Lời Chúa Thứ Hai Tuần Ii Thường Niên Năm B 2021 (18/01/2021) – (Mc 2, 18-22)

18/01/2021
3

“TÂN LANG CÒN Ở VỚI HỌ”.
BÀI ĐỌC I: Dt 5, 1-10
“Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã học vâng phục do những đau khổ Người chịu”.
Trích thư gửi tín hữu Do-thái.
Tất cả các vị Thượng tế được chọn giữa loài người, nên được đặt lên thay cho loài người mà lo việc Chúa, để hiến dâng lễ vật và hy lễ đền tội. Người có thể thông cảm với những kẻ mê muội và lầm lạc, vì chính người cũng mắc phải yếu đuối tư bề. Vì thế cũng như người phải dâng lễ đền tội thay cho dân thế nào, thì người dâng lễ đền tội cho chính mình như vậy. Không ai được chiếm vinh dự đó, nhưng phải là người được Thiên Chúa kêu gọi, như Aaron. Cũng thế, Đức Kitô không tự dành lấy quyền làm thượng tế, nhưng là Đấng đã nói với Người rằng: “Con là Con Cha, hôm nay Cha sinh ra Con”. Cũng có nơi khác Ngài phán: “Con là Tư tế đến muôn đời theo phẩm hàm Menkixêđê”. Khi còn sống ở đời này, Chúa Kitô đã lớn tiếng và rơi lệ dâng lời cầu xin khẩn nguyện lên Đấng có thể cứu Mình khỏi chết, và vì lòng thành kính, Người đã được nhậm lời. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã học vâng phục do những đau khổ Người chịu, và khi hoàn tất, Người đã trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời cho tất cả những kẻ tùng phục Người. Người được Thiên Chúa gọi là Thượng tế theo phẩm hàm Menkixêđê.
Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 109, 1. 2. 3. 4.
Đáp: Con là Thượng tế tới muôn đời theo phẩm hàm Menkixêđê (c. 4bc).
Xướng:
1) Thiên Chúa đã tuyên bố cùng Chúa tôi rằng: “Con hãy ngồi bên hữu Ta, cho tới khi Ta bắt quân thù làm bệ kê dưới chân Con”. – Đáp.
2) Đức Thiên Chúa từ Sion sẽ phô bày vương trượng quyền bính của Ngài, rằng: “Con hãy thống trị giữa quân thù”. – Đáp.
3) Các thủ lãnh cùng hiện diện bên Con, ngày Con giáng sinh trong thánh thiện huy hoàng: trước rạng đông, tựa hồ sương sa, Ta đã sinh hạ ra Con”. – Đáp.
4) Đức Thiên Chúa đã thề và không hối hận rằng: “Con là Thượng tế tới muôn đời theo phẩm hàm Menkixêđê”. – Đáp.
ALLELUIA: Tv 144, 13cd -Chúa trung thành trong mọi lời Chúa phán, và thánh thiện trong mọi việc Chúa làm. – Alleluia.
PHÚC ÂM: Mc 2, 18-22
“Tân lang còn ở với họ”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy, môn đồ của Gioan và các người biệt phái ăn chay, họ đến nói với Chúa Giêsu rằng: “Tại sao môn đồ của Gioan và các người biệt phái ăn chay, còn môn đồ Ngài lại không ăn chay?” Chúa Giêsu nói với họ: “Các khách dự tiệc cưới có thể ăn chay khi tân lang còn ở với họ không? Bao lâu tân lang còn ở với họ, thì họ không thể ăn chay được. Nhưng sẽ đến ngày tân lang bị đem đi, bấy giờ họ sẽ ăn chay. Không ai lấy vải mới mà vá áo cũ, chẳng vậy, miếng vải vá sẽ rút lại mà kéo áo cũ, và chỗ rách lại tệ hơn. Cũng không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ, chẳng vậy, rượu sẽ làm vỡ bầu da, và rượu đổ, bầu da hư. Nhưng rượu mới phải để trong bầu da mới”.
Đó là lời Chúa.
________________________________
I/. BÀI SUY NIỆM (Mc 2, 18-22)
“TÂN LANG CÒN Ở VỚI HỌ”.
