Ngày 13 Tháng 1 Thánh Hilariô Giám Mục Tiến Sĩ
* Gương thánh nhân.
Là con một gia đình quý tộc, thánh Hi-la-ri-ô sinh năm 320 tại Pô-chê, nước Pháp. Lớn lên, ngài theo học văn chương và triết lý, đặc biệt ham mê tìm hiểu đạo và Thiên Chúa. Ngài hiểu rằng hạnh phúc thật của con người không phải ở đời này; và ngài muốn tìm hạnh phúc thật, hạnh phúc vĩnh cửu .
Dịp may thánh nhân gặp được cuốn Kinh Thánh. Ngài say mê học hỏi, nghiên cứu Lời Chúa. Nhờ đó, ngài nhận biết Chúa là Thiên Chúa chân thật tốt lành, và đã xin gia nhập đạo cùng với gia đình.
Từ đó, ngài sống đạo đức gương mẫu. Và mặc dù có gia đình, ngài được phong chức linh mục. Rồi năm 250, thánh nhân được chọn làm Giám mục tại chính quê hương là Pô-chê.
Lúc đó, bè rối Ariô nổi lên. Họ không tin nhận Thiên tính của Chúa Giêsu. Thánh nhân chống đối mãnh liệt, nên bị Hoàng đế Công-tăn-ti II bắt đi đày ở Phigi. Tại đây, ngài viết khảo luận về ” Thiên Chúa Ba Ngôi “ để bảo vệ Thiên tính của Chúa Giêsu. Ngài nói: ” Tôi không bảo vệ được đức tin bằng lời giảng dạy, thì tôi rao truyền Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật bằng sách vở”.
Thánh nhân hết lòng tôn kính và bảo vệ tín điều Một Chúa Ba Ngôi. Trong cuốn khảo luận về Thiên Chúa Ba Ngôi. Ngài viết: “ Lạy Cha là Thiên Chúa toàn năng, co ý thức rằng: con phải hiến dâng công việc chính trong đời con cho Cha, để tâm tư và và ngôn ngữ của con phải nghĩ và nói về Cha. Bởi vì ơn ngôn ngữ mà Cha đã ban cho con chẳng làm gì ích lợi cho con hơn là được dùng để phục vụ Cha bằng cách rao giảng và trình bày Cha là Đấng nào. Cha là Chúa Cha, Cha của Con Một Thien Chúa. Con phải trình bày điều đó cho thế gian chưa nhận biết và cho kẻ lạc giáo đã chối bỏ , thế nên, chúng con trông cạy Cha kích thích bước đầu của công việc khó khăn này; không ngớt ban thành công để cổ võ, và cho tham dự vào tinh thần của các ngôn sứ và các tông đồ; để chúng con hiểu lời các ngài đúng ý của các ngài, và dùng đúng các từ ngữ để diễn tả các thực tại mà các ngài đã ám chỉ. Vì chúng con sẽ phải nói về những điều các ngài đã tuyên xưng trong mầu nhiệm: tức là về Cha là Thiên Chúa vĩnh cữu; một mình Cha không bao giờ sinh ra; một mình Chúa Giêsu đã sinh ra bởi Cha từ đời đời; không được tưởng có nhiều Thiên Chúa, mặc dầu có sự khác biệt thật sự; cũng không được bảo Người đã chẳng được sinh ra bởi Cha là Thiên Chúa duy nhất, và cũng không được nói Ngài chẳng phải là Thiên Chúa thậ vì Người sinh ra bởi Cha là Thiên Chúa thật”.
Ngài cũng dùng thư từ liên lạc với giáo sĩ và giáo dân trong giáo phận. Với những lời lẽ thân tình và đầy lòng sốt mến, ngài khuyến khích họ can đảm vững đức tin, trung thành với chân lý của Chúa.
Sau bốn năm bị lưu đày, ngài được trở về quê hương năm 360. Ngày trở về của ngài cũng thật huy hoàng. Toàn dân chứ không riêng gì giáo dân ra nghênh đón ngài như một vị anh hùng đã chiến thắng vẻ vang.
Về đến giáo phận, công việc trước nhất của thánh nhân là chỉnh đốn lại những hậu quả thảm hại do lạc thuyết gây ra. Ngài củng cố lại hàng giáo sĩ, kêu gọi giáo dân học hỏi Lời Chúa, sống theo Tin Mừng của Chúa.
