bắt cha, giải về Đồng Hới, nhốt chung với cha Khoa và cha Điểm. Chính trong thời gian bị giam ở đây, cha nhận được văn thư Tòa Thánh, đặt cha làm Giám mục, coi sóc giáo phận Tây Đàng Ngoài, thay cho Đức Cha Du.

Phê-rô Vũ Đăng Khoa sinh năm 1790, tại xứ Thuận Nghĩa tỉnh Nghệ An. Lớn lên cậu theo học với Cha Hòa và cha Phương. Hai cha thấy cậu giỏi giắn đạo đức và có ý muốn dâng mình cho Chúa, thì gởi vào chủng viện Vĩnh Trị ở Nam Định. Năm 1820, thầy Khoa được thụ phong Linh mục.

Đức Cha bổ nhiệm cha làm phụ tá cha Vinh-sơn Điểm, coi sóc giáo hữu các xứ Lu Đăng và Vĩnh Phước, thuộc hạt Bố Chính. Hằng ngày cha nhiệt thành phụ giúp cha sở, giảng dạy giáo lý, ngồi tòa giải tội, huấn luyện tân tòng. Trong thời gian 09 năm phụ tá cha Điểm, cha học được nhiều kinh nghiệm mục vụ, nên Đức Cha cử đi làm chánh sở giáo xứ Cồn Dừa. Với tài đức đã tập luyện và kinh nghiệm đã thu thập được, cha hoạt động tông đồ đắc lực, giúp giáo hữu nhiệt thành sống đạo, đem nhiều người ngoại giáo trở về với Chúa

Đang lúc cha hăng say hoạt động tông đồ, thì ngày 06 tháng giêng năm 1833, vua Minh Mạng ra sắc chỉ cấm đạo trên toàn quốc: giáo sĩ cũng như tín hữu bị lùng bắt khắp nơi, thánh đường bị triệt hạ, cơ sở đạo bị phá hủy. Cha phải ẩn nấp và thay đổi chỗ ở luôn, để ban các Bí tích cho giáo dân, khuyến khích họ trung thành giữ vững đức tin. Đêm 02 tháng 07 năm 1838, cha đang trú ẩn ở làng Lê Sơn, thì quan quân đến bao vây bắt giải về Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, giam chung với Đức Cha Cao và Cha Điểm.

Vinh-sơn Nguyễn Thế Điểm sinh năm 1761, tại An Do tỉnh Quảng Trị, thuộc địa phận Tây Đàng Ngoài.

Lớn lên, cậu nghe theo tiếng Chúa gọi, xin vào chủng viện Kẻ Vĩnh ở Nam Định. Sau thời gian tu luyện hoc hành, thầy Vinh-sơn Điểm được thụ phong Linh mục, Đức Cha Du bổ nhiệm cha lãnh chánh xứ Cồn Nam, kiêm luôn mấy họ đạo lân cận thuộc hạt Bố Chính.

Mới chịu chức Linh mục mà phải đảm đương một vùng rộng lớn, với nhiều giáo dân, cha hết sức lo âu, ngày đêm kêu xin Chúa ban ơn trợ lực để chu toàn trách vụ. Mỗi tuần cha ăn chay cầu nguyện cho con chiên bổn đạo biết lo làm tròn bổn phận đối với Chúa và Hội thánh. Cha quan tâm đặc biệt đến việc đào tạo các thầy giảng, để có người cộng tác trong việc tông đồ mục vụ.

Năm 1838, cuộc bách hại của vua Minh Mạng trở nên ác liệt. Quan quân ngày đêm truy lùng bắt bớ, giết hại. Lúc đó cha đã cao niên, tuổi già sức yếu, phải lặn lội trốn tránh để lo cho đàn chiên. Một hôm, đang lúc cha đi tìm nơi trú ẩn thì bị bắt, giải về Đồng Hới. Trong tù, cha gặp Đức Cha Cao và Cha Khoa.

Cùng sống chung trong ngục, mỗi ngày ba vị hiệp nhau lần chuỗi Môi Khôi, kêu cầu Đức Mẹ cầu thay nguyện giúp cho được can đảm chịu chết vì Chúa.

Trong thời gian bị giam ở đây, các ngài chịu tra tấn nhiều lần, buộc đạp lên Thánh giá, chối đạo. Nhưng các ngài luôn luôn từ khước, mạnh mẽ tuyên xưng niềm tin vào Chúa Ki-tô.

Thấy cực hình không lay chuyển nổi lòng tin sắt đá của các vị, quan phải chịu thua, làm án gởi về Kinh. Ngày 24 tháng 11 năm 1838, bản án vua Minh Mạng châu phê đã về tới Đồng Hới. Theo đó, Đức Cha Cao bị kết án xử trảm (chém đâu), còn cha Khoa và cha Điểm thì lãnh án xử giảo (thắt cổ đến chết).

Tại pháp trường Đồng Hới, cha Khoa và cha Điểm chịu xử giảo trước. Đến lượt Đức Cha Cao, lý hình muốn được bình tĩnh để làm phận vụ, nhưng vì lỡ uống rượu quá chén, anh chém trật vào tai, và vai Đức Cha, mãi đến nhát thứ bảy, đầu vị anh hùng mới lìa khỏi cổ.

Ngày 27 tháng 05 năm 1900, Đức Thánh Cha Lê-ô 13 đã tôn phong các ngài lên Chân phước, và ngày 19 tháng 06 năm 1988 Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 suy tôn lên Hiển Thánh.

Quyết tâm: Noi gương thánh Phê-rô Cao, Phê-rô Khoa và Vinh-sơn Điểm tử đạo, nhiệt thành rao giảng đạo Chúa, và hằng ngày siêng năng lần chuỗi Môi Khôi, cậy nhờ Đức Mẹ phù giúp hy sinh chịu khó làm chứng cho Chúa.

Lời nguyện: Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại, luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng.