Lời Chúa Thứ Bảy Tuần Xxxiii Thường Niên Năm Lẻ (25/11/2017) – (Lc 20, 27-40) – Tháng Các Linh Hồn

24/11/2017
2

“THIÊN CHÚA KHÔNG PHẢI LÀ THIÊN CHÚA CỦA KẺ CHẾT, NHƯNG CỦA KẺ SỐNG”.

BÀI ĐỌC I: 1 Mcb 6, 1-13
“Vì các tai hoạ trẫm đã gây cho Giêrusalem mà trẫm phải buồn bực mà chết”.
Trích sách Macabê quyển thứ nhất.

Trong những ngày ấy, vua Antiôcô rảo khắp các tỉnh miền bắc. Vua nghe nói tại Ba-tư có thành Êlymai nổi tiếng là giàu có và lắm vàng bạc; trong thành lại có một ngôi đền thờ lắm bảo vật, đầy những binh giáp bằng vàng, chiến bào, khiên mộc di sản của Alexanđrô, con Philipphê, vua xứ Macêđônia, là vua tiên khởi cai trị dân Hy-lạp. Vậy ông đến tìm cách chiếm lấy thành để cướp của. Nhưng ông không thành công, vì dân thành đã biết trước ý định của ông, nên đã vùng lên chống lại. Ông bỏ chạy và buồn bực lui quân trở về Babylon.

Lúc vua còn ở Ba-tư, có người đến đem tin cho vua hay toán quân của ông ở Giuđa đã bị đánh bại chạy tán loạn, và Lysia, vị tướng chỉ huy một đoàn quân hùng hậu, cũng đã phải tháo lui chạy trốn quân Do-thái; quân Do-thái lại càng mạnh thêm nhờ ở khí giới, lương thực và chiến lợi phẩm rất nhiều đã lấy được của các đoàn quân họ đánh bại. Họ đã hạ tượng thần vua đã đặt trên bàn thờ ở Giêrusalem; họ cũng đã xây thành đắp luỹ cao như trước chung quanh Đền thờ và chung quanh thành Bethsura.

Nghe tin ấy, nhà vua khiếp đảm và rất xúc động. Vua vật mình xuống giường và buồn đến lâm bệnh, (bởi vì) sự việc đã không xảy ra như vua ước muốn. Vua liệt giường nhiều ngày, càng ngày càng buồn. Và tưởng mình sắp chết, vua liền triệu tập tất cả bạn hữu lại mà nói với họ rằng: “Trẫm không còn chớp mắt được nữa và lòng trẫm tan nát vì ưu tư. Trẫm tự nghĩ: trước kia khi trẫm còn quyền thế, trẫm vui sướng và được người ta quý mến, mà giờ đây trẫm lâm cảnh buồn sầu và đau khổ biết bao! Bây giờ trẫm hồi tưởng lại các tai hoạ trẫm đã gây cho Giêru-salem: trẫm đã chiếm đoạt các chén bằng vàng bạc tại đó, và đã ra lệnh tiêu diệt dân Giuđêa cách vô cớ. Trẫm nhìn nhận là vì các việc ấy mà phải khốn khổ như thế này, mà giờ đây trẫm phải buồn bực mà chết nơi đất khách quê người”.

Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 9, 2-3. 4 và 6. 16b và 19
Đáp: Lạy Chúa, con mừng rỡ vì ơn Ngài cứu độ (x. c. 16a).

1) Lạy Chúa, con sẽ ca tụng Chúa hết lòng, con sẽ kể ra mọi điều lạ lùng của Chúa. Con sẽ mừng rỡ hân hoan trong Chúa, con sẽ đàn ca danh Ngài, lạy Đấng Tối Cao. – Đáp.

2) Vì quân thù của con đã tháo lui, chúng chạy trốn và vong mạng trước thiên nhan Chúa. Chúa trách phạt chư dân, diệt vong đứa ác, bôi nhoà tên tuổi chúng tới muôn đời. – Đáp.

3) Người chư dân rơi chìm xuống hố mà họ đã đào, chân họ mắc vào cạm bẫy mà họ đã che. Vì kẻ cơ bần không bị đời đời quên bỏ, hy vọng người đau khổ không mãi mãi tiêu tan. – Đáp.