Thánh nhân rất thông giỏi Kinh Thánh. Ngài viết nhiều sách giải thích Thánh vịnh và Phúc âm thánh Mát thêu, và phổ biến rộng rãi trong toàn giáo phận.
Những năm cuối đời, thánh nhân dành để cho việc cầu nguyện và sám hối. Ngài cầu nguyện liên lỉ và không bao giờ bước lên bàn thờ dâng thánh lễ mà chẳng xét mình xưng tội trước. Ngài nói: ” Ngày nào không xưng tội được, tôi thấy mình bất xứng, không đáng dâng của lễ cho Chúa. Những ngày đó đối với tôi là những ngày tang chê sầu buồn”.
Thánh nhân qua đời ngày 13 tháng giêng năm 386. Và năm 1852, ngài được Đức Giáo Hoàng tôn phong tiến sĩ Hội thánh.
* Quyết tâm: Noi gương thánh Hi-la-ri-ô, hằng ngày lo củng cố niềm tin vào Chúa Giêsu là Thiên Chúa, bằng cách siêng năng học hỏi Giáo Lý và Lời Chúa dạy trong Thánh Kinh. Đồng thời can đảm tuyên xưng đức tin ra trước mặt mọi người, dù có gian nan, lao khổ cũng sẵn lòng chấp nhận.
* Lời nguyện: Lạy Chúa Cha toàn năng, thánh Hi-la-ri-ô đã kiên trì bảo vệ Đức Giêsu Kitô, Con Chúa là Thiên Chúa. Xin cho chúng con hiểu biết cho rõ và tuyên xưng cho đúng chân lý cao cả này. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Amen.
NGÀY 13 THÁNG 1
Thánh Đa minh Khảm,Giuse Tả và Luca Thìn.
Giáo dân tử đạo.
* Gương Thánh Nhân:
Thánh Đa minh Phạm Trọng Khảm sinh khoảng năm 1780, tại làng Quần Cống, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
Ngay lúc nhỏ, Đa minh đã được cha mẹ chuyên cần dạy dỗ, nên cậu rất đạo đức hiếu thảo. Năm lên 18 tuổi, cậu đã kết hôn với cô A nê Phượng, một thiếu nữ nhân đức trong họ đạo. Vợ chồng luôn sống hoà thuận hy sinh cho nhau, sốt sắng thờ phượng Chúa, nhiệt thành giúp việc trong xứ đạo, và hết lòng thương yêu giúp đỡ mọi người, nhất là những người nghèo khổ bệnh tật.
Lúc đó vua quan đang bắt đạo dữ dội, ông bà tận tâm che giấu các Giám mục, linh mục và khích lệ những người đồng đạo can đảm chịu chết vì Chúa. Mỗi lần binh lính đến bao vây bắt bớ người có đạo, ông bà báo tin cho mọi người, và khuyến khích họ sống chết trung thành theo Chúa. Đối với những người nhút nhác, ông thường hâm dọa cho họ sợ mà can đảm bền chí: “Kẻ nào trong anh em đạp lên Thánh giá, khi quan về, tôi sẽ đuổi cổ ra khỏi làng, sẽ không có chỗ mà chôn xác đâu “ . Nhờ đo nhiều người nhát đảm vẫn cương quyết chịu chết vì Chúa.
***
Thánh Giuse Phạm Trọng Tả sinh năm 1800, đồng minh với thánh Đa minh Khảm. Thánh nhân là người đạo đức và có thế giá, là hội viên hội dòng ba Đa minh và là cai tổng trong làng. Đặc biệt thánh nhân rất có lòng thương người. ” Tiền thóc gia nhân vay mượn ông thường cho một nửa, nếu túng quá thì cho luôn. Công nợ của dân trong làng cũng hay được châm chước như thế. Khi bà cai lên tiếng cằn nhằn, ông thản nhiên trả lời: Mình quên nợ người, Chúa quên tội mình”
***
Là con trai của thánh Đa minh Khảm, thánh Lu ca Phạm Trọng Thìn sinh năm 1820.
Lúc nhỏ cậu học hành giỏi giắn. Và nhờ hấp thụ nền đạo đức của gia đình, cậu càng thêm tuổi càng têm khôn ngoan đạo đức, là hội viên hội dòng ba Đa Minh, và được chọn làm cai tổng trong làng.