Đó là câu trả lời của Chúa Giêsu trước câu hỏi của các môn đồ Gioan Tảy Giả và Biệt phái.
Họ hỏi: “”Tại sao môn đồ của Gioan và các người biệt phái ăn chay, còn môn đồ Ngài lại không ăn chay?” (Mc 2, 18b).
Chúa đưa ra dụ ngôn tiệc cưới để trả lời cho họ biết:
“Các khách dự tiệc cưới có thể ăn chay khi tân lang còn ở với họ không?” (Mc 2, 19).
Chắc chắn không.
Chúa đã ví Ngài là tân lang và sự hiện diện của Chúa ở trần gian này được ví như một tiệc cưới.
Như vậy Chúa đã nói rõ quan điểm của Ngài về vấn đề ăn chay.
ĂN CHAY là một công việc đạo đức tốt đẹp mà bất cứ Kitô hữu nào cũng phải thực hành trong đời sống đạo, vì khi ăn chay, người ta hạn chế bớt nhu cầu thân xác để đời sống tâm linh được phát triển, để con người dễ hướng về Chúa và anh em.
Nhưng vấn đề ở đây:
KHI NÀO ĂN CHAY ?
Không phải lúc nào cũng ăn chay, và nhất là không được phép biến việc ăn chay thành một thói quen cứng ngắc, để khoe khoang hay để tỏ ra mình là người đạo đức.
+ Các môn đồ của Gioan ăn chay là điều dễ hiểu vì ông thầy của họ là Gioan Tẩy Giả luôn sống khắc khổ và nhiệm nhặt vì sứ mạng tiền hô cho Đấng Cứu thế, nên các môn đồ của ông cũng đi theo con đường này.
+ Còn các người Biệt phái ăn chay vì những lý do không được tốt đẹp cho lắm.
Ta còn nhớ trong dụ ngôn Chúa nói về 2 người lên đền thờ cầu nguyện: một người Biệt phái và một người thu thuế.
Luca viết người Biệt phái cầu nguyện như sau:
“Người Pha-ri-sêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng: “Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con” (Lc 18, 11 – 12).
Thái độ đứng thẳng trước nhan thánh Chúa đã không ra gì rồi. Còn trong lời cầu nguyện thì “sặc mùi” khoe khoang và kể lể công lao.
NGƯỜI BIỆT PHÁI ĂN CHAY MỖI TUẦN HAI LẦN.
Như vậy khi người Biệt phái (Pharisiêu) đến chất vấn Chúa về vấn đề ăn chay, họ như ngầm chê các môn đệ của Chúa không giữ việc đạo đức theo truyền thống.
Và xa hơn họ cũng ngầm chê Chúa không biết dạy dỗ các môn đệ của Ngài.
Chúa Giêsu cho họ biết: Không phải lúc nào cũng ăn chay, hoặc ăn chay 1 tuần 2 lần. Ý nghĩa của việc ăn chay là mong chờ Chúa đến. Chúa nói:
“Bao lâu tân lang còn ở với họ, thì họ không thể ăn chay được. Nhưng sẽ đến ngày tân lang bị đem đi, bấy giờ họ sẽ ăn chay”. (Mc 2, 19 – 20).
Có nghĩa bao lâu Chúa còn ở với các môn đệ, thì các môn đệ không cần phải ăn chay.
Vì ăn chay đích thực, đó là biết hãm dẹp thân xác để mong chờ Chúa đến. Bây giờ Chúa đang ở với họ thì còn ăn chay làm gì, trái lại họ còn phải vui mừng, hân hoan như người đang dự tiệc cưới.
Bao lâu tân lang bị đem đi, có nghĩa khi Chúa phải xa các môn đệ để bước vào cuộc khổ nạn, hay khi Ngài lên trời, các môn đệ mới ăn chay để mong chờ Chúa đến.
Trong Đạo Công giáo có 2 ngày buộc ăn chay rõ ràng đó là thứ Tư Lễ Tro và thứ Sáu Tuần thánh. Đó là dịp để Kitô hữu hãm dẹp thân xác, hướng về và thông hiệp với cuộc Khổ nạn của Chúa, hay đặt mình trong trang thái chờ dợi Ngày Chúa quang lâm, đên lần thứ hai.