ALLELUIA:
Pl 2, 15-16 – Anh em hãy tích trữ lời ban sự sống, anh em hãy chiếu sáng như những vì sao ở giữa thế gian. – Alleluia.

BÀI TIN MỪNG: Lc 20, 27-40
“Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng của kẻ sống”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, có mấy người thuộc phái Sađốc, là những người chối không tin có sự sống lại, đến gần Chúa Giêsu hỏi Người rằng: “Thưa Thầy, Môsê đã viết cho chúng tôi: nếu ai có một người anh cưới vợ, rồi chết đi mà không có con, thì người em phải cưới người vợ đó để anh mình có kẻ nối dòng. Vậy có bảy anh em: người thứ nhất cưới vợ, rồi chết mà không có con. Người kế tiếp cưới vợ goá đó, rồi cũng chết không con. Người thứ ba cũng cưới người vợ goá đó. Và tất cả bảy người đều cưới như vậy và đều chết mà không để lại người con nào. Sau cùng người thiếu phụ đó cũng chết. Vậy đến ngày sống lại, người đàn bà đó sẽ là vợ ai trong các người ấy, vì tất cả bảy người đều lấy người ấy làm vợ?”

Chúa Giêsu trả lời rằng: “Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, song những ai sẽ xét đáng được dự phần đời sau và được sống lại từ cõi chết, thì sẽ không cưới vợ lấy chồng; họ sẽ không thể chết nữa, vì họ giống như thiên thần, họ là con cái Thiên Chúa: vì họ là con cái của sự sống lại. Về vấn đề kẻ chết sống lại, thì Môsê trong đoạn nói về Bụi gai, khi ông gọi Chúa là Thiên Chúa Abraham, Thiên Chúa Isaac, và Thiên Chúa Giacóp. Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là của kẻ sống, vì mọi người đều sống cho Chúa”.

Bấy giờ có mấy luật sĩ lên tiếng thưa Người rằng: “Lạy thầy, Thầy dậy đúng lắm”. Và họ không dám hỏi Người điều gì nữa.

Đó là lời Chúa.
________________________

GIỚI THIÊU CÁC BÀI ĐỌC:

TRONG BÀI ĐỌC I Trích sách Macabê quyển thứ nhất, vua Antiochus hối hận về những việc làm gian ác đã gây ra cho người Do-thái trong những ngày cuối đời, khi nhà vua phải đương đầu với những thất bại liên tiếp, bệnh tật, và sự chết.

TRONG BÀI TIN MỪNG theo thánh Luca, những người Sadducees (Sađốc) muốn chứng minh không có sự sống lại, nên họ đã dựng nên một câu truyện giả sử để hỏi thử Chúa. Ngài trả lời Nhóm Sadducees về sự sống lại và sửa sai niềm tin của họ.

(theo Lm. Anthony Đinh Minh Tiên, OP)

Chúng ta bắt đầu bước vào Bài Tin mừng:
___________________________

BÀI CHIA SẺ (Lc 20, 27-40).

BỐI CẢNH BÀI TIN MỪNG:

Hôm nay thứ Bảy tuần XXXIII Thường niên, Phụng vụ đưa chúng ta trở lại Chương 20 phúc âm Luca.

Chương 20 cho ta thấy Chúa Giêsu đã vào Giêrusalem và Ngài thực hiện sứ vụ loan báo Tin mừng tại đây.

Không như khi còn ở Galilê, Chúa Giêsu chỉ đối mặt với nhóm Pharisiêu và kinh sư.

Tại Giêrusalem này, Ngài sẽ phải đối mặt với tất cả các nhóm tôn giáo Do thái còn lại như Thượng tế, kỳ lão, Sađóc,….đây là các nhóm “sừng sỏ”, như vậy các cuộc tranh luận sẽ bùng nổ dữ dội và có chiều sâu, chứ không còn mấy cái luật lặt vặt về ngày Sabbat hay ô uế như hồi còn ở Galilê.

Bài Tin mừng hôm nay, Luca tường thuật cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và nhóm Sađốc về việc sống lại.

Luca viết về nhóm này như sau:

“KHI ẤY, CÓ MẤY NGƯỜI THUỘC PHÁI SAĐỐC, LÀ NHỮNG NGƯỜI CHỐI KHÔNG TIN CÓ SỰ SỐNG LẠI” (Lc 20, 27).

Như vậy nhóm Sađốc là nhóm không những không tin mà còn từ chối có sự sống lại. Đây là nét đặc biệt của nhóm này, trong khi các nhóm khác như Pharisiêu thì lại tin.

Tại sao có sự khác biệt này?

Thưa vì nhóm Sađốc chỉ chấp nhận Bộ Ngũ thư trong Cựu ước. Đối với họ bộ Kinh Thánh chỉ gồm 5 quyển đầu tiên (tức là Bộ Ngũ thư);

Bộ Ngũ Thư gồm 5 cuốn: Sách Sáng Thế – Sách Xuất Hành – Sách Lêvi – Sách Dân Số – và Sách Đệ Nhị Luật. Họ không chấp nhận các sách về sau, tức Sách Ngôn sứ và các Thư văn khác.

Vì nghĩ rằng niềm tin vào sự sống lại không được nói đến trong Bộ Ngũ thư, nên họ cho đó là chuyện mới mẻ người ta thêm vào sau này (sách Macabê), chứ không đặt cơ sở trên mặc khải của Thiên Chúa cho ông Mô-sê.

Cuộc tranh luận được dựa trên một tiền đề của Luật Môsê, đó là:

“Thưa Thầy, Môsê đã viết cho chúng tôi: nếu ai có một người anh cưới vợ, rồi chết đi mà không có con, thì người em phải cưới người vợ đó để anh mình có kẻ nối dòng” (Lc 20, 28).

Dựa trên tiền đề này họ dựng nên một câu truyện có vẻ hoang tưởng nhưng vẫn hợp luật: Đó là 7 anh em cùng lấy một người đàn bà làm vợ vì muốn có con nối dõi cho người anh cả.

Họ đặt cho Chúa Giêsu một vấn nạn:

Nếu có sự sống lại, “Vậy đến ngày sống lại, người đàn bà đó sẽ là vợ ai trong các người ấy, vì tất cả bảy người đều lấy người ấy làm vợ?” (Lc 20, 33).

Một câu hỏi thật hóc búa, không dễ trả lời.

Bài Tin mừng này ta đã nghe rất nhiều lần trong đời, những có lẽ chỉ đọc thoáng qua mà không đi sâu vào ngõ ngách của nó.

Câu hỏi của người Sađốc có 2 điểm mà ta cần chú ý:

1/. ĐIỂM THỨ NHẤT:

TRONG TIỀM THỨC HỌ VẪN TIN CÓ SỰ SỐNG LẠI, mặc dù bên ngoài họ cố tình chối bỏ nó.

Nếu trong tiềm thức họ không tin có sự sống lại, thì họ không thể đặt ra câu truyện và câu hỏi này.

Niềm tin có sự sống lại, còn áp dụng cho tất cả mọi người tin hay không tin Chúa Giêsu, kể cả người vô thần trên lý thuyết.

Ai cũng tin rằng: CHẾT KHÔNG PHẢI LÀ HẾT.

Vì nếu chết là hết thì cuộc đời này sẽ thật phi lý.

Cố gắng để làm gì? Phấn đấu để làm gì? Tích đức phòng thiện để làm gì để rồi khi chết đi sẽ mất tất cả. Cần gì phải làm người tử tế, cứ vơ vét cho đã, cứ sống ăn chơi hưởng lạc thú cho thoả mãn. Vì khi chết là hết thì cần gì làm người tử tế cho uổng công, phí cả một đời.

Chính ông Hồ Chí Minh, một người vô thần, một nhà Cộng sản, ông vẫn tin có sự sống lại.

Trong Bản Di chúc, ông Hồ đã viết như sau:

“tôi viết sẵn và để lại mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước và đồng chí trong Đảng khỏi cảm thấy đột ngột”.

