Lời Chúa Thứ Năm Tuần Xxix Thường Niên Năm Chẵn 2020 (22/10/2020) – (Lc 12, 49 – 53) – Tháng Mân Côi Kính Đức Mẹ Thánh Gioan Phaolô Ii. Giáo Hoàng, Lễ Nhớ.

21/10/2020
3
“THẦY KHÔNG ĐẾN ĐỂ ĐEM BÌNH AN, NHƯNG ĐEM SỰ CHIA RẼ”.
BÀI ĐỌC I: Ep 3, 14-21
“Anh em đâm rễ sâu và lập nền kiên cố trong đức mến, để anh em được sung mãn trong mọi sự viên mãn của Thiên Chúa”.
Trích thư Thánh Phalô Tông đồ gửi tín hữu Êphêxô.
Anh em thân mến, tôi quỳ gối trước mặt Cha Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Người là nguồn gốc mọi danh phận làm cha trên trời dưới đất. Xin Người chiếu theo sự giàu có vinh quang của Người và nhờ Thánh Thần của Người, thêm sức mạnh cho anh em được nên người thiêng liêng, và nhờ đức tin, anh em được Đức Kitô ngự trong lòng anh em, làm cho anh em đâm rễ sâu và lập nền kiên cố trong đức mến, để anh em được hiệp cùng các thánh mà hiểu biết chiều rộng, dài, cao, sâu, và cũng được biết lòng mến của Đức Kitô vượt quá trí hiểu loài người, để anh em được sung mãn trong mọi sự viên mãn của Thiên Chúa.
Nguyện cho Đấng toàn năng ban cho chúng ta mọi sự, dư đầy quá sự chúng ta cầu xin hay hoài bão, theo như quyền lực Người thi thố trong chúng ta: nguyện cho Người được vinh quang trong Hội Thánh và trong Đức Giêsu Kitô, qua mọi thế hệ muôn đời. Amen.
Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 32, 1-2. 4-5. 11-12. 18-19
Đáp:  Địa cầu đầy ân sủng Chúa (c. 5b).
Xướng:
1) Người hiền đức, hãy hân hoan trong Chúa. Ca ngợi là việc của những kẻ lòng ngay. Hãy ngợi khen Chúa với cây đàn cầm, với đàn mười dây, hãy xướng ca mừng Chúa. – Đáp.
2) Vì lời Chúa là lời chân chính, bao việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu chuộng điều công minh chính trực, địa cầu đầy ân sủng Chúa. – Đáp.
3) Ý định của Chúa tồn tại muôn đời, tư tưởng lòng Người còn mãi đời nọ sang đời kia. Phúc thay quốc gia mà Chúa là Chúa tể, dân tộc mà Chúa chọn làm cơ nghiệp riêng mình. – Đáp.
4) Kìa Chúa để mắt coi những kẻ kính sợ Người, nhìn xem những ai cậy trông ân sủng của Người, để cứu gỡ họ khỏi tay thần chết, và nuôi dưỡng họ trong cảnh cơ hàn. – Đáp.
ALLELUIA: Lc 19, 38
Alleluia, alleluia! – Chúc tụng Đức Vua, Đấng nhân danh Chúa mà đến; bình an trên trời và vinh quang trên các tầng trời. – Alleluia.
PHÚC ÂM: Lc 12, 49-53
“Thầy không đến để đem bình an, nhưng đem sự chia rẽ”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian, và Thầy mong muốn biết bao cho lửa cháy lên. Thầy phải chịu một phép rửa, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi hoàn tất. Các con tưởng Thầy đến để đem sự bình an xuống thế gian ư? Thầy bảo các con: không phải thế, nhưng Thầy đến để đem sự chia rẽ. Vì từ nay, năm người trong một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba người chống lại hai, và hai người chống lại ba: cha chống đối con trai, và con trai chống đối cha; mẹ chống đối con gái, và con gái chống đối mẹ; mẹ chồng chống đối nàng dâu, và nàng dâu chống đối mẹ chồng”.
Đó là lời Chúa.
________________________________________
I/. VÀI NÉT VỀ THÁNH GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II (22/10)
Ðức Gioan Phaolô II là vị giáo hoàng thứ 264 (1978-2005) của Giáo hội Công Giáo. Ngài là giáo hoàng người Ba Lan duy nhất cho đến nay và là giáo hoàng đầu tiên không phải người dân Ý kể từ thế kỷ 16 (giáo hoàng Adrian VI 1522-1523 người Hòa Lan). Triều đại 26 năm của Giáo Hoàng Gioan Phaolô II dài thứ nhì, chỉ sau Đức Giáo hoàng Piô IX giữa thế kỷ 19 (32 năm, 1846-1878).
Đức Gioan Phaolô II là vị giáo hoàng có rất nhiều cái “đầu tiên” và “duy nhất”:
– Ðến thăm 104 quốc gia, nhiều hơn bất cứ nhà lãnh đạo nào khác trên thế giới: đi qua 700.000 dặm, nghĩa là 28 lần đường vòng quanh Trái Ðất, hay 3 lần đến Mặt Trăng.
– Là vị giáo hoàng đầu tiên: đến Anh Quốc, thăm ngôi đền Hồi Giáo ở Syria, thuyết giảng trong buổi lễ tại một nhà thờ Tin Lành ở Áo năm 1983, bước vào đại hội đường Do Thái tại Roma năm 1986, thăm Rumania năm 1999 (cuộc viếng thăm đầu tiên của một giáo hoàng Vatican tại một nước Chính Thống Giáo Ðông Phương kể từ thời kỳ ly giáo 1.000 năm trước), thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức giữa Vatican và Israel.
– Ðức Ðạt Lai Lạt Ma 8 lần gặp ngài, nhiều hơn với bất cứ nhà lãnh đạo nào khác.
– Sáng lập Ngày Giới Trẻ Thế Giới.
– Thoát chết trong vụ mưu sát năm 1981 như một phép lạ của Đức Mẹ Fatima; đến thăm và nói lời tha thứ với kẻ ám sát mình.
– Chính thức lên tiếng xin lỗi về những sai lầm của Giáo Hội trong quá khứ.
– Hơn 3 triệu người xếp hàng để được đi ngang viếng chào linh cữu của Ngài, quàn tại Thánh Ðường St. Peter cho đến ngày tang lễ 8 Tháng Tư, 2005.
– Và còn nhiều cái “đầu tiên” & “duy nhất” khác nữa…
Vì thế, Đức Gioan-Phaolô II được coi là “Giáo Hoàng của những kỷ lục”: kỷ lục đi xa, kỷ lục phong thánh, kỷ lục gặp gỡ, kỷ lục diễn văn… Ngài nổi tiếng ngay từ đầu triều giáo hoàng với lời kêu gọi mang lại nhiều niềm vui và bình an cho mọi người; đó là hai chữ ngắn gọn: “ĐỪNG SỢ!”
Những kỷ lục trên trước hết là kết quả của lòng đạo đức, lòng yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể và bí tích Giải tội. Trước mỗi chuyến công du, ngài cầu nguyện rất nhiều, xưng tội trước khi đi công du. Ngài vẫn giữ thói quen rất lành thánh là xưng tội hằng tuần. Ngài cổ võ mạnh mẽ cho việc tôn sùng Thánh Thể. Khi viết về những giáo huấn liên quan đến đức tin, ngài thường quỳ gối viết trước Thánh Thể, gần giống như Thánh Thomas Aquino dựa đầu vào Nhà Tạm trước khi nói về Thánh Thể.
Đặc biệt Ngài là “Giáo hoàng của Đức Mẹ” với khẩu hiệu “Totus Tuus” (Tất cả của con là của Mẹ, con hoàn toàn thuộc về Mẹ). Đức Gioan-Phaolô II rất trung thành với Chuỗi Mân Côi, ngài lần hạt từng ngày. Vào mỗi thứ Bảy đầu tháng, ngài lần hạt chung với giáo dân tại Hội trường Phaolô VI. Dịp các Đức Giám Mục hành hương năm 2000, ngài mời chị Lucia đến đọc Kinh Mân Côi, chị đọc một bè bằng tiếng Bồ Đào Nha, ngài và các Giám mục đọc một bè bằng tiếng La Tinh. Ngài đã viết hai văn kiện lớn về Đức Mẹ: Thông điệp Redemptoris Mater (Mẹ Đấng Cứu Độ) và Tông thư Rosarium Vigilis Mariae (Kinh Rất Thánh Mân Côi). Chính ngài đã thêm vào Năm Mầu Nhiệm Sự Sáng và công bố Năm Mân Côi (từ tháng 10.2002 đến tháng 10.2003).
Sinh ngày 18.05.1920 tại Wadowice – một thành phố cách Kraków (Ba Lan) chừng 50 km – ngài là người con út trong 3 người con của ông Karol Wojtyła và bà Emilia Kaczorowska, qua đời vào năm 1929. Người anh cả của ngài là Edmund, bác sĩ, qua đời năm 1932 và thân sinh của Ngài, một sĩ quan quân đội qua đời vào năm 1941. Trong khi chị của Ngài, Olga, qua đời trước khi Ngài được sinh ra.
Được rửa tội vào ngày 20.06.1920 tại nhà thờ giáo xứ Wadowice do cha Franciszek Zak; rước lễ lần đầu lúc 9 tuổi và lãnh nhận bí tích Thêm sức lúc 18 tuổi. Sau khi học hết chương trình trung học tại Marcin Wadowita, Wadowice, năm 1938, cậu ghi danh vào Đại học Jagellónica, Cracovia.
Khi quân xâm lược Naziste đóng cửa trường đại học vào năm 1939, cậu Karol làm việc (1940-1944) trong một hầm mỏ, và sau đó, trong một nhà máy hóa chất Solvay để kiếm sống và tránh bị đưa vào các trại tập trung bên nước Đức.
Từ năm 1942, cảm thấy mình có ơn gọi làm linh mục, cậu bắt đầu theo học tại Đại Chủng viện chui tại Cracovia dưới sự hướng dẫn của chính Tổng Giám mục Cracovia, ĐHY Adam Stefan Sapieha. Trong thời gian đó, thầy cũng là một trong những người tổ chức “Kịch nghệ Rapsodico”, cũng dưới hình thức chui.
Sau khi chiến tranh kết thúc, thầy tiếp tục theo học trong Đại Chủng viện Cracovia mới được mở cửa lại, và tại Phân khoa Thần học của Viện Đại học Jagellónica, cho đến khi chịu chức linh mục tại Cracovia vào ngày 11.11.1946, do sự đặt tay của Đức Tổng Giám mục Sapieha.
Sau đó, ngài được gởi qua Roma để theo học dưới sự hướng dẫn của cha Dòng Đa Minh người Pháp, cha Garrigou-Lagrange, và vào năm 1948, ngài đậu tiến sĩ thần học với luận án: “Đức tin trong các tác phẩm của Thánh Gioan Thánh giá” (Doctrina de fide apud Sanctum Ioannem a Cruce). Trong thời gian này, vào các kỳ nghỉ hè, ngài thường làm việc mục vụ cho người Ba Lan tại Pháp, Bỉ và Hòa Lan.
Vào năm 1948, ngài trở về Ba Lan, lúc đầu làm phó xứ Niegowić, gần Cracovia, và sau đó, làm phó xứ Thánh Floriano, trong thành phố. Đồng thời, ngài cũng làm tuyên úy sinh viên cho đến năm 1951, vừa theo học triết học và thần học. Vào năm 1953, ngài trình luận án tại Đại học Công giáo Lublino với đề tài: “Thẩm định khả năng thiết lập một nền luân lý Kitô từ hệ thống luân lý của Max Scheler”. Sau đó, ngài trở thành giáo sư Thần học Luân lý trong Đại Chủng viện Cracovia và tại Phân khoa Thần học Lublino.
Ngày 04.07.1958, Đức Giáo hoàng Piô XII đặt ngài làm giám mục hiệu tòa Ombi và giám mục phụ tá Cracovia. Ngài được thụ phong giám mục vào ngày 28.09.1958 tại nhà thờ chánh tòa Wawel (Cracovia), do sự đặt tay của Đức Tổng Giám mục Eugeniusz Baziak.
Ngày 13.01.1964, Đức Giáo hoàng Phaolô VI đặt ngài làm Tổng Giám mục Cracovia và rồi đề cử ngài lên tước vị Hồng y vào ngày 26..06.1967.
Ngài tham dự Công đồng Vaticano II (1962-1965) với sự đóng góp quan trọng trong việc soạn thảo Hiến chế Gaudium et Spes. Với tư cách Hồng y, ngài cũng là thành viên trong 5 Thượng Hội đồng Giám mục trước khi trở thành Giáo hoàng vào ngày 16.10.1978  và long trọng khởi đầu tác vụ Thánh Phêrô vào ngày 22.10.1978.
Đức Gioan Phaolô II đã thi hành sứ vụ của mình với tinh thần truyền giáo không mệt mỏi, dồn mọi nỗ lực lo lắng việc mục vụ đối với mọi Giáo hội và đức ái mục tử mở ra cho toàn thể nhân loại. Ngài đã thực hiện 104 chuyến đi trên toàn thế giới và 146 cuộc viếng thăm mục vụ tại nước Ý. Với tư cách là giám mục Roma, ngài đã thăm 317 giáo xứ (trên 333 giáo xứ).
Lòng yêu mến đối với các bạn trẻ đã hối thúc ngài thành lập những Ngày Giới trẻ Thế giới kể từ năm 1985. 19 cuộc họp mặt Giới trẻ Thế giới – diễn ra trong triều đại của ngài – đã quy tụ hàng triệu bạn trẻ trên khắp thế giới. Ngài rất quan tâm đến gia đình và đã tổ chức những Đại hội Gia đình Thế giới từ năm 1994.
Đức Gioan Phaolô II phát huy thành công trong việc đối thoại với người Do Thái và đại diện của các tôn giáo, bằng việc mời gọi họ đến những cuộc gặp gỡ cầu nguyện cho hòa bình, cách đặc biệt tại Assisi.
Dưới sự hướng dẫn của ngài, Giáo hội tiến về ngàn năm thứ ba và đã cử hành Đại Năm Thánh 2000, theo những đường nét đã được trình bày trong Tông thư Tertio millennio adveniente. Và rồi Giáo hội đối đầu với thời đại mới, lại được lãnh nhận những chỉ dẫn trong Tông thư Novo millennio ineunte, trong đó, ngài cho các tín hữu thấy hành trình của thời tương lai.
Với các Năm Thánh Cứu độ, Năm Thánh mẫu, Năm Thánh Thể, Đức Gioan Phaolô II đã phát huy việc canh tân đời sống thiêng liêng của Giáo hội. Ngài cũng đã tiến hành nhiều cuộc phong thánh và chân phước để đưa ra nhiều tấm gương thánh thiện cho con người thời đại hôm nay: Ngài đã cử hành 147 buổi lễ phong chân phước, gồm 1338 vị và 51 cuộc lễ phong thánh, gồm 482 vị thánh. Ngài cũng đã tuyên phong Thánh nữ Têrêsa Hài đồng Giêsu làm Tiến sĩ Giáo hội.
Ngài đã mở rộng con số của Hồng y đoàn, tấn phong đến 231 vị trong 9 mật nghị (1 vị ẩn danh và cũng không được nêu lên trước khi ngài qua đời). Ngài cũng triệu tập 6 Công nghị của Hồng y đoàn.
Ngài đã chủ tọa 15 Thượng Hội đồng Giám mục: 6 thông thường (1980, 1983, 1987, 1990, 1994 và 2001), 1 Thượng Hội đồng bất thường (1985) và 8 Thượng Hội đồng đặc biệt (1980, 1991, 1994, 1995, 1997, 1998 [2] và 1999).
Ngài ban hành 14 Thông điệp, 15 Tông huấn, 11 Tông hiến và 45 Tông thư. Ngài cũng đã ban hành cuốn Giáo lý của Giáo hội Công giáo, dưới ánh sáng của truyền thống, đã được Công đồng Vaticano II giải thích cách có thẩm quyền. Ngài đã sửa đổi Bộ Giáo luật Tây phương và Đông phương, cũng như đã thiết lập thêm các cơ chế mới và cải tổ Giáo triều Roma.
Đức Gioan Phaolô II, như một Tiến sĩ, đã xuất bản 5 cuốn sách: “Bước qua ngưỡng cửa Hy vọng” (tháng 10.1994); “Hồng ân và Mầu nhiệm: kỷ niệm 50 linh mục” (tháng 11.1996); “Trittico romano” – những bài suy niệm dưới hình thức thơ văn (tháng 3.2003); “Hãy đứng dậy, chúng ta cùng đi!” (tháng 5.2004); “Ký ức và Căn tính” (tháng 2.2005).
Ngài qua đời tại Vatican ngày 02.04.2005, lúc 21:37 (gần hết ngày thứ Bảy, bước vào Ngày  Chúa nhật Lòng Chúa Thương Xót).
Từ chiều hôm ấy cho đến lễ an táng của ngài vào ngày 08.04, đã có hơn ba triệu khách hành hương đến Roma để kính viếng ngài, dù phải xếp hàng chờ đợi cả 24 giờ mới có thể vào được bên trong Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô.
Ngày 28.04 sau đó, Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI đã miễn chuẩn thời gian chờ đợi 5 năm sau ngày qua đời để khởi sự thủ tục phong chân phước và phong thánh cho Đức Gioan Phaolô II. Thủ tục này đã được chính thức khai mở vào ngày 28.06.2005 do Đức Hồng y Camillo Ruini, Tổng Đại diện coi sóc giáo phận Roma. Và Thánh lễ phong Thánh cho ngài được cử hành vào lúc 10g hôm nay (3g chiều Việt Nam), ngày lễ Lòng Chúa Thương Xót 27.4.2014.
(Nguồn: Truyền Thông Dòng Tên và Tổng Giáo Phận Sài Gòn)
________________________________
II/. BÀI SUY NIỆM (Lc 12, 49-53)
“THẦY KHÔNG ĐẾN ĐỂ ĐEM BÌNH AN, NHƯNG ĐEM SỰ CHIA RẼ
Hôm nay Thứ Năm tuần XXIX Thường niên, chúng ta vẫn tiếp tục  Chương 12 phúc âm Luca để được nghe những giáo huấn quan trọng và nóng bỏng của Chúa Giêsu về Giáo hội.
Bài Tin mừng hôm nay có vẻ rất xa lạ đối với Kitô hữu khi Chúa nói:
“Các con tưởng Thầy đến để đem sự bình an xuống thế gian ư? Thầy bảo các con: không phải thế, nhưng Thầy đến để đem sự chia rẽ”.
“THẦY ĐẾN ĐỂ ĐEM SỰ CHIA RẼ”
Sự chia rẽ đó do chính Chúa đem đến chứ không phải ai khác, chẳng phải do Satan hay ma quỷ xúi giục.
Quả thật đó là những câu lời Chúa gây sốc và choáng đối với các Kitô hữu. Chúa có tự mâu thuẫn không ?
Trong khi Chúa truyền cho các môn đệ: “CÁC CON HÃY YÊU THƯƠNG NHAU”.
Mà nói đến yêu thương thì phải nói đến sự đoàn kết, đồng tâm nhất trí với nhau và không thể có sự chia rẽ.
Như vậy Lời Chúa nói hôm nay thật mâu thuẫn.
Ờ Phúc âm Gioan, chính Chúa đã dâng lên Chúa Cha lời cầu nguyện như sau:
“Khi ấy, Đức Giê-su ngước mắt lên trời và cầu nguyện rằng : “Lạy Cha, Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con,  để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con” (Ga 17, 20- 21).
TẤT CẢ NÊN MỘT, đó là sự hiệp nhất sâu sắc, thế nhưng ở đây Chúa lại phán:
“THẦY KHÔNG ĐẾN ĐỂ ĐEM BÌNH AN, NHƯNG ĐEM SỰ CHIA RẼ”.
Ta phải hiểu sự chia rẽ Chúa muốn nói đến ở đây là sự chia rẽ gì, tại sao lại có sự chia rẽ ?
Để hiểu được ý nghĩa câu đó, ta cần tìm hiểu câu đầu tiên của Bài Tin mừng:
“”Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian và Thầy mong muốn biết bao cho lửa cháy lên. Thầy phải chịu một phép rửa, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi hoàn tất”.
Có 2 từ mà ta phải chú ý đặc biệt, đó là LỬA – PHÉP RỬA.
“THẦY ĐÃ ĐẾN ĐEM LỬA XUỐNG THẾ GIAN VÀ THẦY MONG MUỐN BIẾT BAO CHO LỬA CHÁY LÊN”.
Thế gian này, sau thảm họa tội Nguyên tổ đã chìm sâu vào bóng tối và sự chết, rất lạnh lẽo. Tất cả đang trông chờ vào ánh lửa để có sự sáng, sự sống. Nhưng ánh lửa đó không thể tìm đâu ra. Chỉ khi Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa nhập thể và nhập thế, Ngài đã mang lửa xuống thế gian. Ngài chính là lửa được ban xuống cho thế gian.
Lửa để đốt nóng và chiếu sáng; lửa làm tan chảy và tinh luyện…. Lửa cần cho mặt đất và cũng cần cho cuộc sống con người. Làm ra lửa, một phát minh vĩ đại của con người thời nguyên thủy.
Chúa đến “ném lửa vào mặt đất,” một thứ lửa thiêng, lửa mới:
Ngọn lửa đã từng bùng cháy nơi bụi gai, khi Thiên Chúa thần hiển cho ông Mô-sê trong hoang địa, ngọn lửa sẽ xuất hiện trên đầu các tông đồ trong ngày lễ Ngũ Tuần khi Chúa Thánh Thần ngự xuống, đó chính là ngọn lửa tình yêu trong Thánh Tâm Chúa Giê-su mà Ngài mong ước được bùng cháy lên nơi tâm hồn những người được Chúa cứu độ.
Chúa đã đem lửa xuống thế gian để tất cả chúng ta được cứu rỗi và được sống, Ngài mong cho ngọn lửa đó bùng cháy lên.
Đáp lại lòng mong ước của Chúa, Hội Thánh tiếp nối sứ mạng “chia lửa” này cho đến tận thế qua cuộc sống chứng nhân của các ki-tô hữu.
Kitô hữu chúng ta hãy là ngọn lửa, tiếp sức để cho ngọn lửa của Chúa được bừng cháy. Không những lửa soi sáng cho thế gian, mà lửa còn thiêu đốt và soi sáng trong mỗi gia đình, và mỗi tâm hồn chúng ta.
Trong gia đình, nếu không có LỬA TÌNH YÊU thì làm sao cha mẹ có động lực để tần tảo nuôi con, chăm sóc con từng ly từng tí, lo cho con chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm, bồng ẵm trên tay, nâng niu trên đầu gối.
Trong Giáo hội, nếu tình yêu tắt ngúm thì các Tông đồ sẽ chẳng loan báo Tin Mừng nữa, các vị Tử đạo sẽ chẳng muốn đổ máu nữa. Hôm nay, Chúa đã ném lửa tình yêu của Chúa vào trong tôi và Chúa muốn tôi bùng cháy lửa tình yêu.
Làm thế nào để giữ lửa và bùng cháy lửa mà Chúa đã ném vào cõi lòng chúng ta?
“THẦY PHẢI CHỊU MỘT PHÉP RỬA, VÀ LÒNG THẦY KHẮC KHOẢI BIẾT BAO CHO ĐẾN KHI HOÀN TẤT”.
Chúa đã chịu phép rửa tại sông Giocđan, phép rửa bằng nước.
Còn một Phép rửa khác mà Chúa đang khắc khoải biết bao ở đây, chính là PHÉP RỬA BẰNG LỬA, đó chính là cuộc Khổ nạn trên thánh giá. Chính phép rửa này mới hoàn tất công trình cứu chuộc con người qua mọi thời đại.
Ta thấy rõ bài Tin mừng hôm nay rực lên ÁNH LỬA CỦA CON THIÊN CHÚA. Chúa đem lửa xuống thế gian và Ngài còn chịu một phép rửa bằng lửa nữa.