Đó là 2 ngày buộc ăb chay rõ ràng.
Nhưng nó cũng không hạn chế lòng đạo đức của mỗi Kitô hữu.
Có nhiều người vẫn có thói quen ăn chay vào các ngày thứ Sáu, thói quen đó có từ thời Giáo hội sơ khai đến giờ, đó là thói quen tốt để di dưỡng đời sống đạo đức.
Người ta cũng có thể ăn chay vì một số lý do khác như để chữa bệnh, để cho con người mình được nhẹ nhàng hơn, thanh thoát hơn, giảm cân, nó không liên quan gì đến tôn giáo. Và ăn chay trong trường hợp này không có gì quy định cụ thể.
THÁNG RAMADAN CỦA HỒI GIÁO
Nếu so với các tôn giáo khác, thì việc ăn chay của Kitô hữu không có gì để nói. Người Hồi giáo còn dành ra một tháng để ăn chay như tháng Ramadan.
Ramadan là tên gọi tháng thứ 9 của âm lịch Ả Rập. Tháng Ramadan theo dương lịch thay đổi từng năm, không có ngày thống nhất.
Nhiều người gọi Ramadan một cách đơn giản là “tháng nhịn ăn” hoặc “tháng ăn chay”, nhưng cả hai cách gọi đó đều không đúng, bởi vì các tín đồ chẳng ăn chay hoàn toàn, cũng không nhịn ăn hoàn toàn. Tên gọi tháng Ramadan là chính xác.
Trong suốt một tháng lễ này, tất cả các tín đồ đạo Hồi đều thực hiện nghiêm túc quy định: không ăn, không uống, không hút thuốc… nghĩa là không được đưa bất kể thứ gì vào miệng (kể cả không sinh hoạt tình dục), nhưng chỉ áp dụng vào ban ngày – cụ thể là từ lúc mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn mà thôi.
(theo Wikipedia)
Nhưng điều cốt yếu, đó không phải là dịp để khoe khoang lòng đạo đức của mình như người Biệt phái.
Trong Phúc âm Matthêu, Chúa nói rõ về vấn đề ăn chay này:
“”Còn khi ăn chay, anh em chớ làm bộ rầu rĩ như bọn đạo đức giả: chúng làm cho ra vẻ thiểu não, để thiên hạ thấy là chúng ăn chay. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi.
Còn anh, khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm, để không ai thấy là anh ăn chay ngoại trừ Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh” (Mt 6, 16 – 18).
Nói chung tất cả các công việc đạo đức như : bố thí, ăn chay, cầu nguyện, Chúa vẫn khuyến khích mọi Kitô hữu thực hiện trong cuộc sống.
Nhưng tất cả các việc đạo đức đó phải được thực hiện cách kín đáo, không phải làm để khoe khoang, chỉ có mình Cha trên trời biết mà thôi.
Đọc lại Bài Tin mừng hôm nay, Kitô hữu chúng ta có dịp nhìn lại đời sống đạo. Ta có thực hiệc các việc đạo đức như bố thí, cầu nguyện và nhất là ăn chay theo như Chúa muốn chưa?
Với môt vài suy niệm ngắn ngủi trên, chúng ta cùng nhau bước vào Bài Tin mừng:
____________________________________
II/. BÀI CHIA SẺ (Mc 2, 18-22)
“KHI ẤY, MÔN ĐỒ CỦA GIOAN VÀ CÁC NGƯỜI BIỆT PHÁI ĂN CHAY, HỌ ĐẾN NÓI VỚI CHÚA GIÊSU RẰNG: “TẠI SAO MÔN ĐỒ CỦA GIOAN VÀ CÁC NGƯỜI BIỆT PHÁI ĂN CHAY, CÒN MÔN ĐỒ NGÀI LẠI KHÔNG ĂN CHAY?”