Nếu ông Hồ Chí Minh không tin có sự sống lại, thì việc ông đi tìm Các Mác, Lênin thật “mắc cười”. Biết tìm các cụ đó ở “mô”, nếu các cụ đó không sống lại thì đi tìm chỉ mất công.

Đúng là “rảnh rỗi”.

Như vậy NIỀM TIN CÓ SỰ SỐNG LẠI vẫn hình thành trong ký ức con người từ xưa đến nay, mặc dù bên ngoài miệng họ vẫn cố đóng kịch để chối bỏ nó.

Ta có thể khẳng định : KHÔNG CÓ NGƯỜI VÔ THẦN TRÊN LÝ THUYẾT, mà chỉ có người vô thần trong thực hành, đó là loại VÔ THẦN NỬA MÙA. Tức trong thâm tâm họ vẫn có niềm tin tôn giáo, nhưng trong cuộc sống họ thích sống buông thả như không có Thiên Chúa.

2/. ĐIỂM THỨ HAI: QUAN NIỆM SAI LẦM VỀ ĐỜI SAU.

Như vậy: Không phải người Sađốc không tin có sự sống lại, nhưng họ đã quan niệm rất sai lầm về cuộc sống mai sau đó.

Người Sađốc quan niệm: DƯƠNG SAO ÂM VẬY.

Có nghĩa ở cõi dương, thế giới người sống, người ta dựng vợ gả chồng để có con nối dõi, bảo tồn nòi giống, thì ở cõi âm, thế giới người chết, người ta cũng dựng vợ gả chồng như vậy.

Ngay ngày nay, quan niệm đó cũng trở thành phổ biến.

Nếu một người khi còn sống thích nhà lầu xe hơi, thích tiền bạc, thích chơi facebook, thì người ta sẽ mua hàng mã ngôi nhà biệt thự sang trọng, tiền âm phủ, chiếc xe hơi kiểu dáng bắt mắt, chiếc máy tính cao cấp rồi họ đốt để gửi cho người thân ở thế giới bên kia.

Tất cả đều bắt nguồn từ quan niệm DƯƠNG SAO ÂM VẬY.

Trong phần trả lời của Chúa Giêsu, Ngài không nhắm vào niềm tin không có sự sống lại của người Sađốc, mà Ngài chỉ nhắm vào quan niệm sai lầm về sự sống lại của họ.

Luca viết: “Họ sẽ không cưới vợ lấy chồng; họ sẽ không thể chết nữa, vì họ giống như thiên thần, họ là con cái Thiên Chúa: vì họ là con cái của sự sống lại” (Lc 20, 34).

GIỐNG THIÊN THẦN, tức là loài thần linh, làm sao có quan niệm “dương sao âm vậy”.

Chính người Sađốc cũng thoả mãn câu trả lời của Chúa Giêsu. Luca viết: “”Thưa Thầy, Thầy nói đúng lắm.” (Lc 20, 39).

Như vậy cuộc tranh luận đã giải quyết xong.

Đó là bối cảnh Bài Tin mừng hôm nay.

Chúng ta bắt đầu bước vào bài Tin mừng:
_____________________________

“KHI ẤY, CÓ MẤY NGƯỜI THUỘC PHÁI SAĐỐC, LÀ NHỮNG NGƯờI CHỐI KHÔNG TIN CÓ SỰ SỐNG LẠI, ĐẾN GẦN CHÚA GIÊSU HỎI NGƯỜI RẰNG”

PHÁI SAĐỐC – KHÔNG TIN CÓ SỰ SỐNG LẠI.

Những người theo phái Sađốc là những kẻ thuộc hàng quí tộc và tư tế. Danh xưng Sađốc phát sinh từ tên riêng của vị thượng tế trong đền thờ thời vua Salômôn. Bộ luật duy nhất mà những người thuộc phái Sađốc chấp nhận là bộ Tora của Môisen, được ghi lại trong năm cuốn sách đầu tiên của Kinh Thánh mà thôi.