Khi nói đến RỬA, thì người ta thường nghĩ đến NƯỚC, vì chỉ có nước mới có thể rửa được mọi vết bẩn. Nhưng ở đây, Bài Tin mừng đưa ra cho ta thứ nước rửa thật kinh khủng, đó là LỬA, rửa bằng lửa, sẽ là cuộc tảy rửa đến tận căn.
Thế nên “lửa” mà Chúa nói đến trong bài Tin Mừng hôm nay đúng hơn nên hiểu về “THÁNH THẦN”. Người đến để cho những kẻ tin Người được Thần Khí của Thiên Chúa. Người mong muốn, đến nỗi nôn nóng thấy việc đó chóng xảy đến để loài người chóng nhận được Thánh Thần khiến họ có thể kêu lên “Abba ! Lạy Cha”.
Một cách cụ thể, có thể nói, trong suốt cuộc đời trần gian, Ðức Giêsu hằng mong mỏi ngày lửa Thánh Thần sẽ xuống trên các môn đệ, vì đó là mục đích cuộc giáng sinh cứu thế của Người, để tất cả loài người trở thành con cái Thiên Chúa
Từ 2 câu nói mở đầu của Bài Tin mừng, ta sẽ đi vào Lời Chúa nói với Kitô hữu chúng ta hôm nay:
“THẦY KHÔNG ĐẾN ĐỂ ĐEM BÌNH AN, NHƯNG ĐEM SỰ CHIA RẼ”.
Sự chia rẽ ở đây là sự chia rẽ vì Tin mừng.
Khi Chúa đem lửa xuống thế gian, tất cả mọi người và mọi vật sẽ được đốt nóng. Họ không còn im lìm như một cái xác chết, trái lại tất cả phải vận động, phải vận chuyển, chứ không thể cứ ù lì mãi trong thói quen cố hữu của mình, nó như bãi tha ma, là sự im lìm chết chóc và bất động.
Tin mừng của Chúa được gieo vào thế gian và mọi người bắt buộc phải có phản ứng.
Kẻ thuận theo, người chống lại, vì Tin mừng luôn đòi hỏi thúc bách mọi người, thúc bách họ phải vượt ra cái tôi của mình, thoát ra khỏi cái vỏ ích kỷ và sự thấp hèn của bản thân.
Trước sự thúc bách đó có người thuận theo, nhưng cũng không ít người chống lại, khi họ cứ muốn sống ù lì, dậm chân tại chỗ, CHÍNH VÌ THẾ GÂY RA SỰ CHIA RẼ.
Như vậy,  bất cứ nơi nào Tin mừng được rao giảng, thì nơi đó sẽ xảy ra chia rẽ, chia rẽ vì có người muốn đón nhận, nhưng có kẻ chống lại. Nó chia thế giới này ra làm 2: bên sáng, bên tối
Sự chia rẽ này, cuộc chiến sáng tối này sẽ còn kéo dài cho đến tận thế.
Sự chia rẽ sẽ xảy ra ở nhiều cấp độ, từ cả thế giới, đến xã hội trong mỗi quốc gia, và đến cấp cuối cùng cơ bản nhất, đó là trong gia đình.
Trong Bài Tin mừng hôm nay, Chúa đã nói đến sự chia rẽ trong một gia đình tiêu biểu gồm có 5 người: cha, mẹ, con trai, con gái, con dâu.
“VÌ TỪ NAY, NĂM NGƯỜI TRONG MỘT NHÀ SẼ CHIA RẼ NHAU, BA NGƯỜI CHỐNG LẠI HAI, VÀ HAI NGƯỜI CHỐNG LẠI BA: CHA CHỐNG ĐỐI CON TRAI, VÀ CON TRAI CHỐNG ĐỐI CHA; MẸ CHỐNG ĐỐI CON GÁI, VÀ CON GÁI CHỐNG ĐỐI MẸ; MẸ CHỒNG CHỐNG ĐỐI NÀNG DÂU, VÀ NÀNG DÂU CHỐNG ĐỐI MẸ CHỒNG”.
Đây là sự chia rẽ theo khuynh nhướng tự nhiên, dựa theo bản tính tự nhiên con người
Thực vậy, Theo KHOA TÂM LÝ, người ta đã rút ra được những kết luận về TÍNH LUYẾN ÁI CỦA CON NGƯỜI.