“KHI ẤY, MÔN ĐỒ CỦA GIOAN VÀ CÁC NGƯỜI BIỆT PHÁI ĂN CHAY”
Bài Tin mừng hôm nay được cả 03 Thánh sử Nhất lãm thuật lại: Matthêu (Mt 9, 14 -17); Marcô (Mc 2, 18-22) và Luca (Lc 5, 33 -39). Cả 03 thánh sử đều công nhận có 02 nhóm: Nhóm môn đệ Gioan (Tảy Giả) và Nhóm Pharisêu tích cực ăn chay.
Ăn chay là một trong những truyền thống đạo đức tốt đẹp của người Do Thái. Mỗi năm họ chỉ buộc giữ chay vào ngày lễ Xá Tội, ngày toàn dân xưng tội để được Chúa tha thứ, ngày này thích hợp cho việc giữ chay. Nhưng có một số người đạo đức hơn, họ sẽ giữ chay hai ngày trong tuần, cụ thể: thứ Hai và thứ Năm.
Ăn chay, đó là thái độ con người tỏ lòng ăn năn sám hối, mong chờ Đấng Cứu Thế, chính vì thế ở thế kỷ thứ I, khi Gioan Tẩy Giả xuất hiện kêu gọi mọi người ăn năn sám hối, chuẩn bị tâm hồn đón chờ Đấng Cứu Thế, thì rộ lên phong trào ăn chay, mà tích cực nhất là 02 nhóm các môn đệ Gioan và Pharisêu. Như vậy, câu đầu tiên của Bài Tin mừng đã cho biết điều này.
Các môn đệ Ðức Giêsu bị chê trách là không ăn chay như các môn đệ của Gioan và Biệt Phái.
HỌ ĐẾN NÓI VỚI CHÚA GIÊSU RẰNG: “TẠI SAO MÔN ĐỒ CỦA GIOAN VÀ CÁC NGƯỜI BIỆT PHÁI ĂN CHAY, CÒN MÔN ĐỒ NGÀI LẠI KHÔNG ĂN CHAY?”
Người ta có thể ăn chay để từ chối những điều mình ưa thích, cho tâm hồn thanh thản hơn. Hoặc để tự kiềm chế, để biết mình có thể làm chủ lấy mình chứ không để những thứ ưa thích làm chủ mình. Chúa Giêsu không chống đối việc ăn chay theo tinh thần đạo đức, ngược lại Ngài còn khuyên các môn đệ của Ngài phải ăn chay để có thể trừ quỷ.
Ðức Giêsu hiểu rõ việc giữ chay quan trọng thế nào trong đời sống đạo. Ngài đã thẳng thắn trả lời cho những người này câu hỏi mà họ đã đặt ra.
CHÚA GIÊSU NÓI VỚI HỌ: “CÁC KHÁCH DỰ TIỆC CƯỚI CÓ THỂ ĂN CHAY KHI TÂN LANG CÒN Ở VỚI HỌ KHÔNG? BAO LÂU TÂN LANG CÒN Ở VỚI HỌ, THÌ HỌ KHÔNG THỂ ĂN CHAY ĐƯỢC. NHƯNG SẼ ĐẾN NGÀY TÂN LANG BỊ ĐEM ĐI, BẤY GIỜ HỌ SẼ ĂN CHAY.
Chúa Giêsu cho họ biết tại sao môn đệ của Ngài không ăn chay. Ngài là một người biết rõ lề luật của Do Thái, trong đó có một luật ghi rằng: “Những ai đến dự tiệc cưới đều được miễn trừ mọi việc tuân hành nghi lễ tôn giáo để tránh làm giảm niềm vui”.
Tuần lễ kết hôn là tuần lễ hạnh phúc nhất của người Do Thái. Họ mở tiệc ăn mừng cùng với những người bạn thân thiết của họ. Trong cuộc vui đó không thể có việc giữ chay dựa trên cả lý và tình.
Về lý thì luật lệ không buộc họ phải ăn chay. Về tình thì họ phải chia sẻ niềm vui với người bạn của mình. Cho nên Chúa Giêsu đã nói: “Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể ăn chay, khi chàng rể còn ở với họ” (Mc12, 19).