Nhóm Sadoc (Xa-đốc) là một đảng phái tôn giáo bảo thủ. Đối với họ bộ Kinh Thánh chỉ gồm 5 quyển đầu tiên (tức là Bộ Ngũ thư);

“THƯA THẦY, MÔSÊ ĐÃ VIẾT CHO CHÚNG TÔI: NẾU AI CÓ MỘT NGƯỜI ANH CƯỚI VỢ, RỒI CHẾT ĐI MÀ KHÔNG CÓ CON, THÌ NGƯỜI EM PHẢI CƯỚI NGƯỜI VỢ GOÁ ĐÓ, ĐỂ CHO ANH MÌNH CÓ KẺ NỐI GIÒNG.

VẬY CÓ BẢY ANH EM: NGƯỜI THỨ NHẤT CƯỚI VỢ RỒI CHẾT MÀ KHÔNG CÓ CON. NGƯỜI KẾ TIẾP CƯỚI VỢ GOÁ ĐÓ, RỒI CŨNG CHẾT KHÔNG CON. NGƯỜI THỨ BA CŨNG CƯỚI NGƯỜI VỢ GOÁ ĐÓ.

VÀ TẤT CẢ BẢY NGƯỜI ĐỀU CƯỚI NHƯ VẬY VÀ ĐỀU CHẾT MÀ KHÔNG ĐỂ LẠI NGƯỜI CON NÀO; SAU CÙNG NGƯỜI THIẾU PHỤ ĐÓ CŨNG CHẾT.

VẬY ĐẾN NGÀY SỐNG LẠI, NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐÓ SẼ LÀ VỢ AI TRONG CÁC NGƯỜI ẤY? VÌ TẤT CẢ BẢY NGƯỜI ĐỀU LẤY NGƯỜI ẤY LÀM VỢ”.

Bắt đầu bước vào cuộc tranh luận, Phái Sađôc đã trưng dẫn một luật Môsê được ghi trong sách Đệ Nhị Luật (Đnl 25, 5-10)

Đó là luật “HÔN NHÂN VỚI ANH EM CHỒNG”.

Luật nói rõ, trong trường hợp một người nào đó chết đi mà không có con trai (không kể con gái), thì một anh hoặc người em của người đã mất “bắt buộc” phải lấy người đàn bà góa đó làm vợ, mà luật cho đó là một bổn phận phải chu toàn. Mục đích để duy trì con cái cho người đã mất.

Nếu người anh hay em của người đã mất không bằng lòng, thì anh ta sẽ chịu một hình phạt ghê gớm, nếu người đàn bà góa đó phản ứng. Trong trường hợp người đàn bà không phản ứng sẽ chẳng có điều gì xảy ra.

Dựa vào Luật Môsê, phái Sađôc đã đưa ra câu truyện

7 anh em một nhà kia cùng lấy một người phụ nữ làm vợ nhưng đều không có con. Các cuộc hôn phối này đều hợp pháp dưới luật, mặc dù hơi khôi hài.

Phái Sađốc đặt vấn đề:

“VẬY ĐẾN NGÀY SỐNG LẠI, NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐÓ SẼ LÀ VỢ AI TRONG CÁC NGƯỜI ẤY? VÌ TẤT CẢ BẢY NGƯỜI ĐỀU LẤY NGƯỜI ẤY LÀM VỢ”.

Vấn đề này thật nan giải và là sự thách đố cho những ai tin có sự sống lại, vì nếu có sự sống lại thì người đàn bà đó sẽ là vợ ai, và bà ta không thể có 7 người chồng cùng lúc trong cuộc sống mai sau.

Nếu không giải quyết được, thì nó cũng đồng nghĩa với việc chủ trương không có sự sống lại là đúng.

“CHÚA GIÊSU TRẢ LỜI HỌ RẰNG: “CON CÁI ĐỜI NÀY CƯỚI VỢ, LẤY CHỒNG, SONG NHỮNG AI SẼ XÉT ĐÁNG ĐƯỢC DỰ PHẦN ĐỜI SAU VÀ ĐƯỢC SỐNG LẠI TỪ CÕI CHẾT, THÌ SẼ KHÔNG CƯỚI VỢ LẤY CHỒNG. HỌ SẼ KHÔNG THỂ CHẾT NỮA: VÌ HỌ GIỐNG NHƯ THIÊN THẦN”

Chúa Giêsu đã đưa quan niệm: “CƯỚI VỢ LẤY CHỒNG” cho cuộc sống này và cuộc sống mai sau. Quan niệm đó trong hai cuộc sống hoàn toàn khác nhau.