Năm 1858, cơn bắt đạo trở nên gay gắt trong lịch sử Giáo hội Việt Nam . Nhà vua treo giải thưởng cho những ai tố cáo nơi trú ẩn của các giáo sĩ, đồng thời ra lệnh trừng phạt nặng những ai chứa chấp các ngài. Thực tế, việc thi hành lệnh vua còn tuỳ các quan địa phương; có nơi họ thi hành triệt để, nơi khác cũng làm chiếu lệ. Vì thế, Đức Cha Xuyên nhờ hai ông Cai Tả và Cai Thìn tiếp xúc với quan Tổng đốc Nam Định, xin ông nương tay cho các giáo sĩ và tín hữu được bính an. Nhưng công việc chưa thành thì quan án sát Nam Định đã được mật báo làng Quần Cống chứa chấp Tây dương đạo trưởng ( linh mục nước ngoài). Quan liền sai binh lính đến vây bắt. Cụ Đa minh Khảm nghe tin đó thì vội vàng đưa Đức cha Vinh, Đức cha Xuyên và các cha trốn sang làng khác.
Quan quân ùa vào làng Quần Cống, gọi cụ Khảm đến và bảo:
– Hãy mau nộp các đạo trưởng cho ta, nếu không lão sẽ bị bắt, bị tịch thu tài sản, nhà cửa lão sẽ bị thiêu huỷ.
Cụ bình thản đáp:
– Không có đạo trưởng nào ở đây, Nếu không tin, quan cứ cho binh lính lục soát.
Binh lính liền chia nhau lục soát mọi nhà. Nhưng không tìm được đạo trưởng nên quan ra lệnh bắt cụ Khảm với Cai Tả và Cai Thìn dẫn về Nam Định và tống vào ngục.
Sau nhiều lần dụ dỗ, đe doạ, hành hạ, các ngài vẫn cương quyết trung thành theo Chúa, bất khả quá khoá, nghĩa là không chịu bước qua Thánh giá.
Ngày 13 tháng giêng năm 1859, các ngài bị đưa ra pháp trường Bẩy Mầu , Nam Định, với án tử hình.
Đến nơi, binh lính xô các ngài ngã xuống đất, trói tay chân vào cột. Và mỗi vị đều bị hai tên lính cầm hai đầu dây tròng nơi cổ, và kéo thật mạnh cho đến khi tắt thở!…
Cả ba vị đều được Đức Giáo Hoàng Pi-ô XII tôn lên chân phước ngày 29 tháng 4 năm 1951. Và ngày 19 tháng 6 năm 1988, Đức Thánh Cha Gioan Phao-lô II đã tấn phong các ngài lên bậc hiển thánh.
* Quyết tâm: Noi gương các thánh Đa minh Khảm, Giuse Tả và Lu ca Thìn tử đạo, hết lòng kính mến Chúa và yêu thương người, bằng các giúp đỡ mọi người phần hồn, phần xác, suốt đời chịu cực chịu khó tin thờ Chúa, sẵn sàng hy sinh giúp đỡ những người làm việc tông đồ, và nâng đỡ anh em đồng đạo trung thành với Chúa.
* Cầu nguyện: Lạy Cha Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại: luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Amen.
Danh mục tin tức
- Bài Giảng - Suy Niệm Tin Mừng (5707)
- Bài Hát mỗi tuần (168)
- Ca Đoàn (17)
- Các Chương Trình cần biết (735)
- Đức Mẹ Maria (290)
- Giải đáp - Thắc mắc - Sống Đạo (1763)
- Giáo Họ (32)
- Hạnh Các Thánh (1111)
- Hạnh các Thánh Tử Đạo Việt Nam (22)
- Học hỏi Thánh Vịnh (1)
- Hội Đoàn (38)
- Kiến thức về đời sống - Y tế (669)
- Kinh Sách - Văn Kiện (37)
- Lớp Giáo Lý (48)
- Sáng Tác Thơ Ca - Nhạc... (486)
- Sinh hoạt Giáo Dân (52)
- Tâm Tình Giáo Dân (501)
- Thánh Giuse (48)
- Thánh Lễ - Chầu Thánh Thể (248)
- Thánh Tích (60)
- Thánh Vịnh (2)
- Thông Báo (607)
- Thư Giãn & Lắng Đọng (459)
- Tin Công Giáo Thế Giới (8199)
- Tin Công Giáo Việt Nam (1091)
- Truyện ngắn (9)
- Tưởng Niệm (470)
- Video Học Hỏi Kinh Thánh - Audio Bài Giảng (47)