Chúa Giêsu đã ví các môn đệ của Ngài như bạn thân của cô dâu và chú rể được mời đến chia sẻ niềm vui với họ. Vì vậy họ không thể và càng không được phép ăn chay vì đang chung vui với cô dâu chú rể.
– Trong Cựu ước, giao ước Thiên Chúa lập với dân Người được ví như lễ cưới và Thiên Chúa là chàng rể của dân Israel (x. Hs 2 ; Is 54, 4-6 ; Gr 2,2).
– Trong Tân Ước, chính Đức Giêsu là chàng rể trong bữa tiệc như Is 25, 6-9 đã loan báo. Ngài là Đấng Mêsia đang có mặt giữa khách dự tiệc cưới. Vì thế, các môn đệ của Ngài không ăn chay, nhưng sẽ tới ngày chàng rể (Đức Giêsu) bị đem đi, tức là bị giết, các môn đệ mới ăn chay. Và các ông ăn chay là để chờ đợi ngày chàng rể trở lại (x. Cv 14,1-3).
“BAO LÂU TÂN LANG CÒN Ở VỚI HỌ, THÌ HỌ KHÔNG THỂ ĂN CHAY ĐƯỢC”
Đức Giêsu đưa ra hình ảnh tiệc cưới để trả lời. Lẽ dĩ nhiên khách dự tiệc cưới không thể ăn chay khi chàng rể còn ở với họ, đó là điều hợp lý.
Nhưng ở đây, Ngài còn muốn nói đến một điều sâu xa hơn, Ngài muốn xác nhận với họ Ngài là Đấng Cứu Thế, là chàng rể trong tiệc cưới mà các ngôn sứ và Tiên tri đã loan báo, và đặc biệt là Hoàng tử trong tiệc cưới Nước Trời.
Nếu họ ăn chay để tỏ lòng sám hối và chờ mong Đấng Cứu Thế, thì khi Đấng Cứu Thế đến, họ không cần phải ăn chay. Đức Giêsu chính là Đấng cứu thế, Ngài là chàng rể trong dụ ngôn, các môn đệ của Ngài là những khách dự tiệc cưới, như vậy các môn đệ không thể ăn chay.
VẤN ĐỀ ĐẶT RA:
Nhưng vấn đề chủ chốt ở đây, người Pharisêu và môn đệ Gioan có công nhận Ngài là Đấng Cứu Thế không?
Thưa: không. Vì nếu họ công nhận Ngài là Đấng Cứu Thế thì bản thân họ cũng không ăn chay như vậy, vì đã có Đấng Cứu thế rồi.
Khổ nỗi, vì họ không công nhận Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế nên họ ăn chay tích cực để tỏ cho mọi người biết họ là những con người đạo đức, đang mong chờ Đấng Cứu thế đến, trong khi họ đã loại bỏ chính Đấng Cứu Thế.
“NHƯNG SẼ ĐẾN NGÀY TÂN LANG BỊ ĐEM ĐI, BẤY GIỜ HỌ SẼ ĂN CHAY”.
“BỊ ĐEM ĐI”,
Đức Giêsu muốn nói đến cái chết của Ngài và sự phục sinh, lên trời, Ngài không còn ở với các môn đệ bằng xương bằng thịt nữa, mặc dù Ngài vẫn hiện diện với họ khi Ngài phán: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28, 19-20)
Khi Đức Giêsu không còn ở với các môn đệ, Ngài nói: “bấy giờ họ mới ăn chay trong ngày đó”.
Đây là lý do giải thích tại sao Giáo hội tin Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế mà Giáo hội vẫn có những ngày chay tịnh?
thưa: Lúc này ăn chay nó mang ý nghĩa: Ăn năn sám hối trở về với Chúa và mong chờ Ngày Chúa quang lâm, đến lần thứ hai, để thực hiện cuộc phán xét.
Như vậy câu trả lời của Đức Giêsu cho người Pharisêu và môn đệ Gioan nhắm vào 02 điều:
(1) LÝ DO ĂN CHAY:
Ăn chay phải có mục đích rõ ràng. Đức Giêsu cho biết lý do tại sao các môn đệ của Ngài chưa ăn chay: “Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể ăn chay, khi chàng rể còn ở với họ? Bao lâu chàng rể còn ở với họ, họ không thể ăn chay được.” Chúa Giêsu nhận Ngài chính là chàng rể, và khách dự tiệc cưới, bạn hữu của chàng rể là các môn đệ.