Tính luyến ái thường được hiểu như sau:
Theo KHUYNH HƯỚNG TỰ NHIÊN, người ta dễ có khuynh hướng ngả về người khác phái và xung khắc với người cùng phái.
Chính vì thế Chúa nói:
+ “cha chống đối con trai, và con trai chống đối cha
+ “mẹ chống đối con gái, và con gái chống đối mẹ”
+  “mẹ chồng chống đối nàng dâu, và nàng dâu chống đối mẹ chồng”.
“con rể” thường không được kể đến vì người ta có quan niệm “rể là khách” do đó ít khi xảy ra xung đột và chia rẽ.
Cho dù không có Tin mừng, thì những xung đột và chia rẽ này nó vẫn có, vì nó thuộc về tự nhiên.
Nhưng nay vì có Tin mừng, sự chia rẽ và xung đột này đã được nâng lên bình diện siêu nhiên.
Từ trong gia đình đã có sự chia rẽ như vậy, nó sẽ lan ra ngoài xã hội và thế giới con người.
Chính vì thế Chúa phán:
“”THẦY KHÔNG ĐẾN ĐỂ ĐEM BÌNH AN, NHƯNG ĐEM SỰ CHIA RẼ”.
Sụ chia rẽ ở đây là thuộc phạm vi tự nhiên, chẳng phải do Satan hay ma quỷ xúi giục.
Nhưng từ khi Tin mừng được rao giảng, sự chia rẽ này sẽ trở nên sâu sắc và gay gắt, vì có người đón nhận, người không.
Chúa Giêsu đến đem lại sự chia rẽ vì Tin mừng, nhưng chúng ta lại có Chúa Thánh Thần là sự hiệp nhất trong Giáo hội.
Vì thế,  cứ mỗi đầu năm, sau Tết Nguyên Đán chúng ta đều có TUẦN LỄ CẦU NGUYỆN CHO SỰ HIỆP NHẤT, đó cũng là Tuần Cửu nhật kính Chúa Thánh Thần.
Chúng ta thường hát bài: “LẠY CHÚA XIN HÃY CHO” (Bài ca Hiệp nhất) của Lm. Kim Long:
“Lạy Cha xin hãy cho mọi người hiệp nhất nên một,
như Cha ở trong con và như con ở trong Cha.
Xin Cha cho mọi người nên một trong chúng ta,
hầu cho thế gian tin rằng Cha đã sai con.”
Xin Chúa Thánh Thần ban cho chúng con sự hiệp nhất trong Giáo hội.
TRONG BÀI ĐỌC I Trích thư Thánh Phalô Tông đồ gửi tín hữu Êphêsô.
Thánh Phaolô nhắc nhở cho các tín hữu Êphêsô ý thức rằng:
“”Anh em đâm rễ sâu và lập nền kiên cố trong đức mến, để anh em được sung mãn trong mọi sự viên mãn của Thiên Chúa”.
Chỉ có trong Đức mến, chúng ta mới được sung mãn, chúng ta mới lãnh hội được rộng, dài, cao, sâu Tình yêu Thiên Chúa..
Chính vì vậy Thánh Phaolô viết:
“anh em được Đức Kitô ngự trong lòng anh em, làm cho anh em đâm rễ sâu và lập nền kiên cố trong đức mến, để anh em được hiệp cùng các thánh mà hiểu biết chiều rộng, dài, cao, sâu, và cũng được biết lòng mến của Đức Kitô vượt quá trí hiểu loài người, để anh em được sung mãn trong mọi sự viên mãn của Thiên Chúa”.
Với Bài Tin mừng hôm nay chúng ta hãy dâng lên Chúa lời cầu nguyện sau đây:
“ Lạy Chúa ! xin hiệp nhất chúng con nên một để giống SỰ NÊN MỘT trong Ba ngôi Thiên Chúa. Chỉ có như vậy, chúng con mới dẹp tan sự bất hòa, chia rẽ và để xây dựng một cộng đoàn tốt đẹp theo đúng ý Chúa muốn là các con hãy yêu thương nhau.
Amen.
_________________________________
Giuse Vĩnh Tâm.