+ Ở ĐỜI NÀY:

Người ta cưới vợ lấy chồng với nhiều mục đích, trong đó có mục đích DUY TRÌ NÒI GIỐNG

Vì con người ai cũng phải chết, và để duy trì nòi giống nên người ta mới phải cưới vợ lấy chồng.

+ Ở ĐỜI SAU:

Chúa Giêsu nói rõ: “SẼ KHÔNG CƯỚI VỢ LẤY CHỒNG. HỌ SẼ KHÔNG THỂ CHẾT NỮA”

Chính vì không chết nữa nên không cần phải duy trì nòi giống, do đó họ không cần cưới vợ lấy chồng.

Nhưng nếu họ muốn cưới vợ lấy chồng được không?

Thưa không, vì Chúa Giêsu nói rõ: “HỌ GIỐNG NHƯ THIÊN THẦN”, có nghĩa họ thuộc về thế giới thần linh, thiêng liêng, bất tử.

“NHỮNG AI SẼ XÉT ĐÁNG ĐƯỢC DỰ PHẦN ĐỜI SAU”.

Nhưng có phải ai cũng như thiên thần không?

Thưa không, không phải khi sống lại ai cũng như thiên thần mà Chúa Giêsu nói rõ: “NHỮNG AI SẼ XÉT ĐÁNG ĐƯỢC DỰ PHẦN ĐỜI SAU”.

Có nghĩa trong ngày Cánh chung, mọi người sẽ được sống lại để hợp thể xác – hồn ra Toà Chúa phán xét lần thứ hai, chỉ những ai được Chúa thưởng công, được chúc phúc họ mới trở nên giống như thiên thần, còn những kẻ dữ sẽ bị luận phạt trầm luân trong Hoả ngục, họ cũng giống thiên thần, nhưng thiên thần dữ, tức ma quỷ.

Như vậy, Chúa Giêsu đã phá cái bẫy của nhóm Sađôc dễ dàng và mạc khải cho họ hiểu cuộc sống mai sau thế nào.

Nhóm Sađôc luôn mang quan niệm: DƯƠNG SAO – ÂM VẬY, tức cuộc sống dương gian thế nào thì cuộc sống mai sau cũng vậy, vậy cuộc sống mai sau có khác gì cuộc sống này kéo dài. Đây là quan niệm rất sai lầm.

Chúa Giêsu đả phá quan niệm này, và Ngài nói: cuộc sống mai sau là cuộc sống thần linh, người ta sẽ giống như các thiên thần.

“VỀ VẤN ĐỀ KẺ CHẾT SỐNG LẠI, THÌ MÔSÊ ĐÃ CHO BIẾT ĐIỀU ẤY TRONG ĐOẠN NÓI VỀ BỤI GAI, KHI ÔNG GỌI CHÚA LÀ THIÊN CHÚA ABRAHAM, THIÊN CHÚA ISAAC, VÀ THIÊN CHÚA GIACÓP.

NHƯNG THIÊN CHÚA KHÔNG PHẢI LÀ THIÊN CHÚA CỦA KẺ CHẾT, MÀ LÀ CỦA KẺ SỐNG. VÌ MỌI NGƯỜI ĐỀU SỐNG CHO CHÚA”.

“CHÚA LÀ THIÊN CHÚA ABRAHAM, THIÊN CHÚA ISAAC, VÀ THIÊN CHÚA GIACÓP”

Người Sadoc chỉ chấp nhận Bộ Ngũ thư, Chúa Giêsu cũng dựa vào sách Xuất hành trong Bộ Ngũ thư để nói với họ. Ông Môsê gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Áp-ra-ham, Thiên Chúa của tổ phụ I-sa-ác, và Thiên Chúa của tổ phụ Gia-cóp.

Vấn đề đặt ra là: Tổ phụ Áp-ra-ham, I-sa-ác, Gia-cóp có sống lại không?

Nếu các tổ phụ đó không sống lại (= chết) thì Thiên Chúa mà ông Môsê gọi, sẽ là Thiên Chúa của kẻ chết, Thiên Chúa như vậy không phải là Thiên Chúa.