(2) THỜI GIAN ĂN CHAY:
Chay tịnh có lúc của nó, không phải lúc nào cũng ăn chay. Chúa Giêsu cho biết khi nào các môn đệ của Ngài sẽ ăn chay: “Nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem đi rồi, bấy giờ họ mới ăn chay trong ngày đó.”
SỰ DUNG HỢP GIỮA LUẬT TÂN ƯỚC VÀ LUẬT CỰU ƯỚC.
“KHÔNG AI LẤY VẢI MỚI MÀ VÁ ÁO CŨ, CHẲNG VẬY, MIẾNG VẢI VÁ SẼ RÚT LẠI MÀ KÉO ÁO CŨ, VÀ CHỖ RÁCH LẠI TỆ HƠN. CŨNG KHÔNG AI ĐỔ RƯỢU MỚI VÀO BẦU DA CŨ, CHẴNG VẬY, RƯỢU SẼ LÀM VỠ BẦU DA, VÀ RƯỢU ĐỔ, BẦU DA HƯ. NHƯNG RƯỢU MỚI PHẢI ĐỂ TRONG BẦU DA MỚI”..
Đức Giêsu cho môn đệ Gioan và người Pharisêu biết, không những vấn đề ăn chay mà tất cả những lời Ngài giảng dạy là đạo lý mới, nó thuộc về thời Tân ước. Nhưng muốn đón nhận đạo lý đó, cần phải có tinh thần mới.
Không thể tiếp nhận đạo lý của Đức Giêsu với một tinh thần cũ, vì nó phản tác dụng. Tinh thần cũ nó thuộc về thời Cựu ước. Người ta phải biết mở rộng tâm hồn ra, để đón nhận ánh sáng của Đức Kitô. Nếu ta cứ nhìn với một cái nhìn hẹp hòi, cứ sống với lối sống ích kỷ mà ta đã sống, thì làm sao lời của Đức Giêsu có thể đi vào và biến đổi đời ta được.
Sự không tương hợp giữa đạo lý của Đức Giêsu với lối sống hẹp hòi cố chấp, được Đức Giêsu diễn tả bằng 02 hình ảnh:
1/. HÌNH ẢNH THỨ NHẤT: VẢI MỚI MÀ VÁ VÀO ÁO CŨ.
Đức Giêsu nói, nếu làm như vậy, miếng vá mới đã vá vào sẽ kéo vải cũ, khiến chỗ rách lại càng rách thêm.
Về việc may mặc thời đó: Quần áo được dùng rất lâu, từ thế hệ này qua thế hệ khác, và thường phải được vá lại.
Một điều rất căn bản trong việc vá, là miếng vá không được phép lấy ra từ miếng vải mới dệt xong. Nếu không, miếng vá mới khi ướt sẽ co lại và kéo cho vết rách cũ to thêm. Vì vậy, khi vá người ta phải chọn miếng vải cũ hợp với quần áo cũ rách rưới.
2/. HÌNH ẢNH THỨ HAI: ĐỔ RƯỢU MỚI VÀO BẦU DA CŨ.
BẦU DA MỚI – RƯỢU MỚI.
Bầu da mới, nghĩa là bầu da còn sức đàn hồi, có thể trương nở, chứ không teo tóp hay khô queo.
Bầu da Chúa Giêsu nói ở đây chính là tâm hồn của chúng ta. Thánh Phaolô nói: “Rõ ràng anh em là bức thư của Đức Kitô… không phải viết bằng mực đen nhưng bằng Thần Khí của Thiên Chúa Hằng sống, không phải ghi trên những tấm bia bằng đá, nhưng trên những tấm bia bằng thịt, tức là lòng người” (2Cr 3,3).
Đức Giêsu dùng hình ảnh rất quen thuộc về cách chứa rượu của người Do Thái. Thời đó người ta chưa có bình đựng rượu bằng thuỷ tinh như bây giờ, nên họ thường chứa rượu trong một cái bầu làm bằng da thú.
Nếu rượu mới đổ vào bầu da cũ, rượu mới thường có nồng độ mạnh hơn, rượu lên men và thải ra lượng khí carbon độc hại, túi da sẽ rách và rượu chảy ra ngoài. Trái lại rượu mới phải chứa trong bầu da mới vì da mới có tính đàn hồi nên sẽ không bị rách.
Vậy, bầu da mới là tâm hồn mới, không phải là một tâm hồn đã chết khô mà là một tâm hồn nghèo khó, khiêm nhường, tâm hồn trong sạch và tâm hồn luôn có Chúa Thánh Thần ngự trị để luôn sống Phúc Âm trong cuộc sống đời thường đó là: từ bi, nhân hậu, tha thứ, hiền lành, thánh thiện, yêu thương, hy sinh và phục vụ tha nhân.
KẾT HỢP GIỮA MỚI – CŨ: KIỆN TOÀN CÁI CŨ TRÊN TINH THẦN CÁI MỚI:
Qua những hình ảnh trên, Chúa Giêsu muốn các môn đệ đi vào sự kết hợp thâm sâu thân tình với Thiên Chúa, thao thức kiếm tìm ý nghĩa đích thực của Tin Mừng giữa những điều luật buộc phải giữ.
“Rượu mới, bầu cũng phải mới”, cái “mới” ở đây không phá bỏ cái “cũ” nhưng đã chắt lọc từ sự tinh hoa của cái cũ. Tin Mừng của Chúa phải được đón nhận bằng tất cả lòng quảng đại và yêu mến.
Trong cuộc sống, không phải cái gì cũ cũng là xấu, trái lại kỷ niệm xưa thì đáng trân trọng, bạn cũ thì thân tình, đồ cổ thì quý.
Trái lại cũng có trang vở mới tinh khôi, thanh khiết, có con đường mới thẳng tắp, chiếc cầu mới nối liền nhịp sống hai bên bờ sông…Đó là cái mới đáng trân trọng được xây nền tảng cái cũ, được chắt lọc từ sự tinh túy của cái cũ.
Chúa Giêsu đã đến không phải để phá bỏ cái cũ nhưng kiện toàn nó và khắc lên đó một tinh thần mới, tinh thần khiêm tốn phục vụ và yêu thương trọn vẹn.
Đời sống xã hội hôm nay đang thay đổi từng ngày, vì thế Giáo Hội cũng luôn trăn trở đi tìm cách thế hữu hiệu nhất để loan báoTin Mừng hầu cho đời sống đạo có chiều sâu vững vàng và phải bén rễ vào Đức Kitô, nếu không chúng ta sẽ bị đánh bật bởi những cái mới, trào lưu sống “hời hợt, ào ào, vội vã” mà đánh mất căn tính của mình.
Giáo hội Chúa Kitô phải là giáo hội của người nghèo, luôn lắng nghe và đồng cảm với người nghèo. Sở dĩ Tin Mừng chưa được nhiều người đón nhận vì cách rao giảng của chúng ta có phần chưa phù hợp, chưa đáp ứng đủ nhu cầu tâm linh nơi con người.
TRONG BÀI ĐỌC I, Trích thư gửi tín hữu Do-thái.
Tác giả viết:
“DầU LÀ CON THIÊN CHÚA, NGƯỜI ĐÃ HỌC VÂNG PHỤC DO NHỮNG ĐAU KHỔ NGƯỜI CHỊU”.
Mở đầu Bài đọc I, tác giả viết:
“Tất cả các vị Thượng tế được chọn giữa loài người, nên được đặt lên thay cho loài người mà lo việc Chúa, để hiến dâng lễ vật và hy lễ đền tội”.
Chúa Giêsu không phải là vị Thượng tế được chọn giữa loài người, mà Ngài là Con Thiên Chúa, có nghĩa là Thượng tế từ trước muôn đời.