Dân Israel luôn xác tín Áp-ra-ham, I-sa-ac, Gia-cóp tổ phụ của họ vẫn hiện diện trong lòng dân tộc, không phải chỉ như những kỷ niệm không bao giờ quên, nhưng với tất cả uy quyền của sự sống trong Thiên Chúa, vẫn đang chở che và cầu phúc cho con cháu qua muôn thế hệ.

Cách giải đáp của Chúa Giêsu cho vấn đề có sự sống lại, là vì theo mạc khải Thiên Chúa được Môsê kêu cầu là “Thiên Chúa của Abraham, của Isaac, của Giacob”, và theo Đức Giêsu thì điều gì gắn liền với Thiên Chúa thì cũng mang sự sống vĩnh hằng của Người.

THIÊN CHÚA KHÔNG PHẢI LÀ THIÊN CHÚA CỦA KẺ CHẾT, MÀ LÀ CỦA KẺ SỐNG, VÌ MỌI NGƯỜI ĐỀU SỐNG CHO CHÚA.

Nếu người Sađốc tin “Thiên Chúa là Chúa của kẻ sống,” thì họ phải tin các tổ phụ Abraham, Isaac, và Jacob vẫn đang sống; nói cách khác, họ phải tin có sự sống lại.

“VÌ MỌI NGƯỜI ĐỀU SỐNG CHO CHÚA”

Chúa Giêsu khẳng định cho người Sađôc biết, đối với Thiên Chúa tất cả đều đang sống, cái chết ở đời này, từ nay không còn được hiểu là sự chấm dứt, trái lại nó là cách cửa mở ra đời sống mới. Sự sống chỉ thay đổi chứ không mất đi, chết tức là bước vào cuộc sống mới.

Nhưng sống lại để làm gì?

Chúa Giêsu trả lời dứt khoát: “MỌI NGƯỜI ĐỀU SỐNG CHO CHÚA”,

có nghĩa từ nay không ai được sống cho mình, không ai được sống cho những dục vọng ích kỷ thấp hèn nữa mà là sống cho Chúa, vì sự sống của ta là do Chúa ban, Ngài là THIÊN CHÚA CỦA KẺ SỐNG

Mỗi người chúng ta từ khi được tạo dựng trong lòng mẹ, ta sẽ hiện hữu vĩnh viễn trước mặt Thiên Chúa. Ta được sinh ra ở trần gian này là để đi về với Thiên Chúa là Đấng vĩnh cửu, và khi bước qua ngưỡng cửa sự chết, ta sẽ mở ra cánh cửa để đi về cõi sống vĩnh hằng.

Sự sống chỉ thay đổi chứ không mất đi, có nghĩa thay đổi từ dạng sống này sang dạng sống khác.

“BẤY GIỜ CÓ MẤY LUẬT SĨ LÊN TIẾNG THƯA NGƯỜI RẰNG: “LẠY THẦY, THẦY DẬY ĐÚNG LẮM”. VÀ HỌ KHÔNG DÁM HỎI NGƯỜI ĐIỀU GÌ NỮA”.

Như vậy Luca cho ta biết trong cuộc tranh luận này không chỉ có người Sađốc mà còn có nhóm Luật sĩ. Nhóm Luật sĩ tham dự với tư cách dự thính, “quan sát viên” mà không có ý kiến gì, họ không tham gia.

Như ta biết nhóm Luật sĩ không ưa gì nhóm Sađốc, đối với họ, nhóm Sađốc là những con người “lập dị”, tách biệt, cố tình tách ra khỏi các quan niệm chung của các nhóm tôn giáo.

Như vậy khi nghe Chúa Giêsu trả lời, họ đã tán đồng ngay. Họ còn công nhận Chúa Giêsu dạy quá đúng.

Như vậy Chúa Giêsu đã mạc khải về cuộc sống mai sau cho cả 2 nhóm: Sađốc và Luật sĩ. Và Ngài cũng mạc khải cho cả chúng ta nữa.

Amen.
__________________________
Giuse Nguyễn Viết Tâm.