Tác giả viết:
“Đức Kitô không tự dành lấy quyền làm thượng tế, nhưng là Đấng đã nói với Người rằng: “Con là Con Cha, hôm nay Cha sinh ra Con”. Cũng có nơi khác Ngài phán: “Con là Tư tế đến muôn đời theo phẩm hàm Menkixêđê”.
“Khi còn sống ở đời này, Chúa Kitô đã lớn tiếng và rơi lệ dâng lời cầu xin khẩn nguyện lên Đấng có thể cứu Mình khỏi chết, và vì lòng thành kính, Người đã được nhậm lời
“TƯ TẾ ĐẾN MUÔN ĐỜI THEO PHẨM HÀM MENKIXÊĐÊ”
Độc giả có thể tự hỏi: “Tư tế đến muôn đời theo phẩm hàm Menkixêđê nghĩa là gì ?
Nhiệm vụ của Tư tế: họ được đặt lên thay cho loài người mà lo việc Chúa, để hiến dâng lễ vật và hy lễ đền tội.
THƯỢNG TẾ MENKIXÊĐÊ
Menkisêđê (tên kiểu Canaan), nghĩa là “Vua công chính” (Dt 7,2); ông là một quân vương tư tế của thành Sa-lem (tên trước đó của thành Giêrusalem) được nói tới trong Sáng thế 14,18. “Vị vua Salem” (có nghĩa là “vua bình an”) này tôn thờ Thiên Chúa tối cao El-Elyon (được đồng hóa với Thiên Chúa đích thật của Abraham) và là tư tế của Người ngay cả trước khi thành lập hàng tư tế Lêvi (của dân Israel).
Sách Sáng thế chương 14 không nói gì về tổ tiên, dòng họ, cũng như thời gian thi hành chức vụ tư tế của thượng tế Menkisêđê, như thế, chức tư tế của ông còn mãi, không bao giờ hết, tác giả thư Do thái cho biết: “ông không có cha, không có mẹ, không có gia phả, cuộc đời cũng không có khởi đầu, cũng không có kết thúc… mãi mãi ông vẫn là tư tế” (Dt 7,3).
Chức tư tế của Menkisêđê trp63i vượt hơn chức tư tế của dòng dõi Lêvi, con cháu tổ phụ Abraham, chức tư tế của họ chấm  dứt khi họ qua đời (Ds 20,24 – 28). Nhưng hình như hàng tư tế Giêrusalem sau thời lưu đày dùng dung mạo Menkisêđê để nêu lên đặc quyền tư tế, cách riêng của vị thượng tế (quyền thu thuế thập phân).
Dung mạo của Mekisêđê dần dần trở nên hình bóng của Đấng Mêsia, ông tượng trưng cho Đấng Mêsia – người được xức dầu – vừa là vua, vừa là tư tế (Tv 110,4).
Như thế, “ông (Menkisêđê) giống Con Thiên Chúa: mãi mãi ông vẫn là tư tế” (Dt 7,3).
(sưu tầm),
Như vậy khi Chúa Cha xác nhận Chúa Giêsu “Con là Tư tế đến muôn đời theo phẩm hàm Menkixêđê”, có nghĩa Chúa Giêsu là Thượng tế đến muôn đời, không phải do con người tuyển chọn mà là do chính Thiên Chúa.
Vì thế Thư do Thái nói rõ: Chúa Giêsu là Tư tế đến muôn đời theo phẩm hàm Menkixêđ là vậy, có nghĩa chức Tư tế của Chúa Giêsu sẽ vĩnh viễn.
Chúa Giêsu sẽ dâng lời cầu nguyện cho dân, và dùng chính cái chết của Ngài để cứu chuộc toàn nhân loại và hy tế của Chúa Giêsu luôn mang giá trị vĩnh viễn.
Với Bài Tin mừng hôm nay, chúng ta hãy dâng lên lời cầu nguyện sau đây:
Lạy Chúa ! Xin cho mỗi kitô hữu chúng con biết đến với mọi người bằng cung cách phục vụ khiêm tốn như Chúa Giêsu, bằng niềm hân hoan của thực khách trong đại tiệc hôn lễ, bằng nỗi khao khát hướng đến điều trọn lành.
Amen.
__________________________
Giuse Vĩnh Tâm.